Chú giải Pháp Cú · Kệ 195–196 · Dhp 195–196

Tích Bảo Tháp Của Đấng Kassapa

Kassapadasabalassa suvaṇṇacetiyavatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 195–196 Kinh Pháp Cú, phẩm Phật, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 195-196)

195. “Pūjārahe pūjayato,
Buddhe yadi va sāvake;
Papañcasamatikkante,
tiṇṇasokapariddave.”
196. “Te tādise pūjayato,
Nibbute akutobhaye;
Na sakkā puññaṃ
Saṅkhātuṃ, imettamapi kenaci.”

“Cúng dường bậc đáng cúng,
Chư Phật hoặc đệ tử,
Các bậc vượt hý luận,
Đoạn diệt mọi sầu bi.”
“Cúng dường bậc như vậy,
Tịch tịnh, không sợ hãi,
Các công đức như vậy,
Không ai ước lường được.”
(Ngài HT Minh Châu)

Kệ Pháp Cú nầy được Đức Bổn Sư thuyết ra khi Ngài du hành, đề cập đến Bảo Tháp của Đức Chánh Đẳng Giác Kassapa.

Một thời, Đức Thế Tôn cùng hội chúng Tăng Tỳ Khưu 500 vị, khởi sự du hành, rời khỏi kinh thành Sāvatthī đi đến thành Sàrànasì. Tuần tự du hành, Ngài trú tại một ngôi đến gần làng Todeyyagàma ở giữa đường. Đức Thế Tôn ngự tại ngôi đền ấy và Ngài phán bảo vị Dhammabhandàgàrika (Vị Thủ Kho Chánh Pháp, tức là Ngài Ānanda) rằng: “Nầy Ānanda! Hãy gọi người đang cày ruộng đến đây”

Bà la môn ấy đi đến nơi Phật ngự, ông không đảnh lễ Đức Đạo Sư mà lại đảnh lễ ngôi đền, rồi bước đứng sang một bên, Đức Thế Tôn phán hỏi rằng:

- Nầy Bà la môn! Ngươi nghĩ rằng: Nơi nầy là nơi nào?

- Thưa Ngài Sa môn Gotama! Tôi đảnh lễ ngôi đền nầy vì nghĩ rằng là bảo tháp theo tục lệ của chúng tôi.

Đức Thế Tôn khiến tâm của Bà là môn ấy hoan hỷ, Ngài phán:

- Lành thay! Nầy Bà la môn, ngươi đảnh lễ nơi nầy là tốt đẹp lắm. Chư Tỳ Khưu nghe vậy, khởi lên sự hoài nghi rằng:

- Vì lẽ nào Đức Thế Tôn làm cho Bà la môn ấy hoan hỷ như thế.

Để đoạn nghi cho Tăng chúng, bấy giờ Đức Thế Tôn liền thuyết giảng bài kinh Ghātikāra (trong Trung Bộ Kinh). Rồi Ngài dùng thần thông hóa hiện ngôi Bảo Tháp vàng của Đấng Thập Lực Kassapa cao 1 do tuần, ngôi Bảo tháp vàng ấy lơ lửng giữa hư không, đại chúng chiêm ngưỡng Bảo Tháp như là Bảo Tháp đang đứng trước mặt mình.

Ngài phán dạy Bà la môn ấy rằng:

- Nầy Bà la môn! Sự cúng dường đến Bậc đáng cúng dường loại Bảo Tháp như thế nầy thì rất xứng đáng.

Rồi Ngài tuyên thuyết về bốn hạng người xứng đáng được lập tháp thờ là: Đấng Chánh Đẳng Giác, Đấng Độc Giác Phật, Bậc Ưng Cúng A La Hán và Vua Chuyển Luân Vương. Theo ý nghĩa mà Ngài thuyết trong Kinh Đại Bát Níp Bàn. Rồi Ngài thuyết giảng chi tiết về ba loại Bảo Tháp là Sāricatīya – Uddisacetīya – Paribhogacetīya.

Sau cùng, Ngài thuyết lên kệ ngôn rằng:

195. “Pūjārahe pūjayato,
Buddhe yadi va sāvake;
Papañcasamatikkante,
tiṇṇasokapariddave.”
196. “Te tādise pūjayato,
Nibbute akutobhaye;
Na sakkā puññaṃ
Saṅkhātuṃ, imettamapi
kenaci.”

