Tích Cậu Kim Hoàn
Maṭṭhakuṇḍalīvatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 2 Kinh Pháp Cú, phẩm Song Yếu, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 02) “Manopubbaṅgamādhammā,“Tâm đi trước các pháp,
Manoseṭṭhā manomayā;
Manasā ce pasannena,
Bhāsati vākaroti vā;
Tâm chủ, duy tâm tác.
Nếu bằng tâm trong sạch,
Nói năng hoặc hành vi.
Tato naṃ sukkhamanveti, Phúc lạc sẽ theo người,
Chāyāva anupāyīnīti”
Như bóng theo hình thật”
Kệ Pháp Cú thứ nhì cũng được thuyết tại thành Sāvatthī, nhưng đề cập đến cậu Maṭṭhakuṇḍali (Kim Hoàn).
Tương truyền rằng: Thuở ấy, tại thành Sāvatthī, có ông Bà la môn tên là Adinnapubbaka (Vị Tằng Thí). Ông ta chưa hề bố thí cho ai chút gì, nên người đời gán cho ông cái biệt danh như thế.
Ông ta có một đứa con trai duy nhất mà ông ta rất thương yêu trìu mến, ông ta muốn đặt thợ bạc làm một món đồ trang sức cho cậu trai cưng, nhưng lại đắn đo suy nghĩ rằng: “Nếu ta đưa vàng cho thợ làm thì phải mất tiền trả công cho thợ”. Suy tính như vậy rồi, ông ta lấy vàng ra tự tay đập, uốn thành một đôi vòng tai bằng vàng cho cậu con đeo. Do đó, cậu công tử nầy được mệnh danh là Maṭṭhakuṇḍali (Kim Hoàn).
Cậu Maṭṭhakuṇḍali lúc lên mười sáu thì bị mắc bệnh huỳnh đản (Paṇḍurogo). Mẹ cậu nhìn cậu, rồi kêu chồng:
- Nầy ông Bà la môn, con trai ông mang bệnh rồi đó! Ông lo rước thầy chữa bệnh cho nó đi.
- Bà ơi! Nếu ta rước thầy chạy thuốc thì ta phải tốn tiền công tiền thuốc. Bà chẳng dòm ngó đến tài sản của ta, muốn cho dễ bị sứt mẻ hao hớt hay sao?
- Ta tính cách nào, miễn là không hao hớt sứt mẻ tài sản của ta thì thôi.
Nói xong, ông Bà la môn đến viếng nhiều vị lương y lần lựa hỏi thăm: “Gặp bệnh nhân như phát chứng như vậy, như vậy đó, thường quí thầy cho uống thứ thuốc chi?”.
Các y sĩ điềm chỉ cho ông ta thứ nọ, thứ kia, như là vỏ cây chẳng hạn. Ông ta nghe lời đi kiếm mấy thứ ấy đem về sắc làm thuốc cho con trai ông uống. Mặc dầu đã xoay đủ cách, bệnh tình của cậu con trai Maṭṭhakuṇḍali đã không thuyên giảm mà còn trở nên trầm trọng nan y. Đến khi thấy con trai đã kiệt quệ, ông Bà la môn mới cho mời thầy lang đến, nhìn thấy khí sắc của bệnh nhân, thầy thuốc nói:
- Tôi bữa nay bận quá! Xin tôn huynh cảm phiền rước thầy thuốc nào khác đến coi mạch, hốt thuốc cho cậu ấy.
Kiếm cớ chạy bệnh như thế rồi, ông y sĩ vội vã rút lui.
Ông Bà la môn nhìn con mình sắp chết, lại tính thầm rằng: “Nếu cứ để nó nằm ở đây, ai đến thăm viếng nó cũng đều ngó thấy đồ đạc của cải trong nhà ta hết. Ta phải đem nó ra nằm ngoài mới được”.
Tính rồi, ông sai người đem cậu con trai ra đặt nằm ngoài mái hiên hàng ba.
Ngày ấy vừa sáng tinh sương, Đức Thế Tôn xuất Định đại bi, dùng Phật nhãn quan sát thế gian, bủa lưới Chánh giác bao trùm khắp cả mười ngàn cõi Ta bà để tìm xem kẻ nào đã từng phát nguyện từ thời chư Phật quá khứ, kẻ nào có đầy đủ căn lành đáng được tiếp độ.
Hình ảnh cậu Maṭṭhakuṇḍali bị đem nằm bỏ dưới mái hiên lọt vào Giác võng của Đức Thế Tôn vừa thấy cậu Maṭṭhakuṇḍali Đức Thế Tôn biết ngay là cậu bị đem ra khỏi nhà, bỏ nằm ngoài mái hiên như thế. Đức Thầy tự vấn: “Cậu bé nầy có đầy đủ duyên lành để Như Lai tiếp độ không?”.
