Tích Sa Di Đòn Xóc
Saṃkiccasāmaṇeravatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 110 Kinh Pháp Cú, phẩm Ngàn, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 110)
“Yo ca vassasataṃ jīve,
Dussīlo asamāhito;
Ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo,
Sīlavantassa jhāyino.”
“Dầu sống một trăm năm,
Ác giới, không Thiền định,
Tốt hơn sống một ngày,
Trì giới, tu Thiền định”.
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết, khi Ngài an ngự tại Jetavana Vihāra (Kỳ Viên Tự), đề cập đến Sa di Đòn Xóc (Saṅkicca).
Tương truyền: Trong thành Xá Vệ có ba mươi vị công tử, sau khi nghe pháp rủ nhau xuất gia trong Giáo Pháp của Đức Bổn Sư. Các vị ấy tu Tỳ khưu được năm hạ rồi, liền đến yết kiến Đức Bổn Sư. Nghe Ngài hỏi muốn tu thêm pháp nào trong hai pháp là: Pháp Học và Pháp Hành (Ganthadhuraṃ - Vipassanādhuraṃ). Các vị đều đồng ý xin Đức Thế Tôn dạy cho đề mục Minh Sát để bổ túc Pháp hành ngõ hầu đắc quả A La Hán, chớ không ưng cố gắng thọ trì Pháp học, vì đã lớn tuổi mới xuất gia. Thọ giáo đề mục xong rồi, các vị ấy xin phép Đức Bổn Sư:
- Bạch Ngài, chúng con sẽ vào hành đạo trong một khu rừng.
- Các thầy vào khu rừng nào?
- Bạch Ngài, khu rừng ấy tên là…
Nghe vậy, Đức Bổn Sư biết rằng: “Vào nơi đó, các Tỳ khưu nầy sẽ phải một phen kinh sợ vì một gã tàn thực (Vighāsādā), nếu có Sa di Saṅkicca cùng đi thì mọi việc sẽ an bài tốt đẹp, rồi các thầy Tỳ khưu ấy sẽ hoàn tất phận sự xuất gia”.
Sa di Saṅkicca là tên vị Sa di bảy tuổi, đệ tử của Ngài Sārīputta (Xá Lợi Phất).
Người ta nói mẹ của Sa di là con gái của một gia đình giàu có. Khi mang thai, gần đến ngày sanh bà bị bịnh nặng trong chốc lát rồi chết ngay. Khi người ta thiêu xác bà, trừ ra thịt ở bụng, kỳ dư những nơi khác đều cháy rụi, những người thiêu phải đem thịt bụng của bà xuống khỏi giàn hỏa, lấy cây nhọn đâm thủng hai ba chỗ, mũi nhọn cây chỉa chạm nhằm đuôi mắt của thai nhi. Sau khi đâm thủng mãng thịt quanh bụng, người ta vứt nó lên đống than lửa đỏ, cào than cháy phủ khắp cả, rồi bỏ ra về. Thịt tử cung bị cháy rụi, trên mặt đống lửa than sáng ngời như chiếc đĩa bằng vàng, đứa hài tử nằm yên như trong một đóa sen hồng. Quả thật, đối với một chúng sanh kiếp chót, dù có bị rơi vào lửa hay từ đỉnh Sineru (Tu Di) rớt xuống, khi chưa đắc quả A La Hán thì không bao giờ bị mạng chung.
Qua ngày sau, những người thiêu xác đến để dập tắt lửa giàn hỏa, trông thấy đứa bé nằm yên nơi đó, hết sức ngạc nhiên kêu lên: “Sao lạ thế nầy? Với bấy nhiêu củi đó, toàn thể các xác đều cháy rụi. Tại sao đứa nhỏ không bị cháy? Có cái gì đây nhỉ?”.
Người ta mang đứa bé về làng, rồi đi coi thầy bói, các nhà tiên tri nói: “Nếu cậu bé nầy sống tại gia, thì thân quyến cả bảy đời của cậu sẽ không nghèo khó. Còn nếu cậu xuất gia thì lúc đi hành đạo sẽ có năm trăm Sa môn theo hầu”.
Do cái vết thẹo ở đuôi mắt bị bể lúc trước, cậu bé được đặt tên là Saṅkicca (Đòn Xóc), thời gian sau, vết thẹo hiện ra rõ rệt.
Các thân tộc cậu bé ráng nuôi nấng cậu và nguyện rằng: “Dầu cho đứa bé nầy sống đến tuổi lớn khôn, chúng ta cũng cho nó xuất gia với Trưởng lão Sārīputta.”.
Khi cậu bé được bảy tuổi, nó được các trẻ khác cho biết:
- Mẹ mày đã chết khi còn mang mày trong thai. Xác bà bị thiêu rụi, riêng mày còn sống, không bị cháy.
Nghe vậy, Saṅkicca suy nghĩ: “Ai cũng bảo ta đã thoát khỏi tai nạn khủng khiếp như thế. Vậy ta còn ở nhà mà làm gì? Ta sẽ xuất gia.”.
Cậu bé Saṅkicca ngỏ ý định xuất gia của mình với quyến thuộc, họ vô cùng hoan hỷ tán thành ý của cậu, đưa cậu đến ra mắt Trưởng lão Sārīputta và giao cậu cho Trưởng lão.
- Bạch Ngài, xin Ngài cho cậu bé nầy xuất gia.
Trưởng lão truyền cho cậu niệm năm chi đầu của đề mục thân trược là: tóc, lông, móng, răng, da, rồi cho cậu xuất gia Sa di. Khi cậu xuống tóc, lưỡi dao cạo vừa chạm vào da đầu, cậu liền chứng đắc A La Hán với Tuệ Phân tích. Chính Sa Di Saṅkicca là vị nầy vậy.
Khi biết rằng: “Vào trong khu rừng đó, ông Sa di nầy sẽ làm cho êm sự kinh sợ. Nhờ vậy các Tỳ khưu sẽ đạt đến mức viên mãn phận sự xuất gia.”. Đức Bổn Sư bảo các vị ấy: “Nầy các Tỳ khưu, các thầy hãy đi thăm Sư huynh Sārīputta của các thầy đi”.
- Lành thay, bạch Thế Tôn. – Các Tỳ khưu đáp.
- Các đạo hữu, có chuyện chi đến đây? – Trưởng lão Sārīputta hỏi.
- Chúng tôi đã thọ huấn đề mục nơi Đức Bổn Sư, định vào rừng hành đạo, nhưng khi xin phép Ngài, Ngài bảo chúng tôi: “Các thầy hãy đến viếng Sư huynh của các thầy là Sārīputta.”. Cho nên chúng tôi mới đến đây.
Trưởng lão Xá Lợi Phất nghĩ thầm: “Chắc Đức Bổn Sư đã thấy được lý do gì đây, nên bảo các Tỳ khưu đến đây? Vậy lý do đó là gì?”.
Khi Ngài quán xét, biết được nguyên nhân, Trưởng lão hỏi:
- Nầy các đạo hữu, các vị có Sa di nào không?
- Thưa đạo hữu1 , không có.
- Nếu không có, quí vị hãy mang theo Sa di Saṅkicca nầy đi theo.
- Thôi đi, thưa đạo hữu. Đem Sa di đi theo chúng tôi sẽ vướng bận, tu ở rừng thì cần có Sa di mà làm chi?
- Nầy các đạo hữu, không phải vì Sa di nầy khiến các vị thêm ràng buộc, mà trái lại quí vị sẽ là sự ràng buộc đối với ông Sa di nầy. Vả lại, sở dĩ Đức Bổn Sư dạy quí vị đến thăm tôi là có ý muốn tôi cho ông Sa di cùng đi với quí vị. Vậy quí vị hãy mang theo Sa di nầy đi.
- Lành thay.
Các Tỳ khưu chấp thuận cho Sa di cùng đi theo, thành ra một nhóm ba mươi mốt người, từ giã Trưởng lão ra khỏi chùa, rồi đi bộ lần hồi, trải qua độ một trăm hai mươi do tuần (Visayojana-satamatthake), đến một khu làng nọ có ngàn nóc nhà. Dân làng thấy chư Tỳ khưu đến, phát tâm tịnh tín, đặt bát cúng dường xong mới hỏi: 1)
Āvuso là tiếng gọi đồng hạng, hoặc nhỏ hơn. Nhưng khi Phật còn tại thế, Chư Tăng chỉ dùng tiếng nầy xưng hô với nhau, dầu đối với bậc trưởng thượng.
- Bạch các Trưởng lão, chẳng hay các Ngài đi đâu?
- Nầy các đạo hữu, chư Tăng chúng tôi đi tìm chỗ thuận cảnh tiện nghi.
Nghe vậy, dân chúng nằm mọp dưới chân Chư Tăng, yêu cầu:
- Bạch các Trưởng lão, chúng tôi xin cung thỉnh các Ngài dừng bước lại nơi đây kiết hạ an cư, để chúng tôi có thể thọ trì Tam qui và Ngũ giới, thiết lập trai đàn.
Chư Trưởng lão nhận lời.
