Chú giải Pháp Cú · Kệ 194 · Dhp 194

Tích Chư Tỳ Khưu

Sambahulabhikkhuvatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 194 Kinh Pháp Cú, phẩm Phật, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 194 ) “Sukho buddhānamuppādo, “Vui thay, Phật ra đời! Sukhā saddhammadesanā; Vui thay, Pháp được giảng! Sukhā saṅghassa sāmaggī, Vui thay, Tăng hòa hợp! Samaggānaṃ tapo sukho.” Hòa hợp tu, vui thay!”

(Ngài HT Minh Châu)

Kệ ngôn nầy được Đức Bổn Sư thuyết ra khi Ngài ngự tại Jetavana, đề cập về sự bàn luận của các vị Tỳ Khưu.

Một hôm, Chư Tỳ Khưu gồm có 500 vị, ngồi trong Giảng Đường bàn luận cùng nhau rằng:

- Nầy chư Hiền! Điều chi là an lạc trong đời nầy?

Một số cho rằng: Sự an lạc sánh với Vương quyền thì không có. Một số lại cho rằng: Sự an lạc sánh với dục thì không có. Hay có ý kiến rằng: Sự an lạc sánh với vật thực thì không có.

Nơi Hương thất với thiên nhĩ thuần tịnh siêu nhân, Đức Thế Tôn nghe được câu chuyện luận bàn ấy, Ngài nghĩ rằng:

- Đây là thời phải lẽ, Như Lai sẽ đoạn nghi cho Tăng chúng.

Từ nơi Hương Thất, Ngài ngự đến Giảng đường ngồi vào nơi được soạn sẵn, Ngài phán dạy chư Tỳ Khưu rằng:

- Nầy các Tỳ Khưu! Các ngươi đang bàn luận gì về câu chuyện?

Đang hội họp về đề tài gì?
- Bạch Thế Tôn, về câu chuyện như vậy, như vậy…

- Nầy các Tỳ Khưu! Tất cả sự an lạc ấy đều liên quan đến khổ trong vòng luân hồi cả. Chỉ có sự giáng sanh của Chư Phật, sự giảng giải Giáo Pháp, sự hòa hợp Tăng chúng là nhân an lạc trong đời.

Rồi Ngài tuyên thuyết lên kệ ngôn rằng: “Sukho buddhānamuppādo, “Vui thay, Phật ra đời! Sukhā saddhammadesanā; Vui thay, Pháp được giảng! Sukhā saṅghassa sāmaggī, Vui thay, Tăng hòa hợp! Samaggānaṃ tapo sukho.” Hòa hợp tu, vui thay!”

(Ngài HT Minh Châu)

194. Hạnh phúc thay chư Phật giáng sanh. Hạnh phúc thay Giáo Pháp cao minh. Hạnh phúc thay Tăng Già hòa hợp. Hạnh phúc thay Giới luật của người đồng tu.

CHÚ GIẢI:

Buddhānamuppādo: Chư Phật khi giáng sanh thường tế độ đại chúng thoát khỏi mọi sự trở ngại như ái… Do đó sự giáng sanh của chư Phật mới gọi là nhân đem lại an lạc. Tất cả chúng sanh đều có pháp là khổ, là sanh, là già… Sự giảng pháp của Bậc Thánh Nhân thường mang lại sự thoát ra khỏi khổ như khổ sanh, khổ già…Do đó, sự giảng pháp của bậc Chân Nhân mới gọi là nhân đem lại an lạc.

Là người có tâm đồng nhau gọi là sự hòa hợp. Sự hòa hợp ấy là nhân đem lại an lạc.

Lại nữa, sự học Phật ngôn hay sự thọ trì hạnh đầu đà hoặc sự hành Sa môn Pháp của người hòa hợp, tức là người có tâm đồng nhau là nhân đem lại an lạc. Do vậy, Bậc Đạo Sư mới phán dạy rằng:

- Nầy chư Tỳ Khưu! Ngày nầy các người còn hội hợp cùng nhau, cùng đồng hành sự thì ngày ấy chư Tỳ Khưu Tăng chúng chỉ có cường thịnh, không bị suy giảm.

