Tích Hai Hoàng Tộc Tranh Giành Nước
Ñāātikalahavūpasamanavatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 197–199 Kinh Pháp Cú, phẩm An Lạc, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 197-198-199 )
197. “Susukhaṃ vata jīvāma,
Verinesu averino;
Verinesu manussesu,
Viharāma averino.”
“Vui thay, chúng ta sống,
Không hận, giữa hận thù!
Giữa những người thù hận,
Ta sống, không hận thù!”
198. “Susukhaṃ vata jīvāma,
Āturesu anāturā;
Āturesu manussesu,
Viharāma anāturā.”
“Vui thay, chúng ta sống,
Không bệnh giữa ốm đau!
Giữa những người bệnh hoạn,
Ta sống, không ốm đau.”
199. “Susukhaṃ vata jīvāma,
Ussukesu anussukā;
Ussukesu manassesu,
Viharāma anussukā.”
“Vui thay, chúng ta sống,
Không rộn giữa rộn ràng;
Giữa những người rộn ràng,
Ta sống, không rộn ràng.”
(Ngài HT Minh Châu)
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư thuyết ra khi ngự giữa hai Hoàng Tộc Thích Ca, đề cập đến sự tranh chấp nước của quyến thuộc.
Tương truyền rằng: Hai họ Hoàng Tộc Sakya và Koliya đã hiệp tác nhau đập một cái đập chung để dẫn nước từ sông Rohinī vào giữa hai thành Kapilavatthu và Koliya, và trồng trọt hoa màu trên những cánh đồng ở hai bên bờ sông.
Đến tháng Jettha mūla (tháng 6-7 dương lịch) năm ấy, nhận thấy các vụ mùa bị thất nhiều, hai bên nông dân hai bờ sông hợp nhau lại. Dân thành Koliya lên tiếng trước rằng:
- Nếu nước sông này dẫn nước chia đôi để tưới cả hai bên sông thì không đủ cho các vị lẫn cho bên chúng tôi. Vụ mùa của chúng tôi sắp chín tới, chỉ cần một lần tưới nữa thôi. Vậy các vị hãy dành trọn nước sông này cho chúng tôi sử dụng đi.
Nhóm dâng họ Thích cũng nói rằng: Sau khi các vị gặt lúa chín, chất đầy kho lẫm rồi, chẳng lẽ chúng tôi lại lấy vàng, bạc, ngọc bích, ngọc tuyền và tiền bạc ra, xách theo thúng rổ hoặc túi bao mà đi đến nhà các người. Vụ mùa của chúng tôi cũng chỉ cần một lần tưới nữa thôi. Vậy hãy nhường cả nước sông này cho chúng tôi.
- Chúng tôi nhất định không nhường được.
- Chúng tôi cũng không cho các vị lấy hết nước dòng sông này.
Cuộc bàn luận đi đến nơi bế tắc. Một người đứng lên đánh đối phương, người nầy đánh trả lại. Thế là, cuộc xô xát bành trướng ra, hai họ trong Hoàng gia đánh nhau, cùng với những lời lẽ bêu xấu nhau kịch liệt. Những người giòng Koliya nói:
- Nầy những người dân thành Kapilavatthu, các người hãy dắt con cái đi đi. Những kẻ nào sống chung với em gái mình, giống như chó nhà và chó rừng, thì những voi, ngựa, khiên, vũ khí mà những kẻ ấy có được, sẽ làm gì được chúng tôi.
Những người dòng Thích Ca cũng mắng lại rằng:
- Nầy các kẻ hủi! Các ngươi hãy dắt con cái đi đi. Những kẻ hủi khốn nạn, vô hại, giống như loài thú ở trên cây táo, thì những voi, ngựa, khiên và vũ khí của những kẻ ấy làm gì được chúng tôi.
Hai nhóm nông dân nầy đem câu chuyện tranh chấp nầy báo cáo lên cho hai Hoàng Tộc biết tin.