Dân làng lo cất những thảo am, dọn đường kinh
hành, sắp xếp cho có chỗ Chư Tăng hành đạo ban ngày, lẫn ban đêm, dâng đến Chư Tăng. Xong rồi, chia phiên nhau, nay người này mai người khác siêng năng phục dịch hộ độ Chư Tăng.
Vào ngày an cư kiết hạ, chư Tỳ khưu hội thảo cùng nhau rồi quyết định: “Nầy các đạo hữu, chúng ta đã thọ giáo đề mục hành đạo từ nơi Đức Phật, thì không thể nào ta hưởng được ân huệ của Đức Thế Tôn bằng cách hành theo một đường lối nào khác. Vả lại, các cửa vào ác đạo đang mở rộng, chúng ta chẳng khá dễ duôi. Bởi vậy, trừ ra buổi sáng sớm là giờ đi khất thực và buổi tới là giờ phục dịch các bậc Trưởng lão, thì chúng ta không nên ở chung hai người một nơi. Nếu ai có bệnh thì người ấy hãy đánh kiểng (Gaṇḍī), chúng ta sẽ đến săn sóc thuốc men cho người ấy. Trong những giờ khác, ban ngày lẫn ban đêm chúng ta phải tinh cần lo tu niệm đề mục”.
Trong khi Chư Tăng đã giao ước và an cư hành đạo như vậy, thì có một người đàn ông nghèo khổ, sống nương nhờ các con gái. Nơi xứ cô gái ấy lại lâm vào nạn đói, ông ta muốn đến sống nương nhờ nơi cô con gái khác, cất bước lên đường.
Lúc ấy chư Trưởng lão vào làng khất thực xong, trên đường trở về chỗ ngụ, giữa đường các Ngài xuống tắm dưới con sông, rồi lên ngồi trên một bãi cát mà thọ thực.
Ngay lúc ấy, người đàn ông đi đến chỗ đó, đứng một bên nhìn Chư Tăng. Các Trưởng lão bèn hỏi:
- Nầy ông Thiện nam, ông đi đâu đó?
Người chạy nạn đói cho biết mục đích của mình, các Trưởng lão nghe vậy, động lòng bi mẫn nên nói:
- Nầy ông Thiện nam, chắc là ông đói lắm, ông hãy đi tìm lá cây đem lại đây Chư Tăng mỗi vị sẽ bố thí cho ông một vắt cơm.
Khi người ấy mang lá đến, các Tỳ khưu mỗi vị bớt cơm canh của mình đang độ, vắt lại thành một cục, sớt cho ông ta ăn. Đó là một phận sư, người ta nói rằng: Trong giờ ăn mà có người đến xin, vị Tỳ khưu cũng nên Bố thí ít hoặc nhiều vật thực của mình đang độ, trừ ra phần cơm mật (Aggabhatta), cho nên Chư Tăng đã cho như thế.
Sau khi ăn xong bữa, người đàn ông đảnh lễ các vị Trưởng lão và hỏi:
- Bạch các Ngài, hôm nay có ai mời thỉnh các Ngài dự lễ Trai Tăng phải không?
- Nầy ông Thiện nam, không có ai mời thỉnh cả. Mỗi ngày thôn dân đều cúng dường để bát như thế cả.
Người đàn ông suy nghĩ: “Như ta luôn siêng năng làm lụng hết việc nầy đến việc khác mà chưa hề được ăn bữa cơm như thế nầy. Vậy ta còn đi tìm chỗ nào khác làm chi, ta sẽ sống chung với các Ngài là tiện nhất”.
Thế rồi, ông ta nói với Chư Tăng:
- Con muốn ở gần các Ngài để làm công kia việc nọ phục dịch các Ngài.
- Lành thay, nầy Cận sự nam.
Ông Thiện nam theo Chư Tăng về đến chỗ ngụ của các Ngài, phụ trách mọi việc đàng hoàng tử tế rất được lòng các Ngài. Nhưng qua hai tháng sau, ông ta lại muốn đi thăm con gái tự nghĩ: “Nếu ta xin phép chắc chắn các Ngài sẽ không buông thả ta ra. Vậy ta hãy rút đi êm là hơn”. Thế rồi, ông ta ra đi không cáo từ Chư Tăng, người ta nói, ai lén Chư Tăng mà đi như vậy là phạm một lỗi lầm.
Trên đường đi của ông Thiện nam, có một khu rừng rậm, trong rừng ấy có năm trăm tên cướp mới đến làm sào huyệt và nguyện với Chư Thiên trong rừng rằng: “Ai vào rừng nầy, chúng tôi sẽ giết chết, lấy máu và thịt cúng tế linh thần”. Chúng trú ở nơi ấy được bảy ngày. Hôm ấy là ngày thứ bảy, tên chúa đảng trèo lên cây, canh chừng những bộ hành, trông thấy ông Thiện nam đi đến, bèn ra dấu cho đồng đảng. Bọn cướp biết được ông ta đã vào đến giữa rừng, bèn bao vây bắt được. Lấy dây trói tay chân ông thật chặt, lấy cây cọ kéo cho ra lửa để nhóm lửa, gom củi lại chất thành một đống lửa lớn và lấy cây chỉa thọc cho thông hơi. Ông Thiện nam thấy bọn cướp làm như thế bèn hỏi:
- Thưa chủ, nơi đây không có khu rừng như heo, nai chẳng hạn, thế mà ông chủ cho nhóm lửa làm gì thế?
- Chúng ta sẽ giết chết ngươi để lấy thịt và máu cúng tế Thiên địa quỉ thần.
Ông ta quá sợ chết, chỉ lo bảo toàn mạng sống của mình, không còn nhớ đến ân nghĩa của các Tỳ khưu, nên nói:
- Thưa ông chủ, tôi chỉ là một kẻ dùng tàn thực, một kẻ ăn mót cơm thừa, canh cặn, nên có tên là Tàn thực (Vighāsādo) là kẻ xui xẻo bần tiện, mới vừa từ biệt các Trưởng lão mà ra đi. Các bậc xuất gia thuộc dòng Sát Đế Lợi, hiện giờ đang ở nơi địa điểm nọ, tất cả là ba mươi mốt vị Tỳ khưu, ông chủ bắt các vị ấy giết lấy máu và thịt tế chư thần, chắc Chư Thiên sẽ hoan hỷ hơn.
Nghe vậy, bọn cướp suy nghĩ: “Tên nầy nói nghe cũng có lý. Ta giết kẻ xui xẻo này làm chi? Ta nên giết người thuộc giòng Sát Đế Lợi mà tế thần”.
Bọn cướp mở trói cho ông tàn thực, để ông ta dẫn đường, đưa chúng đến chỗ ngụ của Chư Tăng. Đến chùa không thấy Chư Tăng trong chùa, bọn cướp hỏi: “Các Tỳ khưu ở đâu?”.
Ông tàn thực đã từng ngụ ở đây hai tháng, đã biết rành nội qui của Chư Tăng, nên chỉ cách cho bọn cướp: “Các Tỳ khưu vô ngồi trong các chỗ tu hành ban ngày hoặc ban đêm, chớ không có ở đây. Các ông hãy đánh kiểng, nghe tiếng kiểng, các Tỳ khưu sẽ tụ hội”.
Tên đầu đảng đánh kiểng. Các Tỳ khưu nghe tiếng kiểng, nghĩ thầm: “Kiểng đánh phi thời, chắc có vị nào bịnh chi đây?”.
Tất cả Chư Tăng đều tựu vào giữa chùa, theo thứ tự tuổi hạ ngồi lên những thạch bàn đá kê sẵn từ trước.
Vị Trưởng lão Tăng trưởng nhìn bọn cướp rồi hỏi:
- Nầy các Thiện nam, ai đánh kiểng nầy vậy?
- Bạch các Ngài, chính chúng tôi đánh.
- Vì lý do nào vậy?
- Chúng tôi có việc cầu khẩn Chư Thiên trong rừng, nên bây giờ đến bắt một vị Tỳ khưu đem về cúng tế trả lễ Chư Thiên.
Nghe vậy, vị Trưởng lão cao hạ nhất bảo các Tỳ khưu:
- Nầy các đạo hữu, phàm trong đạo nghĩa anh em, hễ có việc chi xảy đến, người anh cả phải đứng ra gánh vác. Tôi nguyện hy sinh mạng sống cho tất cả Chư Tăng mà đi với mấy ông này. Mong cho tất cả đừng bị sự tai hại. Hãy chuyên cần hành Sa môn Pháp.
Vị Phó Trưởng lão nói:
- Bạch Ngài, phàm phận sự nào của người anh thì
người em phải đảm đương. Tôi xin ra đi để Ngài và Chư Tăng ở lại Tinh tấn hành đạo.
Cứ theo thứ tự, từ trên xuống dưới, cả ba mươi vị Tỳ khưu đều tình nguyện xin lãnh phần hy sinh như thế. Tất cả những vị nầy không phải con một mẹ, không phải con một cha và cũng không phải là những bậc đã xa lìa tình dục, ấy thế mà không ham muốn được sống sót, các vị ấy tuần tự tự nguyện hy sinh mạng sống, trong nhóm không có vị nào có thể mở miệng bảo vị khác: “Đạo hữu hãy đi đi.”.