Ngài liền thấy biết như sau: “Cậu bé nầy sẽ đặt niềm tin trong sạch nơi Ta!”, rồi nhắm mắt từ giã cõi đời, sanh lên cõi Trời Đao Lợi ở trong một tòa Kim điện có cả đoàn Thiên nữ theo hầu”.
Vị chư Thiên sau khi ngắm nhìn thân hình mới mẻ của mình, cao đến ba phần tư dặm (12 cây số), đeo giắt những đồ trang sức có thể chất đầy năm mươi cỗ xe bò, có hàng ngàn Thiên nữ chầu chực chung quanh thì tự nghĩ: “Do nhờ nghiệp lành nào mà ta hưởng quả vinh hạnh nầy đây?”.
Khi quán xét thấy rõ nhờ tâm trong sạch đối với Như Lai mà được phước ấy, rồi vị chư Thiên nhớ đến cha cũ của mình, tự nhủ rằng: “Thân phụ ta vì sợ sứt mẻ tài sản mà không dám rước thầy trị bệnh cho ta, bây giờ lại ra mộ địa mà than khóc nhớ tiếc ta, để ta làm cho người thay đổi tính tình mới được”. Vì tình phụ tử vị chư thiên biến hình thành một thiếu niên giống hệt cậu Maṭṭhakuṇḍali, hiện xuống cách nơi mộ địa không xa, sẽ nằm xuống đất mà than khóc. Khi ấy ông Bà la môn sẽ hỏi: “Cậu là ai?”.
- Con là Maṭṭhakuṇḍali của cha đây mà.
- Con được sanh về cảnh giới nào?
- Ở Đao Lợi Thiên.
- Con đã tạo nghiệp gì?
Nghe cha hỏi vậy, chư Thiên sẽ đáp là nhờ nơi có tâm trong sạch đối với Như Lai mà được siêu sanh. Ông Bà la môn sẽ đến chất vấn Như Lai: “Có người nào chỉ nhờ có tâm trong sạch đối với Ngài không thôi mà được siêu sanh về nhàn cảnh không?”
Khi ấy, Như Lai sẽ đáp: “Chẳng những chỉ có hàng trăm, hàng ngàn, hàng trăm ngàn người như vậy, nhiều không thể đếm xiết”. Và Như Lai sẽ đọc bài kệ Pháp Cú, khi dứt bài kệ tám muôn bốn ngàn chúng sanh sẽ tỏ ngộ giáo pháp Như Lai, Maṭṭhakuṇḍali sẽ chứng Nhập Lưu (Tu Đà Hoàn), cả ông Bà la môn cũng thế, ấy là do duyên lành của cậu công tử nầy mà đại chúng sẽ tỏ ngộ Chánh pháp chẳng sai.
Đức Phật đã quán sát thấy rõ đầu đuôi câu chuyện diễn tiến như thế, nên sáng hôm ấy, sau khi tắm gội sạch sẽ, Ngài đắp y chỉnh tề cùng với Đại chúng Tỳ khưu vào thành Sāvatthī khất thực, rồi đi lần đến cửa ngõ ông Bà la môn.
Lúc bấy giờ, cậu Maṭṭhakuṇḍali đang nằm quay mặt vô nhà, Đức Bổn Sư biết cậu thiếu niên không nhìn thấy kim thân của Ngài, nên Ngài phóng hào quang ra. Thiếu niên tự hỏi: “Ánh sáng gì đây?”, từ chỗ nằm cậu quay mặt ra nhìn, liền thấy Đức Phật, cậu nói thầm một mình: “Ta mắc phải ông cha mù quáng si mê, thành ra không có cơ hội đến gần một bên Đức Phật như vầy để mà hầu hạ cúng dường vật thực hoặc nghe kinh, thính pháp. Bây giờ gặp được Ngài nhưng chân tay đã bị tê liệt, không cử động được, trông gì mạnh lại để làm những việc ấy”. Nghĩ rồi, thiếu niên đem hết lòng tin trong trắng hướng lên Đức Phật.
Đức Bổn Sư nói: “Thôi bấy nhiêu đủ rồi” và Ngài ngự đi luôn.
Cậu Maṭṭhakuṇḍali nằm nhìn theo mãi cho đến khi hình bóng của Đức Từ Phụ đã ra ngoài tầm mắt của cậu. Trong khi cậu đang trong sạch như thế, cậu tắt hơi luôn. Như một người mới ngủ thức giấc, cậu thác sanh lên cõi trời, ở trong một tòa kim ốc rộng đến ba mươi do tuần.