“Cúng dường bậc đáng cúng,
Chư Phật hoặc đệ tử,
Các bậc vượt hý luận,
Đoạn diệt mọi sầu bi.”
“Cúng dường bậc như vậy,
Tịch tịnh, không sợ hãi,
Các công đức như vậy,
Không ai ước lường được.”
(Ngài HT Minh Châu)

195-196. Người tôn kính những bậc xứng đáng thọ lãnh sự tôn kinh, chư Phật hay chư Thinh Văn đệ tự, những bậc đã khắc phục mọi chướng ngại và đã thoát khỏi mọi phiền não âu sầu - công đức của người tôn kính cúng dường bậc an tịnh, bậc vô úy thật là vô lượng.

CHÚ GIẢI:

Người dâng cúng dường gọi trong kệ ngôn nầy là Pūjārahe pūjayato. Câu nói của người đáng cúng dường đến Bậc đáng cúng dường nghĩa là: Người cúng dường bằng cách như đảnh lễ… hoặc bằng tứ vật dụng.

Đức Thế Tôn thuyết giảng người đáng cúng dường là Buddha, nghĩa là chư Phật… là bậc Chánh Đẳng Giác.

Tadi tức là yadivā. Có lời giải rằng: Attavā tức là vậy thì. Câu nói chư Phật Độc Giác mà Ngài phán dạy trong kệ ngôn nầy (hoặc là chư Thinh Văn Giác đệ tử). Câu nói người đã vượt qua Pháp chướng ngại, nghĩa là các pháp chướng ngại tức là ái, tà kiến, mạn mà các Ngài đã vượt qua. Câu nói: Người đã thoát khỏi sầu muộn tức là bậc không còn sầu muộn, nghĩa là đã vượt qua cả hai thức. Bậc đáng cúng dường mà Đức Thế Tôn đã phán dạy trong câu Vidasana. Câu nói: Các Bậc đáng cúng dường như Đức Phật…Câu nói: Người như vậy tức là người có đầy đủ ân đức như đã nói trên. Câu nói: Người đã Níp Bàn. Nghĩa là đã Níp Bàn do sự đã dập tắt phiền não như ái dục…

Câu nói: Không còn nguy hiểm bất cứ ở đâu từ nơi sanh hữu hay cảnh hữu đối với các Bậc Thánh, là bậc đáng cúng dường. Do đó các Ngài mới không còn gọi là không còn sự nguy hiểm bất cứ ở nơi đâu. Đó là Bậc không còn nguy hiểm ở bất cứ nơi nào.

Câu nói: Không ai có thể ước lượng quả phước, nghĩa là không ai có thể kể được số lượng. Nếu có câu hỏi rằng: Đếm như thế nào? Thì hãy đáp rằng: Không ai có thể đếm được quả phước nầy là có được bao nhiêu đây, có được khoảng chừng nầy, quả phước kia có số lượng khoảng chừng bấy nhiêu.

Chữ Api ghép trong câu Kenaci. Nghĩa là: Không có người nào hoặc bằng cách nào đếm được.

Trong hai câu nầy, câu nói NGƯỜI, tức là người có như Phạm Thiên.

Câu nói: Cách đếm, tức là đếm bằng ba cách: Cách ước lượng, cách cân và cách đong. Cách ước lượng là theo như thế nầy: Khoảng chừng bao nhiêu đây, gọi là ước lượng. Cách làm cho ngang bằng gọi là cân. Cách làm cho đầy gọi là đong.

Không ai có thể có được quả phước của người cúng dường đến bậc đáng cúng dường như thế nào, tức là cúng dường đến Đức Phật… ba cách đếm nầy không thể đếm được quả dị thục thiện. Bởi vì nó có quá nhiều, có vô số lượng. Quả thí của người cúng dường trong hai trường hợp ra sao?

Quả phước của người cúng dường đến Đức Phật… khi Ngài còn tại tiền thì như thế. Nhưng quả phước của người cúng dường đến Đức Phật đã Níp Bàn có sự sai khác nhau chăng? Cũng không có sự sai khác nhau đâu. Vì rằng, Đức Đế Thích có nói lên kệ ngôn trong bộ Thiên Cung Sự rằng:

- “Khi Bậc Chánh Đẳng Giác còn tại tiền hay Ngài đã Níp Bàn rồi cũng thế. Nếu tâm đồng nhau thì quả thí cũng đồng nhau, vì rằng nhân tạo phước do sự tịnh tín nơi tâm, tất cả chúng sanh đều sanh về nhàn cảnh như vậy.”

Dứt kệ ngôn, Bà la môn ấy chứng đắc Pháp nhãn Dự Lưu.

Ngôi Bảo Tháp Vàng cao 1 do tuần ấy, đứng giữa hư không trọn cả 7 ngày. Đại chúng cúng dường Bảo Tháp trọn bảy ngày. Về sau, đại chúng trở lại cổ tục của mình. Ngôi Bảo Tháp đã trở về nơi cũ do Phật Lực, trên nền cẩm thạch của Bảo Tháp ở chính tại nơi ấy, đã hiện ra trở lại như xưa.