Sa di Saṅkicca nghe qua những lời tình nguyện của các Tỳ khưu thì bạch rằng:
- Xin các Ngài hãy khoan, để con đi thế mạng cho các Ngài.
- Nầy đạo hữu, chúng tôi thà là chết chung một lượt, chớ không bao giờ đành để cho ngươi ra đi một mình đâu.
- Bạch các Ngài, tại sao vậy?
- Nầy đạo hữu, đạo hữu là Sa di của Pháp chủ là Trưởng lão Sārīputta, nếu như chúng tôi để đạo hữu ra đi, thì Trưởng lão sẽ trách chúng tôi: “ Các thầy đã đem Sa di của tôi đi giao cho bọn cướp.”. Chúng tôi sẽ không có lời nào biện để khỏi bị Trưởng lão quở, do đó chúng tôi không để cho đạo hữu đi.
- Bạch các Ngài, Đức Chánh Biến Tri đã khiến các Ngài đến thăm Hòa Thượng của con và thầy con đã khiến con đi chung với các Ngài, bây giờ có việc xảy đến như vầy thì cái lý do khiến con phải đi với các Ngài đã rõ rệt. Vậy xin các Ngài hãy ở lại, để con đi.
Sa di Saṅkicca đảnh lễ ba mươi vị Tỳ khưu để cáo biệt và nói: “Nếu con có lầm lỗi chi, xin các Ngài hãy tha thứ cho con”.
Ông Sa di ra đi, các Tỳ khưu phát tâm kinh cảm, lụy ứa đoanh tròng, tâm tư xúc động. Trưởng lão bảo bọn cướp:
- Nầy các Thiện nam, đứa bé nầy sẽ kinh hãi khi thấy các ông nổi lửa, gom củi trải lá. Vậy các ông hãy để nó qua một bên rồi hãy làm các việc ấy.
Bọn cướp dắt ông Sa di vào rừng, để ông đứng riêng một nơi, rồi lo làm tất cả mọi việc.
Xong việc rồi, tên chánh đảng rút gươm ra khỏi vỏ, đến gần ông Sa di, còn ông Sa di lúc bấy giờ đang ngồi Tham thiền Nhập định. Tên chánh đảng khoa gươm lên rồi chém xuống cổ ông Sa di, lưỡi gươm cong ngược lên, sóng chạm với sóng. Tướng cướp ngỡ là mình chém không đúng cách, uốn nắn lưỡi gươm cho ngay lại, rồi chém một lần nữa, lưỡi gươm lại uốn cong lại như tàu lá thốt nốt, mũi gươm chạm với gốc cán gươm.
Trong khi ấy, ông Sa di dầu có bị xô ngã từ đảnh núi Tu Di xuống cũng không thể chết, huống hồ gì bị chém bằng gươm. Thấy việc lạ thường, tên chánh đảng tự nghĩ: “Lúc trước lưỡi gươm ta chém vào tảng đá hoặc gốc cây keo đứt ngọt như chém vào đọt thốt nốt, bây giờ lần đầu tiên nó bị cong, lần thứ hai nó bị cuốn lại như tàu lá thốt nốt. Lưỡi gươm nầy tuy là vật vô tình vô ý mà nó còn biết Giới đức của ông Sa di nầy, còn ta là người có tình có ý mà ta lại không biết”.
Quăng gươm xuống đất, tên chánh đảng nằm mọp dưới chân ông Sa di và thưa:
- Bạch Ngài, bọn tôi vì lý do của cải chiếm cứ khu rừng nầy, những người vào đây dầu đông đến số ngàn nhưng thấy chúng tôi từ đàng xa cũng đã run sợ không thể nói lên được một lời, còn Ngài vì sao không có chút gì sợ hãi, sắc diện lại sáng rỡ như vàng ròng, dung nhan tươi tốt như chùm hoa nở vậy Ngài?
Tên chánh đảng lại ngâm kệ hỏi rằng:
“Tāso te natthi na bhayaṃ,
Bhiyyo vaṇṇo pasīdati;
Kasmā na paridevesi,
Evarūpe mahabbhayeti.”.
“Ngài không run cũng không sợ, hơn thế nữa sắc
mặt Ngài trong sáng. Tại sao Ngài không than khóc, trước sự kinh sợ to lớn như vậy?”
Vị Sa di xuất thiền, thuyết pháp cho tên cướp nghe.
- Nầy đạo hữu đảng trưởng, bậc Lậu tận xem cái gọi là tự ngã (xác thân) là một gánh nặng. Cho nên khi có sự phá vỡ tự ngã thì bậc ấy càng hoan hỷ chớ không sợ sệt.
Nói rồi Sa di ngâm lên kệ rằng:
“Natthi cetasikaṃ dukkhaṃ,
Anapekkhassa gāmaṇi;
Atikkhanto bhayaṃ sabbaṃ,
Khīṇasaṃyojano isi.
Khīṇā assa bhavanetti,
Diṭṭhā dhammā yathā tathā;
Nibbhayaṃ maraṇaṃ honti,
Bhāravoropananaṃ yathāti.”
“Nầy đảng trưởng không có sự khổ tâm đối với bậc vô dục, nhà đạo sĩ đã dứt trừ mọi kiết sử, là đã vượt qua tất cả sự lo sợ. Nếu như con mắt hữu được phá vỡ hợp pháp, ngay trong hiện kiếp thì sự chết là sự vô úy, giống như sự trút bỏ gánh nặng ấy vậy?”
Nghe dứt bài kệ tên tướng cướp quay lại nhìn năm trăm đồng đảng hỏi rằng:
- Mấy anh em sẽ làm gì?
- Thưa đại ca, đại ca sẽ làm gì?
- Từ lúc thấy pháp mầu huyền diệu, ta tự nghĩ: “Ta đã hết phận sự ở gia đình rồi.”, cho nên ta sẽ xuất gia với Ngài đây.
- Chúng tôi cũng đồng ý theo gương của đại ca.
- Lành thay, các hiền đệ.
Kế đó, năm trăm tên cướp đồng quì xuống đảnh lễ ông Sa di xin cho mình xuất gia.
Sa di Saṅkicca bảo năm trăm tên cướp lấy lưỡi gươm cạo tóc và cắt bỏ lại quần áo, lấy đất nâu nhuộm màu làm thành y đắp xong rồi, mới truyền mười giới cho đệ tử, lúc dắt họ đi ông thầy tự nghĩ: “Nếu ta đi luôn không về thăm các Trưởng lão thì các Ngài sẽ không thể hành Sa môn Pháp được, vì cứ ngỡ rằng bọn cướp đã bắt giết ta rồi. Từ lúc ta ra đi không một Ngài nào cầm được nước mắt, cứ mãi băn khoăn với ý nghĩ: “Tội nghiệp cho ông Sa di bị bọn cướp giết chết.”. Các Ngài không thể định tâm chuyên chú niệm đề mục được, bởi thế ta phải về thăm các Ngài.”.
Cùng với đoàn tùy tùng năm trăm Tỳ khưu, Sa di Saṅkicca trở về chỗ ngụ của các Trưởng lão cho các Ngài được thấy mình.
Các Ngài Trưởng lão mừng rỡ hỏi:
- Ồ! Bậc Thiện trí thức (Sappurisa) Saṅkicca, Ngài còn sống phải chăng?
Nghe vậy Saṅkicca đáp:
- Dạ phải, bạch các Ngài. Những vị nầy đã tính giết con nhưng không giết được, trở lại có tâm tịnh tín đối với ân đức của con, sau khi nghe pháp các vị nầy đã xuất gia, con về đây thăm các Ngài. Các Ngài hãy chuyên cần hành Sa môn Pháp từ nay về sau, còn con sẽ về yết kiến Đức Thế Tôn.
Sau khi đảnh lễ các Trưởng lão, Saṅkicca dắt các đệ tử về thăm thầy Tế độ, ông thầy hỏi:
- Nầy Saṅkicca, con mới kiếm được những đệ tử phải không?
- Dạ phải, bạch Ngài.
Rồi Sa di đem những việc đã qua trình cho thầy biết.
Trưởng lão bảo: “Nầy Saṅkicca, con hãy đi yết kiến Đức Bổn Sư đi”.
- Lành thay.
Sa di Saṅkicca đảnh lễ Trưởng lão rồi dắt các đệ tử đến chỗ Đức Bổn Sư đang ngự. Đức Bổn Sư cũng hỏi:
- Nầy Saṅkicca con mới kiếm được những đệ tử phải không?
Sa di Saṅkicca lại đem mọi việc vừa qua trình lên cho Đức Bổn Sư biết. Đức Bổn Sư hỏi các Tỳ khưu đệ tử: “Nầy các Tỳ khưu có đúng như thế không?”.
- Dạ đúng, bạch Ngài.
Nghe vậy, Đức Thế Tôn dạy rằng:
- Nầy các Tỳ khưu, các thầy đã làm nghề trộm cướp, dầu cho có sống cả trăm năm trong tà Giới hạnh, không bằng bây giờ chỉ sống một ngày mà Trì Giới nghiêm minh”.
