Chú giải Pháp Cú · Kệ 158 · Dhp 158

Tích Thích Tử Upananda

Upanandasakyaputtattheravatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 158 Kinh Pháp Cú, phẩm Tự Ngã, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 158)

“Attānameva paṭhamaṃ,
Paṭirūpe1 nivesaye;
Athaññamanusāseyya,
Na kilisseyya paṇḍito.”

“Trước hết tự đặt mình,
Vào những gì thích đáng,
Sau mới giáo hóa người,
Người Trí khỏi bị nhiễm.”
(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư thuyết khi ngự tại Jetavana Vihāra (Kỳ Viên Tự) trong thành Sāvatthī (Xá Vệ), đề cập đến Trưởng lão Upananda (Ú Pá Nan Đá).

Tương truyền rằng: Vị ấy là một Trưởng lão có biệt tài thuyết pháp. Nhiều vị Tỳ khưu nghe Ngài thuyết Pháp thoại liên hệ đến Tri túc, Thiểu dục, đã cúng dường thượng y của mình đến Tôn giả Upananda, rồi thọ trì Hạnh Đầu đà. Riêng về Tôn giả Upananda thì thọ dụng tất cả những vật dụng mà chư Tỳ khưu ấy Xả bỏ.

Gần đến ngày an cư mùa mưa, Tôn giả Upananda đi viếng các chùa ở miền quê. Trong một chùa nọ, các Sa di trẻ rất quí mến vị Pháp sư có tài như Trưởng lão, bèn yêu cầu:

- Bạch Ngài! Xin thỉnh Ngài nhập hạ ở đây!

- Ở đây, mỗi Sư nhập hạ được dâng bao nhiêu y?

- Bạch Ngài, mỗi vị Sư được một cái y choàng (Sāṭaka). Patirūpe (theo bản Pāḷi của CSCD. / Dhammagiri. India) Tôn giả Upananda để lại nơi ấy đôi dép, rồi đến tịnh xá khác, cũng được bạch thỉnh Tôn giả an cư, Tôn giả hỏi:

- Trong tịnh xá nầy chư Tỳ khưu được những vật dụng gì?

- Thưa Ngài, mỗi vị được hai tấm y choàng.

- Tôn giả để lại chiếc gậy nơi đó, rồi đi đến một tịnh xá thứ ba, hỏi rằng: “Trong tịnh xá nầy, chư Tỳ khưu được vật dụng gì?”.

- Mỗi vị được ba chiếc y choàng.

Tôn giả để lại nơi ấy cái bình nước, đi đến tịnh xá thứ tư:

- Trong tịnh xá nầy, chư Tỳ khưu được cái chi?

- Thưa, mỗi vị được bốn chiếc y choàng.

- Thôi thì ta sẽ an cư mùa mưa tại nơi nầy vậy.

Tôn giả Upananda an cư mùa mưa tại nơi ấy, thuyết pháp đến thính chúng cư sĩ lẫn Tỳ khưu. Các Tỳ khưu cùng cư sĩ đã cúng dường Tôn giả Upananda rất nhiều y và vải. Khi mãn mùa an cư, Tôn giả cho người đến các tịnh xá kia bảo rằng:

- Tôi cũng được vải nhập hạ đấy nhé, vì tôi đã để lại dép nơi ấy… gậy nơi ấy… bình nước nơi ấy. Vậy chư Tỳ khưu hãy gởi vải an cư mùa mưa cho tôi.

Bấy giờ, trong tịnh xá có hai vị Tỳ khưu trẻ phát sanh được hai tấm y choàng và một cái mền gấm (Kambala). Một vị đề nghị: “Đạo hữu hãy lấy hai lá y choàng, còn cái mền gấm để phần tôi.”, nhưng vị kia không chấp thuận lối phân chia nầy. Hai vị còn đang ngồi cãi nhau gần bên đường cái thì bỗng nhìn thấy vị Trưởng lão Pháp sư từ xa đi đến. Họ bèn yêu cầu:

- Bạch Ngài, xin Ngài hoan hỷ chia những vật nầy hộ chúng tôi!

- Quí Sư cứ tự mình chia nhau đi chứ!