Các chiến sĩ Thích Ca lập tức nai nịch gọn gàng, mang vũ khí ra đi và hét lớn rằng:
- Chúng ta sẽ biểu diễn tài nghệ của những người sống với em, chị gái mình cho bọn chúng nó thấy.
Các chiến sĩ Koliya cũng nai nịch gọn gàng, mang vũ khí ra đi và thét lớn rằng:
- Chúng ta sẽ biểu diễn tài lực của những người cùi sống trên cây táo cho chúng nó thấy.
Sáng hôm ấy, Đức Bổn Sư quán xét thế gian theo thông lệ, vì nhìn thấy những quyến thuộc của Ngài. Ngài tự nghĩ: “Nếu ta không can thiệp thì những người nầy sẽ giết hại lẫn nhau. Ta phải đến đó mới được.”
Thế rồi, Ngài theo đường hư không đến đứng giữa giòng sông Rohinī, Ngồi kiết già giữa hư không.
Các quyến thuộc trông thấy Đức Bổn Sư liền ném vũ khí xuống đất và đảnh lễ Ngài. Đức Bổn Sư bàn hỏi mỗi bên rằng:
- Tâu Đại Vương! Vì sao có cuộc tranh chấp nầy.
- Bạch Ngài! Trẫm không được biết.
- Vậy thì, ai biết bây giờ đây?
Hai Vua đáp: “Có lẽ Phó Vương”. Khi hai vị Phó Vương bị hỏi thì đáp là “Có lẽ quan Tổng binh biết”, lần theo thứ tự từ trên xuống, cuối cùng đến các nông dân, họ đáp: “Bạch Ngài, đây là cuộc tranh giành nước sông Rohinī”. Đức Thế Tôn hỏi hai vị Vua:
- Tâu Đại Vương! Nước đáng giá bao nhiêu?
- Bạch Ngài, nước giá rẻ lắm.
- Tâu Đại Vương! Các chiến sĩ Sát Đế Lỵ giá bao nhiêu?
- Bạch các Ngài! Các chiến sĩ Sát Đế Lỵ giá rất cao.
- Thế thì, vì nước có giá trị rẻ như thế lại đem đánh đổi bằng các chiến sĩ Sát Đế Lỵ. Như vậy có thích đáng chăng?
Mọi người đều im lặng, Đức Phật gọi hai vị Vua đến phán rằng:
- Tâu Đại Vương! Vì sao Ngài lại làm như thế? Nếu hôm nay Như Lai không ngự đến đây, thì máu các ngươi nhuộm xuống dòng sông rồi. Các Ngài đã làm điều không xứng đáng, các Ngài sống trong thù hận, trú trong ba pháp hận thù, còn Như Lai sống không thù hận. Các Ngài sống trong tham ái, còn Ta sống không tham ái.
Nói rồi, Ngài thuyết lên kệ ngôn như sau:
197. “Susukhaṃ vata jīvāma,
Verinesu averino;
Verinesu manussesu,
Viharāma averino.”
198. “Susukhaṃ vata jīvāma,
Āturesu anāturā;
Āturesu manussesu,
Viharāma anāturā.”
199. “Susukhaṃ vata jīvāma,
Ussukesu anussukā;
Ussukesu manassesu,
Viharāma anussukā.”
“Vui thay, chúng ta sống,
Không hận, giữa hận thù!
Giữa những người thù hận,
Ta sống, không hận thù!”
“Vui thay, chúng ta sống,
Không bệnh giữa ốm đau!
Giữa những người bệnh hoạn,
Ta sống, không ốm đau.”
“Vui thay, chúng ta sống,
Không rộn giữa rộn ràng;
Giữa những người rộn ràng,
Ta sống, không rộn ràng.”