Đức Bổn Sư thuyết pháp, rồi kết luận bằng bài kệ rằng:
“Yo ca vassasataṃ jīve,
Dussīlo asamāhito;
Ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo,
Sīlavantassa jhāyino.”
“Sống trăm năm, tuổi thọ trường,
Mà không giữ Giới, không nương pháp Thiền.
Không bằng sống một ngày nguyên,
Trì Giới trong sạch, tu Thiền nhất tâm.”
CHÚ GIẢI:
Dussīlo: Đồng nghĩa với Nissīlo là không có hạnh kiểm, phá giới.
Sīlavantassa: Người phá giới dù sống cả trăm năm nếu so với người Trì giới, tu hai pháp Thiền Chỉ Quán, chỉ sống trong một ngày, hoặc là trong giây lát thì người sau này vẫn quí báu cao thượng hơn.
Cuối thời pháp, năm trăm Tỳ khưu này đắc quả A La Hán với Tuệ Phân Tích. Đại chúng thính pháp cũng đều hưởng được lợi ích.
Thời gian sau, Sa di Saṅkicca thọ Cụ túc giới và khi tròn đủ mười hạ Tỳ khưu rồi mới thu nhận một vị Sa di, là cháu gọi Trưởng lão Saṅkicca bằng cậu, tên là Adhimuttaka (Siêu Thoát).
Khi Sa di tròn đủ hai mươi tuổi, Trưởng lão gọi ông và bảo: “Ta sẽ cho con thọ Cụ túc giới, con hãy đi về hỏi thân quyến cho biết rõ số tuổi của con rồi trở lại đây.”.
Từ giã thầy Tế độ, ông Sa di lên đường về thăm cha mẹ, dọc đường ông bị năm trăm tên cướp bắt, định giết ông để tế Chư Thiên, ông đã thuyết pháp cho họ nghe, khiến họ phát tâm trong sạch, thả ông ra và dặn: “Thầy không nên báo tin cho ai biết là có bọn chúng tôi ở trong chỗ này cả nhé!”.
Trên đường ngược chiều, thấy cha mẹ đến, ông cùng đi với cha mẹ trở lại lối cũ mà không nói cho ông bà biết sự thật để giữ mình, khi bị bọn cướp bắt và làm khó dễ, nên ông bà trách rằng: “Chắc có lẽ ông một phe với bọn cướp, nên không báo tin cho chúng tôi biết”.
Nghe tiếng khóc than của ông bà, bọn cướp mới biết ông Sa di đã giữ đúng lời hứa, dầu với cha mẹ cũng chẳng tiết lộ sự bí mật của họ, nên họ càng phát tâm tịnh tín đồng yêu cầu xin xuất gia.
Ông nầy cũng như Trưởng lão Saṅkicca lúc trước đã cho tất cả bọn cướp xuất gia rồi dắt họ về ra mắt thầy Hòa Thượng. Vâng lời thầy, ông đưa họ đến yết kiến Đức Bổn Sư và tường thuật mọi việc với Ngài. Đức Bổn Sư hỏi:
- Nầy các Tỳ khưu có đúng thế không?
- Bạch Ngài đúng vậy.
Y như lần trước, Đức Bổn Sư thuyết pháp cho năm trăm Tỳ khưu này nghe, rồi kết luận bằng kệ ngôn rằng:
“Yo ca vassasataṃ jīve,
Dussīlo asamāhito;
Ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo,
Sīlavantassa jhāyino.”
Do câu chuyện trên đây, sự tích Chú giải câu Kệ Pháp Cú này cũng được gọi là tích Sa di Adhimuttaka (Siêu Thoát).
Sa di Đòn Xóc pháp cao cường,
Gươm chém trơ trơ, cướp phải nhường,
Bảy tuổi đã làm thầy Tiếp dẫn,
Giúp năm trăm cướp được hoàn lương,
Đã cứu ba mươi Trưởng lão già,
Khỏi tay cướp giết ở rừng xa,
Thảy đều đắc quả A La Hán,
Ông dắt cướp về lễ Phật Đà.
Phật dạy các thầy mới xuất gia:
Một ngày Đạo hạnh, có Thiền na,
Còn hơn trăm tuổi không tự chế,
Tội lỗi như thời gian đã qua…
DỨT TÍCH SA DI ĐÒN XÓC
Saṃkiccasāmaṇeravatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Yo ca vassasataṃ jīveti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto saṃkiccasāmaṇeraṃ ārabbha kathesi.
Sāvatthiyaṃ kira tiṃsamattā kulaputtā satthu dhammakathaṃ sutvā sāsane uraṃ datvā pabbajiṃsu. Te upasampadāya pañcavassā hutvā satthāraṃ upasaṅkamitvā ganthadhuraṃ vipassanādhuranti dve dhurānīti sutvā “mayaṃ mahallakakāle pabbajitā”ti ganthadhure ussāhaṃ akatvā vipassanādhuraṃ pūretukāmā yāva arahattā kammaṭṭhānaṃ kathāpetvā, “bhante, ekaṃ araññāyatanaṃ gamissāmā”ti satthāraṃ āpucchiṃsu. Satthā “kataraṃ ṭhānaṃ gamissathā”ti pucchitvā “asukaṃ nāmā”ti vutte “tattha tesaṃ ekaṃ vighāsādaṃ nissāya bhayaṃ uppajjissati, tañca pana saṃkiccasāmaṇere gate vūpasamissati, atha nesaṃ pabbajitakiccaṃ pāripūriṃ gamissatī”ti aññāsi.
Saṃkiccasāmaṇero nāma sāriputtattherassa sāmaṇero sattavassiko jātiyā. Tassa kira mātā sāvatthiyaṃ aḍḍhakulassa dhītā. Sā tasmiṃ kucchigate ekena byādhinā taṅkhaṇaññeva kālamakāsi. Tassā jhāpiyamānāya ṭhapetvā gabbhamaṃsaṃ sesaṃ jhāyi. Athassā gabbhamaṃsaṃ citakato otāretvā dvīsu tīsu ṭhānesu sūlehi vijjhiṃsu. Sūlakoṭi dārakassa akkhikoṭiṃ pahari. Evaṃ gabbhamaṃsaṃ vijjhitvā aṅgārarāsimhi khipitvā aṅgāreheva paṭicchādetvā pakkamiṃsu. Gabbhamaṃsaṃ jhāyi, aṅgāramatthake pana suvaṇṇabimbasadiso dārako padumagabbhe nipanno viya ahosi. Pacchimabhavikassa sattassa hi sinerunā otthariyamānassapi arahattaṃ appatvā jīvitakkhayo nāma natthi. Punadivase “citakaṃ nibbāpessāmā”ti āgatā tathānipannaṃ dārakaṃ disvā acchariyabbhutacittajātā “kathañhi nāma ettakesu dārūsu khīyamānesu sakalasarīre jhāpiyamāne dārako na jhāyi, kiṃ nu kho bhavissatī”ti dārakaṃ ādāya antogāmaṃ gantvā nemittake pucchiṃsu. Nemittakā “sace ayaṃ dārako agāraṃ ajjhāvassissati, yāva sattamā kulaparivaṭṭā ñātakā duggatā bhavissanti? Sace pabbajissati, pañcahi samaṇasatehi parivuto vicarissatī”ti āhaṃsu. Tassa saṅkunā akkhikoṭiyā bhinnattā saṃkiccanti nāmaṃ kariṃsu. So aparena samayena saṃkiccoti paññāyi. Atha naṃ ñātakā “hotu, vaḍḍhitakāle amhākaṃ ayyassa sāriputtassa santike pabbājessāmā”ti posiṃsu. So sattavassikakāle “tava mātukucchiyaṃ vasanakāle mātā te kālamakāsi, tassā sarīre jhāpiyamānepi tvaṃ na jhāyī”ti kumārakānaṃ kathaṃ sutvā “ahaṃ kira evarūpā bhayā mutto, kiṃ me gharāvāsena, pabbajissāmī”ti ñātakānaṃ ārocesi. Te “sādhu, tātā”ti sāriputtattherassa santikaṃ netvā, “bhante, imaṃ pabbājethā”ti adaṃsu. Thero tacapañcakakammaṭṭhānaṃ datvā pabbājesi. So khuraggeyeva saha paṭisambhidāhi arahattaṃ pāpuṇi. Ayaṃ saṃkiccasāmaṇero nāma.
