Chú giải Pháp Cú · Kệ 193 · Dhp 193

Tích Câu Hỏi Trưởng Lão Ananda

Ānandattherapañhavatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 193 Kinh Pháp Cú, phẩm Phật, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 193)

“Dullabho purisājañño,
Na so sabbattha jāyati;
Yattha so jāyati dhīro,
Taṃ kulaṃ sukhamedhati.”

“Khó gặp bậc thánh nhơn,
Không phải đâu cũng có.
Chỗ nào bậc trí sanh,
Gia đình tất an lạc.”
(Ngài HT Minh Châu)

Khi Đức Thế Tôn ngự tại Jetavana, đề cập đến các câu hỏi của Đại Đức Ānanda, Ngài thuyết lên kệ ngôn nầy.

Được nghe rằng: Một hôm, Trưởng Lão Ānanda ngồi trên chỗ ngồi ban ngày, khởi lên sự suy nghĩ rằng:

- Bậc Đạo Sư phán dạy rằng: Voi thuần chũng thì sanh vào dòng Chaddanta hay Uposatha, ngựa thuần chủng thì sanh vào dòng Sindhava hay dòng Valāhaka, bò thuần chủng thì sanh vào dòng Dakkhināpathajampada…Đó là Ngài nói đến sanh chủng của những chúng sanh cao quí là voi thuần chủng…Còn Bậc Đại Nhân thì sanh vào dòng nào nhỉ?

Rồi Trưởng Lão đi vào yết kiến Bậc Đạo Sư, đảnh lễ Ngài, Bạch hỏi về vấn đề đấy. Đức Thế Tôn phán rằng:

- Nầy Ānanda! Bậc Đại Nhân không sanh cùng khắp, mà chỉ giáng sanh vào miền trung tâm (thế giới). Nơi có chu vi là 300 do tuần đường kính, rộng 900 do tuần. Khi tái sanh thì không sanh vào gia tộc có dòng dõi thấp kém, thường chỉ sanh vào dòng cao quí nhất trong thời ấy như là dòng Hoàng Gia hay là dòng Bà la môn cao thượng.

Rồi Ngài thuyết lên kệ ngôn rằng:

“Dullabho purisājañño,
Na so sabbattha jāyati;
Yattha so jāyati dhīro,
Taṃ kulaṃ sukhamedhati.”

“Khó gặp bậc thánh nhơn,
Không phải đâu cũng có.
Chỗ nào bậc trí sanh,
Gia đình tất an lạc.”
(Ngài HT Minh Châu)

193. Khó tìm được hạng người trí tuệ cao siêu. Người như thế không sanh ra tại nơi nào. Nơi nào có người thiện trí đản sanh, gia đình ấy dồi dào hạnh phúc.

CHÚ GIẢI:

Dullabho…nghĩa là Bậc Đại Nhân là người khó tìm, giống như voi thuần chủng… Bậc Đại Nhân không sanh ra nơi cùng khắp, tức là nơi biên địa hay trong gia tộc dòng hạ liệt, mà chỉ sanh vào trong gia tộc thuộc dòng Bà la môn cao quý hay dòng Sát Đế Lỵ là giai cấp cao quí nhất đương thời, là nơi tôn kính, nhận lãnh sự đảnh lễ của đại chúng, chỉ sanh nơi trung tâm địa cầu mà thôi.

Bậc Đại Nhân, tức là bậc đại trí tuệ tột cùng, nghĩa là Bậc Chánh Đẳng Giác khi tái sanh như vậy, thường sanh vào gia tộc nào thì gia tộc ấy hằng được sự an lạc dồi dào.

Dứt Pháp thoại nhiều người chứng đạt Thánh Quả.

“Có chi hạnh phúc nhất trên đời?”
Tăng chúng bàn nhau, thử đáp lời,.
Người nói: làm Vua là sướng nhất!
Được yêu, hoặc cơm thịt ngon xơi!
Phật dạy: Tỳ khưu sống lục hoà,
Hành chung tăng sự, chớ chia ra,
Tăng càng tăng trưởng khi đoàn kết,
Khỏi sợ suy tàn, đáng ngợi ca:
“Hạnh phúc thay chư Phật giáng sinh!
Hạnh phúc thay chánh Pháp xương minh!
Hạnh phúc thay Tăng già hoà hiệp!
Hạnh phúc thay tứ chúng tu hành!

DỨT TÍCH CÂU HỎI CỦA TRƯỞNG LÃO ĀNANDA

Ānandattherapañhavatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Dullabhoti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto ānandattherassa pañhaṃ ārabbha kathesi.

Thero hi ekadivasaṃ divāṭṭhāne nisinno cintesi – “hatthājānīyo chaddantakule vā uposathakule vā uppajjati, assājānīyo sindhavakule vā valāhakassarājakule vā, usabho goājanīyo dakkhiṇapathetiādīni vadantena satthārā hatthiājānīyādīnaṃ uppattiṭṭhānādīni kathitāni, purisājānīyo pana kahaṃ nu kho uppajjatī”ti. So satthāraṃ upasaṅkamitvā vanditvā ekamantaṃ nisīditvā etamatthaṃ pucchi. Satthā, “ānanda, purisājānīyo nāma sabbattha nuppajjati, ujukato pana tiyojanasatāyāme vitthārato aḍḍhateyyasate āvaṭṭato navayojanasatappamāṇe majjhimapadesaṭṭhāne uppajjati. Uppajjanto ca pana na yasmiṃ vā tasmiṃ vā kule uppajjati, khattiyamahāsālabrāhmaṇamahāsālakulānaṃ pana aññatarasmiṃyeva uppajjatī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Dullabho purisājañño, na so sabbattha jāyati;
Yattha so jāyatī dhīro, taṃ kulaṃ sukhamedhatī”ti.

Tattha dullabhoti purisājañño hi dullabho, na hatthiājānīyādayo viya sulabho, so sabbattha paccantadese vā nīcakule vā na jāyati, majjhimadesepi mahājanassa abhivādanādisakkārakaraṇaṭṭhāne khattiyabrāhmaṇakulānaṃ aññatarasmiṃ kule jāyati. Evaṃ jāyamāno yattha so jāyati dhīro uttamapañño sammāsambuddho, taṃ kulaṃ sukhamedhatīti sukhappattameva hotīti attho.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.

Ānandattherapañhavatthu sattamaṃ.

XIV. 7. Whence come Men of Noble Birth?

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

193. It is not easy to find...

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to a question asked by the Elder Ānanda.

One day as the Elder sat in his day-quarters, he thought to himself, “The Teacher has told us whence come well-bred elephants, horses, and bullocks. ‘Noble elephants,’ said he, ‘are bred from the stock of Chaddanta or of Uposatha; noble chargers from the stock of Valāhaka, king of horses; and noble bullocks are raised in the Dekkan.’ But men of noble birth, – now whence pray come they?” He went to the Teacher, saluted him, and asked him about the matter. Said the Teacher, “Ānanda, your ‘men of noble birth’, – it is not everywhere that they are born. But in the Middle Country, three hundred leagues long in a straight line and nine hundred in a circuit, – there they are born. But when they are born, it is not in any family soever that they are born, but only in a family here and there of some Khattiya or Brahman noble.” So saying, he pronounced the following Stanza,

193. It is not easy to find a man of noble birth; it is not everywhere that such a man is born;
Wherever is born a man that is steadfast, the family prospers wherein he is born.

  1. Text: N iii. 247-249.
  2. See Jātaka 479: iv. 232.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.