(Ngài HT Minh Châu)
197. Hạnh phúc thay! Sống không thù hận giữa hận thù. Giữa những người hận thù. Ta sống không hận thù.
198. Hạnh phúc thay! Ta sống mạnh khỏe giữa ốm đau. Giữa những người bệnh tật, Ta sống không ốm đau.
199. Hạnh phúc thay! Ta sống không tham ái. Giữa những người dục vọng ta sống không tham ái.
CHÚ GIẢI:
Susukhaṃ: Sutthusukhaṃ: Sự an vui tốt đẹp. Đại ý của bài kệ nầy là: Những người cư sĩ tại gia, không phải bậc xuất gia, sống bằng một nghề nào như y sĩ… hằng nói “chúng ta sống an vui”. Những người nào nghĩ: “Chúng ta là những người không thù hận trong số những người thù hận với tâm hận thù, là những người không bịnh tật do không phiền não trong số những người bịnh tật là phiền não. Là những người không tham ái tìm cầu ngũ dục, những người ấy có thể nói là hạnh phúc thay.”
Hai kệ ngôn sau cũng cùng chung một ý nghĩa như thế. Cuối thời pháp, nhiều người đắc Thánh Quả, nhứt là Tu Đà Hườn quả.
Hai họ Hoàng Gia suýt giết nhau
Bởi tranh chút nước tưới hoa màu
Khi thương lựa nói lời ngon ngọt
Lúc giận moi tìm lý lẽ sâu.
Trước múa tay chân còn phải quấy
Sau khoe gương giáo hết đuôi đầu.
“Máu đào một giọt hơn ao nước”
Phật giảng hòa ngay, khỏi đợi lâu”
DỨT TÍCH HÒA GIẢI GIA TỘC
Ñāātikalahavūpasamanavatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Susukhaṃ vatāti imaṃ dhammadesanaṃ satthā sakkesu viharanto kalahavūpasamanatthaṃ ñātake ārabbha kathesi.
Sākiyakoliyā kira kapilavatthunagarassa ca koliyanagarassa ca antare rohiṇiṃ nāma nadiṃ ekeneva āvaraṇena bandhāpetvā sassāni karonti. Atha jeṭṭhamūlamāse sassesu milāyantesu ubhayanagaravāsikānampi kammakārā sannipatiṃsu. Tattha koliyanagaravāsino āhaṃsu – “idaṃ udakaṃ ubhayato hariyamānaṃ neva tumhākaṃ, na amhākaṃ pahossati, amhākaṃ pana sassaṃ ekaudakeneva nipphajjissati, idaṃ udakaṃ amhākaṃ dethā”ti. Itarepi āhaṃsu – “tumhesu koṭṭhake pūretvā ṭhitesu mayaṃ rattasuvaṇṇanīlamaṇikāḷakahāpaṇe ca gahetvā pacchipasibbakādihatthā na sakkhissāma tumhākaṃ gharadvāre vicarituṃ, amhākampi sassaṃ ekaudakeneva nipphajjissati, idaṃ udakaṃ amhākaṃ dethā”ti. Na mayaṃ dassāmāti. Mayampi na dassāmāti evaṃ kathaṃ vaḍḍhetvā eko uṭṭhāya ekassa pahāraṃ adāsi, sopi aññassāti evaṃ aññamaññaṃ paharitvā rājakulānaṃ jātiṃ ghaṭṭetvā kalahaṃ vaḍḍhayiṃsu.
Koliyakammakārā vadanti – “tumhe kapilavatthuvāsike gahetvā gajjatha, ye soṇasiṅgālādayo viya attano bhaginīhi saddhiṃ saṃvasiṃsu, etesaṃ hatthino ceva assā ca phalakāvudhāni ca amhākaṃ kiṃ karissantī”ti. Sākiyakammakārāpi vadanti “tumhe idāni kuṭṭhino dārake gahetvā gajjatha, ye anāthā niggatikā tiracchānā viya kolarukkhe vasiṃsu, etesaṃ hatthino ca assā ca phalakāvudhāni ca amhākaṃ kiṃ karissantī”ti. Te gantvā tasmiṃ kamme niyuttānaṃ amaccānaṃ kathayiṃsu, amaccā rājakulānaṃ kathesuṃ. Tato sākiyā “bhaginīhi saddhiṃ saṃvasitakānaṃ thāmañca balañca dassessāmā”ti yuddhasajjā nikkhamiṃsu. Koliyāpi “kolarukkhavāsīnaṃ thāmañca balañca dassessāmā”ti yuddhasajjā nikkhamiṃsu.