Satthā “etasmiṃ gate taṃ bhayaṃ vūpasamissati, atha nesaṃ pabbajitakiccaṃ pāripūriṃ gamissatī”ti ñatvā, “bhikkhave, tumhākaṃ jeṭṭhabhātikaṃ sāriputtattheraṃ oloketvā gacchathā”ti āha. Te “sādhū”ti vatvā therassa santikaṃ gantvā “kiṃ, āvuso”ti vutte mayaṃ satthu santike kammaṭṭhānaṃ gahetvā araññaṃ pavisitukāmā hutvā āpucchimhā, atha no satthā evamāha – “tumhākaṃ jeṭṭhabhātikaṃ oloketvā gacchathā”ti? “Tenamhā idhāgatā”ti. Thero “satthārā ime ekaṃ kāraṇaṃ disvā idha pahitā bhavissanti, kiṃ nu kho eta”nti āvajjento tamatthaṃ ñatvā āha – “atthi pana vo, āvuso, sāmaṇero”ti? “Natthi, āvuso”ti. “Sace natthi, imaṃ saṃkiccasāmaṇeraṃ gahetvā gacchathā”ti. “Alaṃ, āvuso, sāmaṇeraṃ nissāya no palibodho bhavissati, kiṃ araññe vasantānaṃ sāmaṇerenā”ti? “Nāvuso, imaṃ nissāya tumhākaṃ palibodho, apica kho pana tumhe nissāya imassa palibodho bhavissati. Satthāpi tumhe mama santikaṃ pahiṇanto tumhehi saddhiṃ sāmaṇerassa pahiṇanaṃ paccāsīsanto pahiṇi, imaṃ gahetvā gacchathā”ti. Te “sādhū”ti adhivāsetvā sāmaṇerena saddhiṃ ekatiṃsa janā theraṃ apaloketvā vihārā nikkhamma cārikaṃ carantā vīsayojanasatamatthake ekaṃ sahassakulaṃ gāmaṃ pāpuṇiṃsu.
Manussā te disvā pasannacittā sakkaccaṃ parivisitvā, “bhante, kattha gamissathā”ti pucchitvā “yathāphāsukaṭṭhānaṃ, āvuso”ti vutte pādamūle nipajjitvā “mayaṃ, bhante, ayyesu imaṃ ṭhānaṃ nissāya antovassaṃ vasantesu pañcasīlaṃ samādāya uposathakammaṃ karissāmā”ti yāciṃsu. Therā adhivāsesuṃ. Atha nesaṃ manussā rattiṭṭhānadivāṭṭhānacaṅkamanapaṇṇasālāyo saṃvidahitvā “ajja mayaṃ, sve maya”nti ussāhappattā upaṭṭhānamakaṃsu. Therā vassūpanāyikadivase katikavattaṃ kariṃsu, “āvuso, amhehi dharamānakabuddhassa santike kammaṭṭhānaṃ gahitaṃ, na kho pana sakkā aññatra paṭipattisampadāya buddhe ārādhetuṃ, amhākañca apāyadvārāni vivaṭāneva, tasmā aññatra pāto bhikkhācāravelaṃ, sāyaṃ therūpaṭṭhānavelañca sesakāle dve ekaṭṭhāne na bhavissāma, yassa aphāsukaṃ bhavissati, tena ghaṇḍiyā pahaṭāya tassa santikaṃ gantvā bhesajjaṃ karissāma, ito aññasmiṃ rattibhāge vā divasabhāge vā appamattā kammaṭṭhānamanuyuñjissāmā”ti.
Tesu evaṃ katikaṃ katvā viharantesu eko duggatapuriso dhītaraṃ upanissāya jīvanto tasmiṃ ṭhāne dubbhikkhe uppanne aparaṃ dhītaraṃ upanissāya jīvitukāmo maggaṃ paṭipajji. Therāpi gāme piṇḍāya caritvā vasanaṭṭhānaṃ āgacchantā antarāmagge ekissā nadiyā nhatvā vālukapuline nisīditvā bhattakiccaṃ kariṃsu. Tasmiṃ khaṇe so puriso taṃ ṭhānaṃ patvā ekamantaṃ aṭṭhāsi. Atha naṃ therā “kahaṃ gacchasī”ti pucchiṃsu. So tamatthaṃ ārocesi. Therā tasmiṃ kāruññaṃ uppādetvā, “upāsaka, ativiya chātosi, gaccha, paṇṇaṃ āhara, ekamekaṃ te bhattapiṇḍaṃ dassāmā”ti vatvā tena paṇṇe āhaṭe attanā attanā bhuñjananiyāmeneva sūpabyañjanehi sannahitvā ekamekaṃ piṇḍaṃ adaṃsu. Etadeva kira vattaṃ, yaṃ bhojanakāle āgatassa bhattaṃ dadamānena bhikkhunā aggabhattaṃ adatvā attanā bhuñjananiyāmeneva thokaṃ vā bahuṃ vā dātabbaṃ. Tasmā tepi tathā adaṃsu. So katabhattakicco there vanditvā pucchi – “kiṃ, bhante, ayyā, kenaci nimantitā”ti? “Natthi, upāsaka, nimantanaṃ, manussā devasikaṃ evarūpameva āhāraṃ dentī”ti. So cintesi – “mayaṃ niccakālaṃ uṭṭhāya samuṭṭhāya kammaṃ karontāpi evarūpaṃ āhāraṃ laddhuṃ na sakkoma, kiṃ me aññattha gatena, imesaṃ santikeyeva jīvissāmī”ti. Atha ne āha – “ahaṃ vattapaṭivattaṃ katvā ayyānaṃ santike vasituṃ icchāmī”ti. “Sādhu, upāsakā”ti. So tehi saddhiṃ tesaṃ vasanaṭṭhānaṃ gantvā sādhukaṃ vattapaṭivattaṃ karonto bhikkhū ativiya ārādhetvā dvemāsaccayena dhītaraṃ daṭṭhukāmo hutvā “sace, ayye, āpucchissāmi, na maṃ vissajjissanti, anāpucchā gamissāmī”ti tesaṃ anācikkhitvāva nikkhami. Ettakameva kirassa oḷārikaṃ khalitaṃ ahosi, yaṃ bhikkhūnaṃ anārocetvā pakkāmi.
Tassa pana gamanamagge ekā aṭavī atthi. Tattha pañcasatānaṃ corānaṃ “yo imaṃ aṭaviṃ pavisati, taṃ māretvā tassa maṃsalohitena tuyhaṃ balikammaṃ karissāmā”ti devatāya āyācanaṃ katvā vasantānaṃ sattamo divaso hoti. Tasmā sattame divase corajeṭṭhako rukkhaṃ āruyha olokento taṃ āgacchantaṃ disvā corānaṃ saññamadāsi. Te tassa aṭavimajjhaṃ paviṭṭhabhāvaṃ ñatvā parikkhipitvā taṃ gaṇhitvā gāḷhabandhanaṃ katvā araṇisahitena aggiṃ nibbattetvā dārūni saṅkaḍḍhitvā mahantaṃ aggikkhandhaṃ katvā sūlāni tacchiṃsu. So tesaṃ taṃ kiriyaṃ disvā, “sāmi, imasmiṃ ṭhāne neva sūkarā, na migādayo dissanti, kiṃ kāraṇā idaṃ karothā”ti pucchi. “Taṃ māretvā tava maṃsalohitena devatāya balikammaṃ karissāmā”ti. So maraṇabhayatajjito bhikkhūnaṃ taṃ upakāraṃ acintetvā kevalaṃ attano jīvitameva rakkhamāno evamāha – “sāmi, ahaṃ vighāsādo, ucchiṭṭhabhattaṃ bhuñjitvā vaḍḍhito, vighāsādo nāma kāḷakaṇṇiko, ayyā pana yato tato nikkhamitvā pabbajitāpi khattiyāva, asukasmiṃ ṭhāne ekatiṃsa bhikkhū vasanti, te māretvā balikammaṃ karotha, ativiya vo devatā tussissatī”ti. Taṃ sutvā corā “bhaddakaṃ esa vadeti, kiṃ iminā kāḷakaṇṇinā, khattiye māretvā balikammaṃ karissāmā”ti cintetvā “ehi, nesaṃ vasanaṭṭhānaṃ dassehī”ti tameva maggadesakaṃ katvā taṃ ṭhānaṃ patvā vihāramajjhe bhikkhū adisvā “kahaṃ bhikkhū”ti naṃ pucchiṃsu. So dve māse vasitattā tesaṃ katikavattaṃ jānanto evamāha – “attano divāṭṭhānarattiṭṭhānesu nisinnā, etaṃ ghaṇḍiṃ paharatha, ghaṇḍisaddena sannipatissantī”ti. Corajeṭṭhako ghaṇḍiṃ pahari.
Bhikkhū ghaṇḍisaddaṃ sutvā “akāle ghaṇḍi pahaṭā, kassaci aphāsukaṃ bhavissatī”ti āgantvā vihāramajjhe paṭipāṭiyā paññattesu pāsāṇaphalakesu nisīdiṃsu. Saṅghatthero core oloketvā pucchi – “upāsakā kenāyaṃ ghaṇḍi pahaṭā”ti? Corajeṭṭhako āha – “mayā, bhante”ti. “Kiṃ kāraṇā”ti? “Amhehi aṭavidevatāya āyācitaṃ atthi, tassā balikammakaraṇatthāya ekaṃ bhikkhuṃ gahetvā gamissāmā”ti. Taṃ sutvā mahāthero bhikkhū āha – “āvuso, bhātikānaṃ uppannakiccaṃ nāma jeṭṭhabhātikena nittharitabbaṃ, ahaṃ attano jīvitaṃ tumhākaṃ pariccajitvā imehi saddhiṃ gamissāmi, mā sabbesaṃ antarāyo hotu, appamattā samaṇadhammaṃ karothā”ti. Anuthero āha – “bhante, jeṭṭhabhātu kiccaṃ nāma kaniṭṭhassa bhāro, ahaṃ gamissāmi, tumhe appamattā hothā”ti. Iminā upāyena “ahameva ahamevā”ti vatvā paṭipāṭiyā tiṃsapi janā uṭṭhahiṃsu, evaṃ te neva ekissā mātuyā puttā, na ekassa pituno, nāpi vītarāgā, atha ca pana avasesānaṃ atthāya paṭipāṭiyā jīvitaṃ pariccajiṃsu. Tesu ekopi “tvaṃ yāhī”ti vattuṃ samattho nāma nāhosi.