- Bạch Ngài, chúng tôi không thể chia được, xin Ngài hoan hỷ chia hộ chúng tôi.

- Mà quí Sư sẽ tuân theo lời của ta hay không?

- Thưa vâng, chúng tôi sẽ nghe lời Ngài.

- Nếu vậy thì tốt lắm.

Thế rồi, vị Trưởng lão trao cho hai Tỳ khưu hai lá y choàng còn mình giữ lấy cái mền quí giá ra đi, bảo rằng:

- Phần nầy của ta là Pháp sư đã mất công hòa giải quí vị.

Hai vị Tỳ khưu trẻ bị chơi gác, lấy làm hối tiếc, bèn về yết kiến Đức Bổn Sư bạch lại mọi việc. Bậc Đạo Sư giải rằng:

- Nầy chư Tỳ khưu! Không phải bây giờ thầy ấy mới sang đoạt tài vật của hai con, làm cho hai con hối tiếc, mà trong thời trước thầy ấy đã từng làm như thế rồi.

Nói xong, Đức Thế Tôn thuyết lại Bổn sanh như sau:

Thời quá khứ, có hai con rái, một con lặn bờ sông, con kia thì lặn sâu dưới nước. Một hôm chúng cùng bắt được một con cá hồi (màu hồng hồng) thật bự. Hai con tranh giành nhau: “Đầu cá là phần của tao, còn cái đuôi là của mầy.”. Rốt cuộc, hai con không thể chia đồng phần nhau được. Chúng thấy một con giã can, bèn mời nó làm trọng tài:

- Thưa cậu! Xin cậu làm ơn chia đồng phần con cá nầy giùm chúng tôi đi.

Con giã can nói:

- Ta đã ngồi xử kiện trong tòa án của Đức vua quá lâu, vừa mới xả ra đi cho hết tê chân đây! Bây giờ ta không có rảnh!

- Thôi mà cậu, xin cậu đừng làm thái! Xin cậu làm ơn chia con cá giùm chúng tôi!

- Tụi bây có nghe lời của tao không?

- Thưa cậu, chúng tôi sẽ nghe lời cậu.

- Nếu vậy, thì ta sẽ chia hộ cho các người.

Rồi giã can chia như sau: “Trong hai ngươi, con nào đi dọc theo bờ thì nhận lấy cái đuôi. Đứa nào lặn sâu dưới nước thì được lấy cái đầu. Còn khúc giữa nầy sẽ là phần của ta, vì ta đã đứng ra phân xử vụ nầy.”.

Con giã can cắt đầu và đuôi giao cho hai con rái, còn mình lấy khúc giữa, con giã can còn lập lại bằng kệ cho hai con rái nghe bản án như sau:

“Anutīracārino naṅguṭṭhaṃ,
Sīsaṃ gambhīracārino;
Athāyaṃ majjhimo khaṇḍo,
Dhammaṭṭhassa bhavissatīti”

- Con lặn gần bờ hãy lấy cái đuôi, con lặn dưới sâu hãy lấy cái đầu, còn khúc giữa nầy sẽ là phần của công lý vậy!

Ngâm kệ xong, con giã can ngậm khúc mình cá ra đi, bỏ mặc hai con rái cá, đứng nhìn theo ăn năn hối tiếc.

Sau khi kể dứt Bổn sanh, Ngài kết luận: “Ấy đấy, từ đời quá khứ, các con cũng đã ăn năn, hối tiếc như thế rồi. Hai con rái cá nay là hai vị Tỳ khưu trẻ, con giã can nay là Upananda.”. Sau khi giảng dạy hai Tỳ khưu trẻ, rồi Đức Thế Tôn quở trách Upananda rằng:

- Nầy các Tỳ khưu, muốn xứng đáng làm vị Pháp sư thuyết pháp dạy dỗ người khác, trước hết phải tự đặt mình trên một vị tri đúng đắn.

Nói rồi, Đức Bổn Sư ngâm kệ rằng:
“Attānameva paṭhamaṃ,
Paṭirūpe nivesaye;
Athaññamanusāseyya,
Na kilisseyya paṇḍito.”

Trước hãy tự đặt mình vào Chánh đạo, rồi sau giáo hóa kẻ khác, được như vậy người có Trí mới tránh khỏi điều lầm lỗi xảy ra.