Satthāpi paccūsasamaye lokaṃ volokento ñātake disvā “mayi agacchante ime nassissanti, mayā gantuṃ vaṭṭatī”ti cintetvā ekakova ākāsena gantvā rohiṇinadiyā majjhe ākāse pallaṅkena nisīdi. Ñātakā satthāraṃ disvā āvudhāni chaḍḍetvā vandiṃsu. Atha ne satthā āha – “kiṃ kalaho nāmesa, mahārājā”ti? “Na jānāma, bhante”ti. “Ko dāni jānissatī”ti? Te “uparājā jānissati, senāpati jānissatī”ti iminā upāyena yāva dāsakammakare pucchitvā, “bhante, udakakalaho”ti āhaṃsu. “Udakaṃ kiṃ agghati, mahārājā”ti? “Appagghaṃ, bhante”ti. “Khattiyā kiṃ agghanti mahārājā”ti? “Khattiyā nāma anagghā, bhante”ti. “Ayuttaṃ tumhākaṃ appamattataṃ udakaṃ nissāya anagghe khattiye nāsetu”nti. Te tuṇhī ahesuṃ. Atha te satthā āmantetvā “kasmā mahārājā evarūpaṃ karotha, mayi asante ajja lohitanadī pavattissati, ayuttaṃ vo kataṃ, tumhe pañcahi verehi saverā viharatha, ahaṃ avero viharāmi. Tumhe kilesāturā hutvā viharatha, ahaṃ anāturo. Tumhe kāmaguṇapariyesanussukkā hutvā viharatha, ahaṃ anussukko viharāmī”ti vatvā imā gāthā abhāsi –
“Susukhaṃ vata jīvāma, verinesu averino,
Verinesu manussesu, viharāma averino.
“Susukhaṃ vata jīvāma, āturesu anāturā;
Āturesu manussesu, viharāma anāturā.
“Susukhaṃ vata jīvāma, ussukesu anussukā;
Ussukesu manussesu, viharāma anussukā”ti.
Tattha susukhanti suṭṭhu sukhaṃ. Idaṃ vuttaṃ hoti – ye gihino sandhicchedādivasena, pabbajitā vā pana vejjakammādivasena jīvitavuttiṃ uppādetvā “sukhena jīvāmā”ti vadanti, tehi mayameva susukhaṃ vata jīvāma, ye mayaṃ pañcahi verīhi verinesu manussesu averino, kilesāturesu manussesu nikkilesatāya anāturā, pañcakāmaguṇapariyesane ussukesu tāya pariyesanāya abhāvena anussukāti. Sesaṃ uttānatthameva.
Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.
Ñātikalahavūpasamanavatthu paṭhamaṃ.
XV. 1. A Quarrel among Brethren
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
197. Oh, happily let us live! free from hatred, among those who hate;
Among men who hate, let us live free from hatred.
198. Oh, happily let us live! free from disease, among those who are afflicted with disease;
Among men who are afflicted with disease, let us live free from disease.
199. Oh, happily let us live! free from longing, among those who are possessed with longing;
Among those who are possessed with longing, let us live free from longing.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence among the Sākiyas with reference to the cessation of a quarrel among kinsmen.
The story goes that the Sākiyas and the Koliyas caused the waters of the river Rohiṇī to be confined by a single dam between the city of Kapilavatthu and the city of Koliya, and cultivated the fields on both sides of the river. Now in the month Jeṭṭhamūla the crops began to droop, whereupon the laborers employed by the residents of both cities assembled. Said the residents of the city of Koliya, “If this water is diverted to both sides of the river, there will not be enough both for you and for us too. But our crops will ripen with a single watering. Therefore let us have the water.”