Saṃkiccasāmaṇero tesaṃ kathaṃ sutvā, “bhante, tumhe tiṭṭhatha, ahaṃ tumhākaṃ jīvitaṃ pariccajitvā gamissāmī”ti āha. Te āhaṃsu – “āvuso, mayaṃ sabbe ekato māriyamānāpi taṃ ekakaṃ na vissajjessāmā”ti. “Kiṃ kāraṇā, bhante”ti? “‘Āvuso, tvaṃ dhammasenāpatisāriputtattherassa sāmaṇero, sace taṃ vissajjessāma, sāmaṇeraṃ me ādāya gantvā corānaṃ niyyādiṃsū’ti thero no garahissati, taṃ nindaṃ nittharituṃ na sakkhissāma, tena taṃ na vissajjessāmā”ti. “Bhante, sammāsambuddho tumhe mama upajjhāyassa santikaṃ pahiṇantopi, mama upajjhāyo maṃ tumhehi saddhiṃ pahiṇantopi idameva kāraṇaṃ disvā pahiṇi, tiṭṭhatha tumhe, ahameva gamissāmī”ti so tiṃsa bhikkhū vanditvā “sace, bhante, me doso atthi, khamathā”ti vatvā nikkhami. Tadā bhikkhūnaṃ mahāsaṃvego uppajji, akkhīni assupuṇṇāni hadayamaṃsaṃ pavedhi. Mahāthero core āha – “upāsakā ayaṃ daharako tumhe aggiṃ karonte, sūlāni tacchante, paṇṇāni attharante disvā bhāyissati, imaṃ ekamante ṭhapetvā tāni kiccāni kareyyāthā”ti. Corā sāmaṇeraṃ ādāya gantvā ekamante ṭhapetvā sabbakiccāni kariṃsu.
Kiccapariyosāne corajeṭṭhako asiṃ abbāhitvā sāmaṇeraṃ upasaṅkami. Sāmaṇero nisīdamāno jhānaṃ samāpajjitvāva nisīdi. Corajeṭṭhako asiṃ parivattetvā sāmaṇerassa khandhe pātesi, asi namitvā dhārāya dhāraṃ pahari, so “na sammā pahari”nti maññamāno puna taṃ ujukaṃ katvā pahari. Asi tālapaṇṇaṃ viya veṭhayamāno tharumūlaṃ agamāsi. Sāmaṇerañhi tasmiṃ kāle sinerunā avattharantopi māretuṃ samattho nāma natthi, pageva asinā. Taṃ pāṭihāriyaṃ disvā corajeṭṭhako cintesi – “pubbe me asi silāthambhaṃ vā khadirakhāṇuṃ vā kaḷīraṃ viya chindati, idāni ekavāraṃ nami, ekavāraṃ tālapattaveṭhako viya jāto. Ayaṃ nāma asi acetanā hutvāpi imassa guṇaṃ jānāti, ahaṃ sacetanopi na jānāmī”ti. So asiṃ bhūmiyaṃ khipitvā tassa pādamūle urena nipajjitvā, “bhante, mayaṃ dhanakāraṇā aṭaviṃ paviṭṭhāmhā, amhe dūratova disvā sahassamattāpi manussā pavedhanti, dve tisso kathā kathetuṃ na sakkonti. Tava pana santāsamattampi natthi, ukkāmukhe suvaṇṇaṃ viya supupphitakaṇikāraṃ viya ca te mukhaṃ virocati, kiṃ nu kho kāraṇa”nti pucchanto imaṃ gāthamāha –
“Tassa te natthi bhītattaṃ, bhiyyo vaṇṇo pasīdati;
Kasmā na paridevesi, evarūpe mahabbhaye”ti. (theragā. 706);
Sāmaṇero jhānā vuṭṭhāya tassa dhammaṃ desento, “āvuso gāmaṇi, khīṇāsavassa attabhāvo nāma sīse ṭhapitabhāro viya hoti, so tasmiṃ bhijjante vā nassante vā tussateva, na bhāyatī”ti vatvā imā gāthā abhāsi –
“Natthi cetasikaṃ dukkhaṃ, anapekkhassa gāmaṇi;
Atikkantā bhayā sabbe, khīṇasaṃyojanassa ve.
“Khīṇāya bhavanettiyā, diṭṭhe dhamme yathātathe;
Na bhayaṃ maraṇe hoti, bhāranikkhepane yathā”ti. (theragā. 707-708);
So tassa kathaṃ sutvā pañca corasatāni oloketvā āha – “tumhe kiṃ karissathā”ti? “Tumhe pana, sāmī”ti. “Mama tāva, bho, ‘evarūpaṃ pāṭihāriyaṃ disvā agāramajjhe kammaṃ natthi, ayyassa santike pabbajissāmī’ti. Mayampi tatheva karissāmā”ti. “Sādhu, tātā”ti tato pañcasatāpi corā sāmaṇeraṃ vanditvā pabbajjaṃ yāciṃsu. So tesaṃ asidhārāhi eva kese ceva vatthadasā ca chinditvā tambamattikāya rajitvā tāni kāsāyāni acchādāpetvā dasasu sīlesu patiṭṭhāpetvā te ādāya gacchanto cintesi – “sacāhaṃ there adisvāva gamissāmi, te samaṇadhammaṃ kātuṃ na sakkhissanti. Corānañhi maṃ gahetvā nikkhantakālato paṭṭhāya tesu ekopi assūni sandhāretuṃ nāsakkhi, ‘mārito nu kho sāmaṇero, no’ti cintentānaṃ kammaṭṭhānaṃ abhimukhaṃ na bhavissati, tasmā disvāva ne gamissāmī”ti. So pañcasatabhikkhuparivāro tattha gantvā attano dassanena paṭiladdhaassāsehi tehi “kiṃ, sappurisa, saṃkicca, laddhaṃ te jīvita”nti vutte, “āma, bhante, ime maṃ māretukāmā hutvā māretuṃ asakkontā mama guṇe pasīditvā dhammaṃ sutvā pabbajitā, ahaṃ ‘tumhe disvāva gamissāmī’ti āgato, appamattā samaṇadhammaṃ karotha, ahaṃ satthu santikaṃ gamissāmī”ti te bhikkhū vanditvā itare ādāya upajjhāyassa santikaṃ gantvā “kiṃ saṃkicca, antevāsikā te laddhā”ti vutte, “āma, bhante”ti taṃ pavattiṃ ārocesi. Therena “gaccha saṃkicca, satthāraṃ passāhī”ti vutte, “sādhū”ti theraṃ vanditvā te ādāya satthu santikaṃ gantvā satthārāpi “kiṃ saṃkicca, antevāsikā te laddhā”ti vutte, “āma, bhante”ti taṃ pavattiṃ ārocesi. Satthā “evaṃ kira, bhikkhave”ti pucchitvā, “āma, bhante”ti vutte, “bhikkhave, tumhākaṃ corakammaṃ katvā dussīle patiṭṭhāya vassasataṃ jīvanato idāni sīle patiṭṭhāya ekadivasampi jīvitaṃ seyyo”ti vatvā anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –
“Yo ca vassasataṃ jīve, dussīlo asamāhito;
Ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo, sīlavantassa jhāyino”ti.
Tattha dussīloti nissīlo. Sīlavantassāti dussīlassa vassasataṃ jīvanato sīlavantassa dvīhi jhānehi jhāyino ekadivasampi ekamuhuttampi jīvitaṃ seyyo, uttamanti attho.
Desanāvasāne te pañcasatāpi bhikkhū saha paṭisambhidāhi arahattaṃ pāpuṇiṃsu, sampattamahājanassāpi sātthikā dhammadesanā ahosīti.