(Bản dịch của T.K. Trí Đức)

CHÚ GIẢI:

Paṭirūpe nivesaye: tự đặt mình trên vị trí đạo đức thích đáng. Như trên đã nói, người nào có ý muốn làm thầy dạy kẻ khác, về các hạnh Thiểu dục, Tri túc hoặc về đường lối hành đạo của bậc Thánh nhân thì trước nhất, người ấy hãy tự mình trên đường lối nết hạnh đó, sau hãy đem những ân đức ấy mà chỉ dạy kẻ khác. Nhược bằng, tự mình chưa đạt đến mức đó mà mong chỉ dạy kẻ khác thì trong khi chỉ dạy, ắt sẽ bị toàn thể mọi người chê trách, thật là nhơ nhuốc vậy.

Người đã tự đặt mình lên Chánh đạo rồi, sau mới chỉ dạy kẻ khác, ắt sẽ được khen ngợi tán dương, cho nên không bị nhuốc nhơ. Bậc Hiền trí hằng làm vậy nên không bị biếm nhẻ.

Cuối thời Pháp, hai Tỳ khưu trẻ ấy đắc quả Tu Đà Hườn. Đại chúng thính pháp cũng được hưởng phần lợi ích.

Thuyết pháp khuyên Tăng tập Xả ly,
Tự mình lại chấp giữ nhiều y,
Tỳ khưu tham luyến trong tài vật,
Chẳng xứng danh từ Thích tử chi!
Đứng chia lễ lộc giúp hai Sư,
Đoạt lấy chiếc mền gấm lẻ dư…
Phật dạy: Trọng tài nên đứng đắn,
Xử người, phải chí công vô tư.

DỨT TÍCH THÍCH TỬ UPANANDA

Upanandasakyaputtattheravatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Attānameva paṭhamanti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto upanandaṃ sakyaputtaṃ ārabbha kathesi.

So kira thero dhammakathaṃ kathetuṃ cheko. Tassa appicchatādipaṭisaṃyuttaṃ dhammakathaṃ sutvā bahū bhikkhu taṃ ticīvarehi pūjetvā dhutaṅgāni samādiyiṃsu. Tehi vissaṭṭhaparikkhāre soyeva gaṇhi. So ekasmiṃ antovasse upakaṭṭhe janapadaṃ agamāsi. Atha naṃ ekasmiṃ vihāre daharasāmaṇerā dhammakathikapemena, “bhante, idha vassaṃ upethā”ti vadiṃsu. “Idha kittakaṃ vassāvāsikaṃ labbhatī”ti pucchitvā tehi “ekeko sāṭako”ti vutte tattha upāhanā ṭhapetvā aññaṃ vihāraṃ agamāsi. Dutiyaṃ vihāraṃ gantvā “idha kiṃ labbhatī”ti pucchitvā “dve sāṭakā”ti vutte kattarayaṭṭhiṃ ṭhapesi. Tatiyaṃ vihāraṃ gantvā “idha kiṃ labbhatī”ti pucchitvā “tayo sāṭakā”ti vutte tattha udakatumbaṃ ṭhapesi. Catutthaṃ vihāraṃ gantvā “idha kiṃ labbhatī”ti pucchitvā “cattāro sāṭakā”ti vutte “sādhu idha vasissāmī”ti tattha vassaṃ upagantvā gahaṭṭhānañceva bhikkhūnañca dhammakathaṃ kathesi. Te naṃ bahūhi vatthehi ceva cīvarehi ca pūjesuṃ. So vuṭṭhavasso itaresupi vihāresu sāsanaṃ pesetvā “mayā parikkhārassa ṭhapitattā vassāvāsikaṃ laddhabbaṃ, taṃ me pahiṇantū”ti sabbaṃ āharāpetvā yānakaṃ pūretvā pāyāsi.