Trong hội chúng ấy có khoảng 84 ngàn chúng sanh chứng ngộ Pháp.

Dân thành điên đảo tại Ma xui
Ôm bát về không, Phật vẫn vui
Lại độ nửa ngàn cô thiếu nữ,
Có duyên, chánh tín, chẳng hề lui,
Phật ví mình như Đại Phạm thiên,
Suốt ngày toại hưởng lạc trường miên,
Có đâu bận trí vì cơn đói?
Ma chỉ chuyên lo chuyện ảo huyền!

DỨT TÍCH BẢO THÁP CỦA ĐỨC PHẬT KASSAPA

Kassapadasabalassa suvaṇṇacetiyavatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Pūjāraheti imaṃ dhammadesanaṃ satthā cārikaṃ caramāno kassapadasabalassa suvaṇṇacetiyaṃ ārabbha kathesi.

Tathāgato sāvatthito nikkhamitvā anupubbena bārāṇasiṃ gacchanto antarāmagge todeyyagāmassa samīpe mahābhikkhusaṅghaparivāro aññataraṃ devaṭṭhānaṃ sampāpuṇi. Tatra nisinno sugato dhammabhaṇḍāgārikaṃ pesetvā avidūre kasikammaṃ karontaṃ brāhmaṇaṃ pakkosāpesi. So brāhmaṇo āgantvā tathāgataṃ anabhivanditvā tameva devaṭṭhānaṃ vanditvā aṭṭhāsi. Sugatopi “imaṃ padesaṃ kinti maññasi brāhmaṇā”ti āha. Amhākaṃ paveṇiyā āgatacetiyaṭṭhānanti vandāmi, bho gotamāti. “Imaṃ ṭhānaṃ vandantena tayā sādhu kataṃ brāhmaṇā”ti sugato taṃ sampahaṃsesi. Taṃ sutvā bhikkhū “kena nu kho kāraṇena bhagavā evaṃ sampahaṃsesī”ti saṃsayaṃ sañjanesuṃ. Tato tathāgato tesaṃ saṃsayamapanetuṃ majjhimanikāye ghaṭikārasuttantaṃ (ma. ni. 2.282 ādayo) vatvā iddhānubhāvena kassapadasabalassa yojanubbedhaṃ kanakacetiyaṃ aparañca kanakacetiyaṃ ākāse nimminitvā mahājanaṃ dassetvā, “brāhmaṇa, evaṃvidhānaṃ pūjārahānaṃ pūjā yuttatarāvā”ti vatvā mahāparinibbānasutte (dī. ni. 2.206) dassitanayeneva buddhādike cattāro thūpārahe pakāsetvā sarīracetiyaṃ uddissacetiyaṃ paribhogacetiyanti tīṇi cetiyāni visesato paridīpetvā imā gāthā abhāsi –

“Pūjārahe pūjayato, buddhe yadi ca sāvake;
Papañcasamatikkante, tiṇṇasokapariddave.

“Te tādise pūjayato, nibbute akutobhaye;
Na sakkā puññaṃ saṅkhātuṃ, imettamapi kenacī”ti. (apa. thera 1.10.1-2);

Tattha pūjituṃ arahā pūjārahā, pūjituṃ yuttāti attho. Pūjārahe pūjayatoti abhivādanādīhi ca catūhi ca paccayehi pūjentassa. Pūjārahe dasseti buddhetiādinā. Buddheti sammāsambuddhe. Yadīti yadi vā, atha vāti attho. Tattha paccekabuddheti kathitaṃ hoti, sāvake ca. Papañcasamatikkanteti samatikkantataṇhādiṭṭhimānapapañce. Tiṇṇasokapariddaveti atikkantasokapariddave, ime dve atikkanteti attho. Etehi pūjārahattaṃ dassitaṃ.

Teti buddhādayo. Tādiseti vuttagahaṇavasena. Nibbuteti rāgādinibbutiyā. Natthi kutoci bhavato vā ārammaṇato vā etesaṃ bhayanti akutobhayā, te akutobhaye. Na sakkā puññaṃ saṅkhātunti puññaṃ gaṇetuṃ na sakkā. Kathanti ce? Imettamapi kenacīti imaṃ ettakaṃ, imaṃ ettakanti kenacīti apisaddo idha sambandhitabbo, kenaci puggalena mānena vā. Tattha puggalenāti tena brahmādinā. Mānenāti tividhena mānena tīraṇena dhāraṇena pūraṇena vā. Tīraṇaṃ nāma idaṃ ettakanti nayato tīraṇaṃ. Dhāraṇanti tulāya dhāraṇaṃ. Pūraṇaṃ nāma aḍḍhapasatapatthanāḷikādivasena pūraṇaṃ. Kenaci puggalena imehi tīhi mānehi buddhādike pūjayato puññaṃ vipākavasena gaṇetuṃ na sakkā pariyantarahitatoti dvīsu ṭhānesu pūjayato kiṃ dānaṃ paṭhamaṃ dharamāne buddhādī pūjayato na sakkā puññaṃ saṅkhātuṃ, puna te tādise kilesaparinibbānanimittena khandhaparinibbānena nibbutepi pūjayato na sakkā saṅkhātunti bhedā yujjanti. Tena hi vimānavatthumhi –