Ông Bà la môn thiêu xác con rồi, từ đó bỏ phế việc nhà, cứ ra mộ địa khóc lóc bi ai, mạch sầu chẳng dứt. Mỗi ngày ông mỗi ra đó kêu gào kể lể: “Con trai duy nhất của ta đâu rồi?”.
Khi ấy vị chư Thiên kiếp trước là con của ông Bà la môn đang nhìn ngắm mọi vẻ huy hoàng tráng lệ của mình và tự hỏi: “Do nghiệp gì mà ta được như vậy đây?”.
Khi được biết là nhờ có tâm trong sạch đặt cả niềm tin nơi Đức Bổn Sư vị chư Thiên lại nói thầm: “Ông Bà la môn nầy, khi trước ta mang bệnh nặng, không dám bỏ tiền chạy thuốc cho ta, bây giờ lại ra mộ địa khóc than kêu réo. Ta phải lập cách cho ông chừa bỏ tật cũ mới được”.
Liền đó vị chư Thiên liền biến thành cậu Maṭṭhakuṇḍali trở lại, xuống gần chỗ mộ địa hỏa táng, đứng khoanh tay than khóc nức nở.
Ông Bà la môn trông thấy cậu con trai thì tự nói thầm: “Như ta vì thương nhớ con cưng mà than khóc đã đành, còn cậu nhỏ kia có việc gì mà cũng khóc lóc. Để ta hỏi thử cho biết”.
Rồi ông ứng tiếng ngâm bài kệ hỏi vị thiếu niên như vầy:
“Alaṅkato maṭṭhakuṇḍalī,
Mālābhārī haricandanussado;
Bāhā paggayha kandasi,
Vanamajjhe kiṃ dukkhito tuvanti”
“Hỡi cậu tai đeo kim hoàn,
Mình đầy hoa với huỳnh đàn thơm tho,
Khoanh tay rên rỉ nhỏ to,
Giữa rừng than khóc nguyên do khổ gì?”
Cậu trai liền đáp:
“Sovaṇṇamayo pabhassaro,
Uppanno rathapañjaro mama;
Tassa cakkayugaṇ na vindāni,
Tena dukkhena jahissāmi jīvitanti”
“Tôi vừa mới được tức thì,
Chiếc xe không bánh vàng y sáng ngời,
Tôi tìm hai bánh hết hơi,
Khổ thân tôi phải lìa đời chết đi”
Khi ấy, ông Bà la môn hỏi lại:
“Sovaṇṇamayaṃ maṇimayaṃ,
Lohamayaṃ attha rūpiyamayaṃ;
Ācikkhame bhaddamāṇava,
Cakkayugaṃ paṭilābhayāmi teti”
“Bằng vàng, bằng ngọc ma ni,
Bằng đồng, bằng bạc, bằng gì nói ra.
Hỡi chàng son trẻ tài hoa,
Bánh xe đủ cặp, để ta cho chàng”
Nghe vậy vị thiếu niên nghĩ thầm: “Ông nầy trước đã không dám rước thầy chạy thuốc cho con, bây giờ trông thấy ta giống tạc con ông, ông ta lại làm đổng nói cho, là sẽ cho ta cặp bánh bằng vàng ngọc… để ta hạ bớt ông ta xuống cho ông ta hết lớn lối”.
Thiếu niên cất tiếng hỏi: “Ông định làm cặp bánh chừng bao lớn để lắp vào chiếc xe của tôi?”.
- Cậu em muốn bao lớn cũng được, tùy ý. – Ông Bà la môn trả lời.
- Tôi muốn được mặt trời và mặt trăng. – Cậu trai đáp. – Ông cho tôi hai mặt ấy đi.
Để năn nỉ xin xỏ:
“So māṇavo tassa pāvadi,
Candasūriyā ubhayettha dissare;
Sovaṇṇamayo ratho mama,
Tena cakkayugena sobhatīti”
“Thiếu niên đáp lại vội vàng,
Mặt nguyệt, mặt nhựt hai chàng sinh đôi,
Lấy làm hai bánh cho tôi,
Lấy xe vàng nọ, sáng ôi chi bằng”
Ông Bà la môn liền trách:
“Bālo kho tvamasi māṇava,
Yo tvaṃ paṭṭhayase apaṭṭhiyaṃ;
Maññāmi tuvaṃ marissasi,
Na hi tvaṃ lacchasi candasuriyeti”
“Rõ em khờ dại nghĩ rằng,
Em đòi những vật lăng nhăng khó lòng.
“Qua” nghi em sẽ mạng cùng,
Trời, trăng không thể đèo bồng một hai”
Nhưng thiếu niên không chịu lép, hỏi vặn lại rằng: “Tôi khóc vì đòi những vật còn thấy bóng hình, còn ông đã khóc thương người đã cách âm dương. Tôi với ông, không biết ai là kẻ ngu khờ số một?