Athekasmiṃ vihāre dve daharabhikkhū dve sāṭake ekañca kambalaṃ labhitvā “tuyhaṃ sāṭakā hontu, mayhaṃ kambalo”ti bhājetuṃ asakkontā maggasamīpe nisīditvā vivadanti. Te taṃ theraṃ āgacchantaṃ disvā, “bhante, tumhe no bhājetvā dethā”ti vadiṃsu. Tumheyeva bhājethāti. Na sakkoma, bhante, tumheyeva no bhājetvā dethāti. Tena hi mama vacane ṭhassathāti. Āma, ṭhassāmāti. “Tena hi sādhū”ti tesaṃ dve sāṭake datvā “ayaṃ dhammakathaṃ kathentānaṃ amhākaṃ pārupanāraho”ti mahagghaṃ kambalaṃ ādāya pakkāmi. Daharabhikkhū vippaṭisārino hutvā satthu santikaṃ gantvā tamatthaṃ ārocesuṃ. Satthā “na, bhikkhave, idāneva tumhākaṃ santakaṃ gahetvā tumhe vippaṭisārino karoti, pubbepi akāsiyevā”ti vatvā atītaṃ āhari –

Atītasmiṃ anutīracārī ca gambhīracārī cāti dve uddā mahantaṃ rohitamacchaṃ labhitvā “mayhaṃ sīsaṃ hotu, tava naṅguṭṭha”nti vivādāpannā bhājetuṃ asakkontā ekaṃ siṅgālaṃ disvā āhaṃsu – “mātula, imaṃ no bhājetvā dehī”ti. Ahaṃ raññā vinicchayaṭṭhāne ṭhapito, tattha ciraṃ nisīditvā jaṅghavihāratthāya āgatomhi, idāni me okāso natthīti. Mātula, mā evaṃ karotha, bhājetvā eva no dethāti. Mama vacane ṭhassathāti. Ṭhassāma, mātulāti. “Tena hi sādhū”ti so sīsaṃ chinditvā ekamante akāsi, naṅguṭṭhaṃ ekamante. Katvā ca pana, “tātā, yena vo anutīre caritaṃ, so naṅguṭṭhaṃ gaṇhātu. Yena gambhīre caritaṃ, tassa sīsaṃ hotu. Ayaṃ pana majjhimo khaṇḍo mama vinicchayadhamme ṭhitassa bhavissatī”ti te saññāpento –

“Anutīracāri naṅguṭṭhaṃ, sīsaṃ gambhīracārino;
Accāyaṃ majjhimo khaṇḍo, dhammaṭṭhassa bhavissatī”ti. (jā. 1.7.33) –

Imaṃ gāthaṃ vatvā majjhimakhaṇḍaṃ ādāya pakkāmi. Tepi vippaṭisārino taṃ oloketvā aṭṭhaṃsu.

Satthā imaṃ atītaṃ dassetvā “evamesa atītepi tumhe vippaṭisārino akāsiyevā”ti te bhikkhū saññāpetvā upanandaṃ garahanto, “bhikkhave, paraṃ ovadantena nāma paṭhamameva attā patirūpe patiṭṭhāpetabbo”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Attānameva paṭhamaṃ, patirūpe nivesaye;
Athaññamanusāseyya, na kilisseyya paṇḍito”ti.

Tattha patirūpe nivesayeti anucchavike guṇe patiṭṭhāpeyya. Idaṃ vuttaṃ hoti – yo appicchatādiguṇehi vā ariyavaṃsapaṭipadādīhi vā paraṃ anusāsitukāmo, so attānameva paṭhamaṃ tasmiṃ guṇe patiṭṭhāpeyya. Evaṃ patiṭṭhāpetvā athaññaṃ tehi guṇehi anusāseyya. Attānañhi tattha anivesetvā kevalaṃ parameva anusāsamāno parato nindaṃ labhitvā kilissati nāma, tattha attānaṃ nivesetvā anusāsamāno parato pasaṃsaṃ labhati, tasmā na kilissati nāma. Evaṃ karonto paṇḍito na kilisseyyāti.

Desanāvasāne te bhikkhū sotāpattiphale patiṭṭhahiṃsu, mahājanassāpi sātthikā dhammadesanā ahosīti.

Upanandasakyaputtattheravatthu dutiyaṃ.

XII. 2. The Greedy Monk

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

158. A man should first direct himself in the way he should go.
Only then should he instruct others; a wise man will so do and not grow weary.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Upananda, the Sakyan prince.