Dứt pháp thoại có rất nhiều Tỳ Khưu chứng ngộ Vô Lậu quả Giải thoát. Pháp thoại mang lại nhiều lợi ích cho đại chúng.

Hai họ Hoàng gia sút giết nhau,
Bởi tranh chút nước tưới hoa màu,
Khi thương lựa nói lời ngon ngọt,
Lúc giận moi tìm lý cạn sâu.
Trước múa tay chân, còn phải quấy,
Sau khoa gươm giáo, hết đuôi đầu. . .
“Máu đào một giọt hơn ao nước,”
Phật giảng hoà ngay, khỏi đợi lâu.

DỨT CHUYỆN CHƯ TỲ KHƯU

Sambahulabhikkhuvatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Sukho buddhānanti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto sambahulānaṃ bhikkhūnaṃ kathaṃ ārabbha kathesi.

Ekadivasañhi pañcasatabhikkhū upaṭṭhānasālāyaṃ nisinnā, “āvuso, kiṃ nu kho imasmiṃ loke sukha”nti kathaṃ samuṭṭhāpesuṃ? Tattha keci “rajjasukhasadisaṃ sukhaṃ nāma natthī”ti āhaṃsu. Keci kāmasukhasadisaṃ, keci “sālimaṃsabhojanādisadisaṃ sukhaṃ nāma natthī”ti āhaṃsu. Satthā tesaṃ nisinnaṭṭhānaṃ gantvā “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā”ti pucchitvā “imāya nāmā”ti vutte, “bhikkhave, kiṃ kathetha? Idañhi sabbampi sukhaṃ vaṭṭadukkhapariyāpannameva, imasmiṃ loke buddhuppādo dhammassavanaṃ, saṅghasāmaggī, sammodamānabhāvoti idameva sukha”nti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Sukho buddhānamuppādo, sukhā saddhammadesanā;
Sukhā saṅghassa sāmaggī, samaggānaṃ tapo sukho”ti.

Tattha buddhānamuppādoti yasmā buddhā uppajjamānā mahājanaṃ rāgakantārādīhi tārenti, tasmā buddhānaṃ uppādo sukho uttamo. Yasmā saddhammadesanaṃ āgamma jātiādidhammā sattā jātiādīhi muccanti, tasmā saddhammadesanā sukhā. Sāmaggīti samacittatā, sāpi sukhā eva. Samaggānaṃ pana ekacittānaṃ yasmā buddhavacanaṃ vā uggaṇhituṃ dhutaṅgāni vā pariharituṃ samaṇadhammaṃ vā kātuṃ sakkā, tasmā samaggānaṃ tapo sukhoti vuttaṃ. Tenevāha – “yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū samaggā sannipatissanti, sammaggā vuṭṭhahissanti, samaggā saṅghakaraṇīyāni karissanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṃ pāṭikaṅkhā, no parihānī”ti (dī. ni. 2.136).

Desanāvasāne te bhikkhū arahatte patiṭṭhahiṃsu, mahājanassāpi sātthikā dhammadesanā ahosīti.

Sambahulabhikkhuvatthu aṭṭhamaṃ.

XIV. 8. What is the Pleasantest Thing in the World?

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

194. Pleasant is the rise of the Buddhas...

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to a company of monks.

For one day five hundred monks sitting in the Hall of State began the following discussion, “Brethren, what is the pleasantest thing in this world?” Some said, “There is nothing that can compare with the pleasure of ruling.” Others said, “There is nothing that can compare with the pleasures of love.” Still others said, “There is no pleasure that can compare with the pleasure of eating rice, meat, and so on.” The Teacher approached the place where they were sitting and asked them, “Monks, what are you sitting here now talking about?” When they told him, he replied, “Monks, what are you saying? All these pleasures which you are discussing belong to the Round of Suffering. On the other hand, the rise of a Buddha in this world, the hearing of the Law, and peace and harmony in the Order, these and these alone are pleasant.” So saying, he pronounced the following Stanza,

194. Pleasant is the rise of the Buddhas, pleasant is the preaching of the True Religion,
Pleasant is peace and unity in the Order; the devotion of those who live in harmony is pleasant.

  1. Text: N iii. 249-250.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.