The Sākiyas replied, “After you have filled your storehouses, we shall not have the heart to take ruddy gold and emeralds and black pennies, and, baskets and sacks in our hands, go from house to house seeking favors at your hands. Our crops also will ripen with a single watering. Therefore let us have this water.” “We will not give it to you.” “Neither will we give it to you.” Talk waxed bitter, until finally one arose and struck another a blow. The other returned the blow and a general fight ensued, the combatants making matters worse by aspersions on the origin of the two royal families.
Said the laborers employed by the Koliyas, “You who live in the city of Kapilavatthu, take your children and go where you belong. Are we likely to suffer harm from the elephants and horses and shields and weapons of those who, like dogs and jackals, have cohabited with their own sisters?” The laborers employed by the Sākiyas replied, “You lepers, take your children and go where you belong. Are we likely to suffer harm from the elephants and horses and shields and weapons of destitute outcasts who have lived in jujube-trees like animals?” Both parties of laborers went and reported the quarrel to the ministers who had charge of the work, and the ministers reported the matter to the royal households. Thereupon the Sākiyas came forth armed for battle and cried out, “We will show what strength and power belong to those who have cohabited with their sisters.” Likewise the Koliyas came forth armed for battle and cried out, “We will show what strength and power belong to those who dwell in jujube-trees.”
As the Teacher surveyed the world at dawn and beheld his kinsmen, he thought to himself, “If I refrain from going to them, these men will destroy each other. It is clearly my duty to go to them.” Accordingly he flew through the air quite alone to the spot where his kinsmen were gathered together, and seated himself cross-legged in the air over the middle of the river Rohiṇī. When the Teacher’s kinsmen saw the Teacher, they threw away their weapons and did reverence to him. Said the Teacher to his kinsmen, “What is all this quarrel about, great king?” “We do not know, Reverend Sir.” “Who then would be likely to know?” “The commander-in-chief of the army would be likely to know.” The commander-in-chief of the army said, “The viceroy would be likely to know.” Thus the Teacher put the question first to one and then to another, asking the slave-laborers last of all. The slave-laborers replied, “The quarrel is about water, Reverend Sir.”
Then the Teacher asked the king, “How much is water worth, great king?” “Very little, Reverend Sir.” “How much are Khattiyas worth, great king?” “Khattiyas are beyond price, Reverend Sir.” “It is not fitting that because of a little water you should destroy Khattiyas who are beyond price.” They were silent. Then the Teacher addressed them and said, “Great kings, why do you act in this manner? Were I not here present to-day, you would set flowing a river of blood. You have acted in a most unbecoming manner. You live in enmity, indulging in the five kinds of hatred. I live free from hatred. You live afflicted with the sickness of the evil passions. I live free from disease. You live in eager pursuit of the five kinds of sensual pleasure. I live free from the eager pursuit of aught.” So saying, he pronounced the following Stanzas,
197. Oh, happily let us live! free from hatred, among those who hate;
Among men who hate, let us live free from hatred.
198. Oh, happily let us live! free from disease, among those who are afflicted with disease;
Among men who are afflicted with disease, let us live free from disease.
199. Oh, happily let us live! free from longing, among those who are possessed with longing;
Among those who are possessed with longing, let us live free from longing.
- This story is a brief outline of the Introduction to Jātaka 536: v. 412-416. Dh. cm., iii. 25406-25519 is almost word for word the same as Jātaka, v. 41215-41310, and Dh. cm., iii. 2561-9 is almost word for word the same as Jātaka, v. 4144-11. The Dhammapada Commentary version then concludes very briefly, saying nothing about the relation of Jātakas by the Buddha. Cf. Hardy, Manual of Buddhism, pp. 317-320. Text: N iii. 254-257.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.