The story goes that this Elder, who was skilled to teach the Law, after listening to a discourse on the subject of being satisfied with but a little, accepted a large number of robes with which several monks who had taken upon themselves the Pure Practices honored him, and besides that took all the utensils which they had left and carried them off with him. As the season of the rains was near at hand, he went off into the country. He stopped at a certain monastery to preach the Law, and the novices and probationers liked the way he talked so well that they said to him, “Spend the rainy season here, Reverend Sir.” “What allowance is made to a monk who spends the season of the rains here?” asked the Elder. “A single cloak,” was the reply. The Elder left his shoes there and went on to the next monastery. When he reached the second monastery, he asked the same question, “What allowance is made here?” “Two cloaks,” was the reply. There he left his walking-stick. Then he went on to the third monastery and asked the same question, “What allowance is made here?” “Three cloaks,” was the reply. There he left his water-pot.

Then he went on to the fourth monastery and asked the same question, “What allowance is made here?” “Four cloaks,” was the reply. “Very good,” said the Elder, “I will take up my residence here;” and there he went into residence. And he preached the Law to the laymen and monks who resided there so well that they honored him with a great number of garments and robes. When he had completed residence, he sent a message to the other monasteries, saying, “I left my requisites behind me, and must therefore have whatever is required for residence; pray send them to me.” When he had gathered all of his possessions together, he put them in a cart and continued his journey.

Now at a certain monastery two young monks who had received two cloaks and a single blanket found it impossible to make a division satisfactory to both of them, and therefore settled themselves beside the road and began to quarrel, saying, “You may have the cloaks, but the blanket belongs to me.” When they saw the Elder approaching, they said, “Reverend Sir, you make a fair division and give us what you think fit.” “Will you abide by my decision?” “Yes indeed; we will abide by your decision.” “Very good, then.” So the Elder divided the two cloaks between the two monks; then he said to them, “This blanket should be worn only by us who preach the Law;” and when he had thus said, he shouldered the costly blanket and went off with it.

Disgusted and disappointed, the young monks went to the Teacher and reported the whole occurrence to him. Said the Teacher, “This is not the first time he has taken what belonged to you and left you disgusted and disappointed; he did the same thing also in a previous state of existence.” And he related the following:

2 a. Story of the Past: The otters and the jackal

Once upon a time, long long ago, two otters named Anutīracārī and Gambhīracārī, caught a big redfish and fell to quarreling over it, saying, “The head belongs to me; you may have the tail.” Unable to effect a division satisfactory to both of them, and catching sight of a certain jackal, they appealed to him for a decision, saying, “Uncle, you make such a division of this fish as you think proper and render an award.” Said the jackal, “I have been appointed judge by the king, and am obliged to sit in court for hours at a time; I came out here merely to stretch my legs; I have no time now for such business.” “Uncle, don’t say that; make a division and render an award.” “Will you abide by my decision?” “Yes indeed, uncle, we will abide by your decision.” “Very good, then,” said the jackal. The jackal cut off the head and laid that aside, and then cut off the tail and laid that aside. When he had so done, he said to them, “Friends, that one of you who runs along the bank (Anutīracārī) shall have the tail, and that one of you who runs in the deep water (Gambhīracārī) shall have the head; as for this middle portion, however, this shall be mine, inasmuch as I am a justice.” And to make them see the matter in a better light, he pronounced the following Stanza,

Anutīracārī shall have the tail, and Gambhīracārī shall have the head;
But as for this middle portion, it shall belong to the justice.

Having pronounced this Stanza, the jackal picked up the middle portion of the fish and went off with it. As for the otters, they were filled with disgust and disappointment, and stood and eyed the jackal as he went away. End of Story of the Past.

When the Teacher had finished this Story of the Past, he said, “And thus it was that in times long past this Elder filled you with disgust and disappointment.” Then the Teacher consoled those monks and rebuked Upananda, saying, “Monks, a man who admonishes others should first direct himself in the way he should go.” And when he had thus spoken, he pronounced the following Stanza,

158. A man should first direct himself in the way he should go.
Only then should he instruct others; a wise man will so do and not grow weary.

  1. This story is a free version of Jātaka 400: iii. 332-336. Cf. Tibetan Tales, xxxiv, pp. 332-334. Text: N iii. 139-142.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.