Aparena samayena saṃkicco upasampadaṃ labhitvā dasavasso hutvā sāmaṇeraṃ gaṇhi. So pana tasseva bhāgineyyo adhimuttasāmaṇero nāma. Atha naṃ thero paripuṇṇavassakāle āmantetvā “upasampadaṃ te karissāmi, gaccha, ñātakānaṃ santike vassaparimāṇaṃ pucchitvā ehī”ti uyyojesi. So mātāpitūnaṃ santikaṃ gacchanto antarāmagge pañcasatehi corehi balikammatthāya māriyamāno tesaṃ dhammaṃ desetvā pasannacittehi tehi “na te imasmiṃ ṭhāne amhākaṃ atthibhāvo kassaci ārocetabbo”ti vissaṭṭho paṭipathe mātāpitaro āgacchante disvā tameva maggaṃ paṭipajjantānampi tesaṃ saccamanurakkhanto nārocesi. Tesaṃ corehi viheṭhiyamānānaṃ “tvampi corehi saddhiṃ ekato hutvā maññe, amhākaṃ nārocesī”ti paridevantānaṃ saddaṃ sutvā te mātāpitūnampi anārocitabhāvaṃ ñatvā pasannacittā pabbajjaṃ yāciṃsu. Sopi saṃkiccasāmaṇero viya te sabbe pabbājetvā upajjhāyassa santikaṃ ānetvā tena satthu santikaṃ pesito gantvā taṃ pavattiṃ ārocesi. Satthā “evaṃ kira, bhikkhave”ti pucchitvā, “āma, bhante”ti vutte purimanayeneva anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imameva gāthamāha –
“Yo ca vassasataṃ jīve, dussīlo asamāhito;
Ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo, sīlavantassa jhāyino”ti.
Idampi adhimuttasāmaṇeravatthu vuttanayamevāti.
Saṃkiccasāmaṇeravatthu navamaṃ.
VIII. 9. Saṁkicca the Novice
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
110. Though one should live a hundred years, corrupt, not meditating,
Yet were it better to live a single day in the practice of virtue, in meditation.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to the novice Saṁkicca.
The story goes that thirty men of respectable families living at Sāvatthi heard the Teacher preach the Law, yielded the breast to his teaching, and became monks. Five years after their full profession, they approached the Teacher, and listened to his exposition of the Two Burdens; namely, the Burden of Study and the Burden of Meditation. Concluding that because they had become monks in old age, it would be impossible for them to fulfil the Burden of Study, but desiring to fulfill the Burden of Meditation, they had the Teacher assign them a Formula of Meditation leading to Arahatship, and requested his permission to go to a certain retreat in the forest. The Teacher asked them to what place they wished to go. When they told him, he thought to himself, “They will be in danger of harm there through a certain eater of broken meats. But if the novice Saṁkicca accompanies them, the danger will be removed, and they will reach the goal of their Religious Life.”
The novice Saṁkicca was the novice of the Elder Sāriputta and was but seven years old. As for his birth, his mother was the daughter of a rich man of Sāvatthi, and while he yet remained in the womb, his mother died suddenly of a certain disease. When her body was burned, all of her flesh was burned with it, save only the flesh of her unborn child. In taking the unborn child from the pyre, the sticks that they used pierced the flesh in two or three places, and the sharp point of one stick hit the pupil of the boy’s eye. Having thus pierced the flesh of the unborn child, they threw his body on the heap of coals, covered it entirely with coals, and went their way. The flesh of the child was burned away, but on the summit of the heap of coals there appeared, sitting as it were in the calyx of a lotus-flower, a little boy who looked like a golden image. For he was in his last existence before attaining Nibbāna, and since he had not yet attained Arahatship, nothing could have destroyed him, not even had Mount Sineru fallen upon him to crush him.
When they went the next day to extinguish the pile, and saw the child lying there in such wise, they were filled with wonder and amazement. And they said to themselves, “How did it happen that with all these sticks of wood aflame, and his whole body on fire, this child was not burned to death? What does this portend?” So they carried the child into the village and consulted the fortune-tellers. The fortune-tellers said, “If this child lives the life of a householder, his kinsfolk will not be poor for seven generations. If he becomes a monk, he will go about with a retinue of five hundred monks.” Because the pupil of his eye had been pierced with a stick (saṁku), they gave him the name Saṁkicca; and from that time forth he bore the name Saṁkicca. His kinsfolk reared him with the thought in their minds, “Let be! when he has grown up we will have our noble Elder make a monk of him.”
When he was seven years old, he heard his boy-companions say, “Your mother died while you were still in her womb. Although her body was burned on the pile, nevertheless you yourself were not burned.” Thereupon he said to his kinsfolk, “My companions tell me that I was saved from so terrible a danger as that; why should I live the life of a householder? I will become a monk.” “Very well, dear child,” said they, and taking the boy to the Elder Sāriputta, they committed him to his care, saying, “Reverend Sir, receive this child into the Order.” The Elder taught him the Formula of Meditation, consisting of the first five of the constituent parts of the body, and received him into the Order. The moment the razor touched his hair, he attained Arahatship. This was the novice Saṁkicca.
The Teacher, knowing within himself, “If this novice goes with them, this danger will be removed, and they will reach the goal of their Religious Life,” said to them, “Monks, see your older brother the Elder Sāriputta before you go.” “Very well,” said they, and straightway went to the Elder. “What is it, brethren?” said he. They replied, “We have received our Formula of Meditation from the Teacher, and asked his permission to go to the forest. But he said to us, ‘See your older brother before you go;’ therefore we have come here.” The Elder thought to himself, “The Teacher must have had some reason for sending these monks here; what can it be?” Having considered the matter, he became aware of the reason; whereupon he said to them, “Is the novice with you?” “Nay, brother, he is not.” “In that case get the novice Saṁkicca and take him with you.” “Nay, brother, the novice will be a hindrance to us. Of what use will the novice be to us during our residence in the forest?” “You are mistaken, brethren. The novice will not be a hindrance to you. On the contrary, you will be a hindrance to him. The Teacher sent you to me because he wished the novice to accompany you. Therefore take him with you when you go.”
“Very well,” said they, consenting. So they took the novice with them, and, thirty-one in number, they bade farewell to the Elder and departed from the monastery. They traveled from place to place, and after making a journey of a hundred and twenty leagues, they came to a village in which dwelt a thousand families. When the inhabitants saw them, their hearts were filled with joy. After ministering faithfully to their needs, they asked them, “Reverend Sirs, where do you intend to go?” “To a comfortable lodging, brethren,” said the monks. Thereupon the inhabitants prostrated themselves before their feet and begged them to remain, saying, “Reverend Sirs, if you will take up your residence near this place for the season of the rains, we will take upon ourselves the Five Precepts and perform the Fast-Day Duties.”
The Elders accepted the invitation. Thereupon the inhabitants arranged for them night-quarters and day-quarters, covered walks, and huts of leaves and grass. And distributing the duties day by day among the several groups, so that each might do his share and none be overburdened, they ministered faithfully to their needs. On the day when they entered upon residence for the rainy season, the Elders came to the following agreement, “Brethren, we have received our Formula of Meditation from the living Buddha; and it is impossible to win the favor of the Buddhas otherwise than by the faithful performance of religious duties. Now the doors of the states of suffering stand open before us; therefore with the exception of the early morning, when we go the round for alms, and of the evening, when we wait upon the Elder, at no time other than these two, may two of us be together. If any one fall sick, let him strike upon a bell and we will go to him and provide him with medicine. From this time forth, at whatsoever time of the night or of the day it may be, let us apply ourselves diligently to our Formula of Meditation.” Having made this agreement, they entered upon residence.
Now at this time a poor man who had been supported by one of his daughters, but who had been obliged to remove from his former place of residence on account of lack of food there, set out on a journey to obtain support from another daughter. On the same day the Elders, after making their round for alms in the village, returning to their place of residence, bathed in a certain river by the way, and sat down on a bed of sand to eat their meal.
At that moment the poor man came to that place and stood respectfully on one side. “Whence do you come?” the Elders asked him. The poor man told his story. The Elders took pity on him and said, “Lay disciple, you seem to be very hungry. Go get a leaf, and each of us will give you a portion of rice.” When he brought the leaf, they mixed rice with sauce and curry, and each of them gave him a portion of the same kind of food they were themselves eating. For it is said, “Should a stranger come at meal-time and a monk offer him food, failing the best food, he should give him precisely the same kind of food he himself is eating, be it little or much.” Therefore did these monks also act accordingly.
When he had finished his meal, he bowed to the Elders and asked, “Reverend Sirs, has any one invited you to a meal?” “We have received no invitation, lay disciple. From day to day men give us just this sort of food.” The poor man thought to himself, “Even were we up and doing every moment of the time, we could never obtain food like this. Why should I go elsewhere? I will live with these monks.” So he said to them, “I should like to live with you, performing the major and minor duties.” “Very well, lay disciple.” So he accompanied them to their place of residence, and by his faithful performance of the major and minor duties won their favor completely.
When two months had passed, he desired to see his daughter. But because he thought that in case he asked permission of the monks they would not let him go, he decided to leave even without their permission. So he left without so much as asking their permission. This was the only gross breach of propriety he committed; namely, in leaving without obtaining permission of the monks.
As he proceeded on his journey, he came to a certain forest. Now for seven days there had been living in this forest five hundred thieves, who had made the following vow to a spirit, “Whoever enters this forest, we will kill him and make an offering to you with his flesh and blood.” Therefore when the oldest thief climbed a tree on the seventh day to look for victims and saw the man coming, he gave a sign to the thieves; and as soon as they were sure that he was well within the forest, they surrounded him, seized him, and bound him fast. Then gathering a quantity of firewood and kindling a fire by attrition, they started a great bonfire and cut and sharpened wooden stakes.