“Tiṭṭhante nibbute cāpi, same citte samaṃ phalaṃ;
Cetopaṇidhihetu hi, sattā gacchanti suggati”nti. (vi. va. 806);

Desanāvasāne so brāhmaṇo sotāpanno ahosīti. Yojanikaṃ kanakacetiyaṃ sattāhamākāseva aṭṭhāsi, mahantena samāgamo cāhosi, sattāhaṃ cetiyaṃ nānappakārena pūjesuṃ. Tato bhinnaladdhikānaṃ laddhibhedo jāto, buddhānubhāvena taṃ cetiyaṃ sakaṭṭhānameva gataṃ, tattheva taṃkhaṇe mahantaṃ pāsāṇacetiyaṃ ahosi. Tasmiṃ samāgame caturāsītiyā pāṇasahassānaṃ dhammābhisamayo ahosīti.

Kassapadasabalassa suvaṇṇacetiyavatthu navamaṃ.

Buddhavaggavaṇṇanā niṭṭhitā.

Cuddasamo vaggo.

Paṭhamabhāṇavāraṃ niṭṭhitaṃ.

XIV. 9. Honor to whom Honor is Due

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

195. He that renders honor to whom honor is due, whether they be the Buddhas or their disciples,
Those that have overpassed the Hindrances, those that have crossed the Sea of Sorrow,

196. He that renders honor to those that have found Nibbāna, to those that are without fear,

His merit cannot be measured by anyone.

This religious instruction was given by the Teacher while he was making a journey with reference to the Buddha Kassapa’s golden shrine.

One day the Tathāgata departed from Sāvatthi, accompanied by a large company of monks and set out for Benāres. On his way thither he came to a certain shrine near the village Todeyya. There the Happy One sat down, sent forth Ānanda, Treasurer of the Faith, and bade him summon a Brahman who was tilling the soil near by. When the Brahman came, he omitted to pay reverence to the Tathāgata, but paid reverence only to the shrine. Having so done, he stood there before the Teacher. Said the Happy One, “How do you regard this place, Brahman?” The Brahman replied, “This shrine has come down to us through generations, and that is why I reverence it. Sir Gotama.” Thereupon the Happy One praised him, saying, “In reverencing this place you have done well, Brahman.”

When the monks heard this, they entertained misgivings and said, “For what reason did the Exalted One bestow this praise?” So in order to dispel their doubt, the Tathāgata recited the Ghāṭikāra Suttanta in the Majjhima Nikāya. Then by the supernatural power of his magic, he created in the air a mountain of gold, a double, as it were, of the golden shrine of the Buddha Kassapa, a league in height. Then, pointing to the numerous company of his disciples, he said, “Brahman, it is even more fitting to render honor to men who are so deserving of honor as these.” Then, in the words of the Sutta of the Great Decease, he declared that the Buddhas and others, four in number, are worthy of shrines. Then he described in detail the three kinds of shrines: the shrine for bodily relics, the shrine for commemorative relics, and the shrine for articles used or enjoyed. So saying, he pronounced the following Stanzas,

195. He that renders honor to whom honor is due, whether they be the Buddhas or their disciples,
Those that have overpassed the Hindrances, those that have crossed the Sea of Sorrow,

196. He that renders honor to those that have found Nibbāna, to those that are without fear,
His merit cannot be measured by anyone.

At the conclusion of the lesson the Brahman attained the Fruit of Conversion.

For the space of seven days the golden shrine, a league in height, remained poised in the air. There was a great concourse of people; for the space of seven days they did honor to the shrine in all manner of ways. At that time arose the schism of the holders of schismatic views. By the supernatural power of the Buddha that shrine returned to its original place; and in that place, at that very moment, there was a great stone shrine. Eighty-four thousand living beings in that company obtained Comprehension of the Law.

  1. Text: N iii. 250-253.
  2. Majjhima, 81: ii. 45-54. Ed. note: which relates the story of Buddha Kassapa’s supporter, the potter Ghāṭikāra.
  3. Dīgha, ii. 14214-14319.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.