When he saw what they were doing, he said to the ringleader, “Master, I see no pigs right here, nor any other wild animals. Why are you making all these preparations?” “We intend to kill you and to make an offering to a spirit with your flesh and blood.” Terrified with the fear of death, he gave not a moment’s thought to the kind assistance he had received from the monks, but sought only to save his own life. Said he, “Master, I am only an eater of broken meats; that is to say, I have been brought up to eat only the remnants of food eaten by others. I am only an eater of broken meats, the very personification of adversity. But in such and such a place reside thirty-one monks, men of princely rank, worthy men who have retired from the world here and there. Kill them, make an offering with their blood, and your spirit will be pleased beyond measure.”
When the thieves heard this, they thought to themselves, “This man makes a good suggestion. Of what use to us is this personification of adversity? Let us kill these men of princely rank and make an offering with their blood.” So they said to the man, “Go ahead and show us where they reside.” And taking him along as guide, they arrived at the place he mentioned. Seeing no monks within the monastery, they asked him, “Where are the monks?” The man, since he had lived with the monks for two months and knew all about the agreement they had made, replied as follows, “They are sitting in their night-quarters and in their day-quarters. Let someone strike the bell, and at the sound of the bell they will all assemble.”
So the ringleader of the thieves struck the bell. When the monks heard the sound of the bell, they thought, “It is an unusual time for the bell to be struck. Who can be sick?” And coming to the monastery court, they sat down in order on the stone seats which had been placed there. The Elder of the Assembly looked at the thieves and asked, “Lay disciples, who struck this bell?” The ringleader of the thieves replied, “I did, Reverend Sir.” “For what reason?” “We made a vow to the forest-spirit, and wish to take one monk with us for the purpose of making an offering.”
When the Chief Elder heard this, he said to the monks, “Brethren, when brothers undertake a duty, the final decision rests with the senior brother. Therefore I will surrender my life for your sake and go with these men.” And he added, “Let not death be the portion of all; perform your meditations with heedfulness.” The Junior Elder said, “Reverend Sir, the duty of the senior brother should be borne by the junior. I will go. Be heedful.” Likewise did all thirty monks rise in order and say, “Let none but me go.” Thus did they, although not the sons of the same mother or of the same father, because they were free from the Attachments, rise in order, and offer to surrender their lives for the sake of the rest. Not one was so cowardly as to say, “You go.”
When the novice Saṁkicca heard them speak thus, he said, “Reverend Sirs, you remain here; I will surrender my life for you and go.” “Brother, even if we’re all murdered here together, we’ll not let you go alone.” “Why, Reverend Sir?” “Brother, you are the novice of the Elder Sāriputta, the Captain of the Faith. If we let you go, the Elder will blame us, saying, ‘They took my novice with them, and then went and handed him over to a pack of thieves;’ and we shall not be able to escape the reproach. For this reason we will not let you go.” “Reverend Sir, the Supremely Enlightened sent you to my preceptor, and my preceptor sent me with you for this very reason. You remain here; I alone will go.” And bowing to the thirty monks, he said, “Reverend Sirs, if I have been guilty of any fault, pray forgive me.” So saying, he departed.
The monks were profoundly moved, their eyes filled with tears, and their heart’s flesh trembled. The Chief Elder said to the thieves, “Lay disciples, this boy will be frightened if he sees you building a fire, sharpening stakes, and spreading leaves. Therefore, while you are making these preparations, let him remain at a distance.”
The thieves took the novice with them, directed him to stand aside, and made all the preparations. When everything was in readiness, the ringleader of the thieves unsheathed his sword and approached the novice. The novice sat down, and sitting there, entered into a state of trance. The ringleader swung his sword and brought it down on the novice’s shoulder. But the sword bent double and edge struck edge. Thinking to himself, “I did not deliver the blow properly,” the thief straightened the sword and delivered another blow. This time the sword split from hilt to tip like a palm-leaf. (No one could have killed the novice at that time, even by piling Mount Sineru on top of him; much less with a sword.)
When the ringleader of the thieves saw the miracle, he thought to himself, “Formerly my sword cut a stone pillar or an acacia stump as easily as the sprout of a plant. But just now it has once bent and once split like a palm-leaf. This sword, though it be insensible metal, knows the virtue of this youth; but I, who possess the gift of reason, know it not.” So saying, he flung his sword upon the ground, prostrated himself on his breast before the feet of the novice, and said, “Reverend Sir, we are in this forest for the sake of booty. Men, even when there are a thousand of them, seeing us afar off, tremble, and when there are only two or three of them, cannot utter a word. But you show not so much as a tremor, and your face is bright as gold in a crucible, or a kaṇikāra in full bloom. What is the reason?” And repeating the question, he pronounced the following Stanza,
You tremble not, nor fear; nay more, your appearance is tranquil;
Why weep you not at such a horror?
The novice, rising from trance, preached the Law to the thief, saying, “Brother chief, he that has rid himself of the Depravities regards his existence as a burden set on his head, which, when it is destroyed, brings joy, not fear,” and uttered the following Stanzas,
Chief, he that is free from desire has no mental suffering;
Seer, he that has rid himself of attachment has passed beyond all fear.
If the Eye of Existence is destroyed as it should be in this life,
Death is without terrors and is like the putting down of a burden.
The ringleader of the thieves listened to the words of the novice, looked at the five hundred thieves, and said, “What do you intend to do?” “But you, master?” “So wonderful was the miracle I beheld just now that I have no more use for the life of a householder. I intend to become a monk under the novice.” “We will do the same thing too.” “Well said, friends.” Then the five hundred bowed to the novice and asked to be admitted to the Order. With the blades of their swords and arrows he cut off their hair and the skirts of their garments, and dyeing their garments in reddish-yellow earth, he caused them to put on yellow robes. Having so done, he established them in the Ten Precepts, and taking them with him, set out. He thought to himself, “If I go without seeing the Elders, they will not be able to perform their meditations; for doubtless, ever since I was captured by the thieves and went away with them, not one of them has been able to restrain his tears. With the thought in their minds, ‘Our novice has been killed,’ they will not be able to keep the Formula of Meditation before their minds. So I will see them before I go.”
So with a retinue of five hundred monks he went to their place of residence. When they saw him, they were relieved in mind and said, “Good Saṁkicca, did they spare your life?” “Yes, Reverend Sirs. They sought to kill me, but were unable to do so, and believing in my virtues, they hearkened to the Law and retired from the world. I have come to see you before I depart. Perform your meditations with heedfulness. I am going to see the Teacher.” So saying, he bowed to those monks, and taking his own monks with him, went to his preceptor. “Saṁkicca, you have obtained pupils?” “Yes, Reverend Sir,” replied the novice and told him what had happened. The Elder said to him, “Saṁkicca, go see the Teacher.” “Very well,” said the novice. Bowing to the Elder, he took his monks with him and went to the Teacher.
The Teacher said to him, “Saṁkicca, you have obtained pupils?” Saṁkicca told him what had happened. The Teacher asked the monks, “Monks, is his story true?” “Yes, Reverend Sir.” Said the Teacher, “Monks, it were better for you to live but a single day, standing fast in virtue as you do now, than to live for a hundred years, confirmed in viciousness, committing acts of plunder.” And joining the connection, he instructed them in the Law by pronouncing the following Stanza,
110. Though one should live a hundred years, corrupt, not meditating,
Yet were it better to live a single day in the practice of virtue, in meditation.
After a time Saṁkicca made his full profession. When he had been a monk for ten years, he received his sister’s son as a novice, and the novice’s name was Atimuttaka. When the novice reached the proper age, the Elder sent him home, saying, “We are ready to profess you; go home to your parents and find out your exact age.” The novice set out for home to see his mother and father.
On his way home he was captured by five hundred thieves, who threatened to kill him for the purpose of making an offering. But he converted them by preaching the Law to them, and they released him on condition that he should tell no one of their existence. Shortly afterwards he saw his mother and father coming along the road from the opposite direction, and although they were going straight towards the thieves, he kept his word to the thieves and did not tell them. His parents suffered rough treatment at the hands of the thieves. And they wept and said to him, “You also were in league with the thieves, no doubt, and for that reason refrained from telling us.” The thieves heard their reproaches and lamentations, and perceiving that the youth had kept his word and had refrained from telling his mother and father, believed in their hearts, and requested to be received into the Order. Like the novice Saṁkicca, he received them all into the Order and conducted them to his preceptor. His preceptor sent him to the Teacher, to whom he went and told what had happened. The Teacher asked the monks, “Monks, is his story true?” “Yes, Reverend Sir.” Then the Teacher joined the connection as before, and instructing them in the Law, pronounced the following Stanza,
110. Though one should live a hundred years, corrupt, not meditating.
Yet were it better to live a single day in the practice of virtue, in meditation.
- Dhammapāla refers to this story at Thera-Gāthā Commentary, ccxl, and quotes the Dhammapada Commentary by name. Text: N ii. 240-253.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.