Thiếu niên ngâm luôn mấy câu kệ rằng:
“Gamanāgamanampi dissati,
Vaṇṇadhātu ubhayattha vīthiyā;
Peto kālakato na dissati,
Ko nīdha kandataṃ bālyataroti”
“Chúng con hình bóng vãng lai,
Sắc màu còn thấy rọi hai bên đường,
Vọng mơ đâu thấy chán chường,
Khóc là ngu dại ai nhường hơn ai?
Nghe qua mấy lời biện bạch, ông Bà la môn như chợt tỉnh ngộ nghĩ thầm: “Cậu trai nầy nói đúng lý”, nên ông lên tiếng chịu thua:
“Saccaṃ kho vadesi māṇava,
Ahameva kandataṃ bālyataro;
Candaṃ vaya dārako rudaṃ,
Puttaṃ kālakatābhipaṭṭhayanti”
“Lời em quả thật chánh chơn,
Chính ta khóc dại khờ hơn em à!
Như đòi trăng, trẻ khóc la,
Ta đòi con đã ra ma mất rồi”
Đến đây bỗng dưng trút bỏ được nỗi sầu tư, nhờ nghe kịp những lời biện minh của người bạn trẻ, ông Bà la môn ngâm lên hai câu kệ tán dương ca tụng thiếu niên:
“Ādittaṃ vata maṃ santaṃ,
Ghatasittaṃ va pāvakaṃ;
Vārinā viya osiñciṃ,
Sabbaṃ nibbāpaye daraṃ.
Abbahī vata me sallaṃ,
Sokaṃ hadayanissitaṃ;
Yo me sokaparetassa,
Puttalokaṃ apānudi.
Svāhaṃ abbūḷhasallosmi,
Sītibhūtosmi nibbuto;
Na socāmi na rodāmi,
Tava sutvāna māṇavāti”
“Lúc trước tâm ta tợ lửa lò,
Còn châm dầu nữa, cháy thêm to.
Em đem nước tưới lên lò lửa ,
Lửa tắt: lòng ta hết khổ lo,
Em nhổ dùm ta mũi tên trù,
Cho lòng ta trắng hận ngàn thu,
Cho ta hết khổ sầu con chết,
Chẳng thế ta nào sống được ru.
Tên khổ trong tâm nhổ sạch rồi,
Giờ ta hạnh phúc biết an vui,
Nhờ nghe giác đắc lời trai trẻ,
Thôi dứt sầu thương, khóc cũng thôi”
Kế đó, ông Bà la môn hỏi tiếp thiếu niên rằng:
Cậu là ai?“
Devatā nusi gandhabbo,
Ādū sakko purindado;
Ko vā tvaṃ kassavā putto,
Kathaṃ jānemu taṃ mayanti”
“Cậu em là Càn Thát Bà,
Là vua Đế Thích hay chư Thiên.
Là ai? Con kẻ lạ, quen?
Làm sao cho lão biết tên thử nào?”
Thiếu niên đáp:
“Yañca kandasi yañca rodasi,
Puttaṃ āḷāhane sayaṃ ḍahitvā;
Svāhaṃ kusalaṃ karitvāna kammaṃ,
Tidasānaṃ sahabyataṃ gatoti”
“Chính con ông khóc ông gào,
Ông đem thiêu xác bỏ vào rừng hoang.
Con nhờ thiện nghiệp thế gian,
Sanh lên Đao Lợi dự hàng chư Thiên”
Khi nghe chư Thiên cho biết nguyên do như thế, ông Bà la môn hỏi nữa rằng:
“Appaṃ vā bahuṃ vā nāddasāma,
Dānaṃ dadantassa sake agāre;
Uposathakammaṃ vā tādisaṃ,
Tena kammena gatosi devalokanti”
“Ta không thấy trẻ chuyên cần,
Cúng dường nhiều ít làm duyên tại nhà,
Bát quan trai chẳng giữ qua,
Sanh lên thiên giới được là do đâu?”
Thiếu niên giải thích rằng:
“Ābādhikohaṃ dukkhito gilāno,
Ātūrarūpomhi sake nivesane;
Buddhaṃ vigatarajaṃ vitiṇṇakaṅkhaṃ,
Addakkhiṃ sugataṃ anomapaññaṃ;
Svāhaṃ muditamano pasannacitto,
Añjaliṃ ākariṃ tathāgatassa;
Tāhaṃ kusalaṃ karitvaṃ kammaṃ;
Tidasānaṃ sahabyataṃ gatoti”
“Nghĩ thân bệnh hoạn khổ sầu,
Nằm nhà còn những lo âu não phiền.
Thấy Phật vô nhiễm vô khiên,
Thiện Thệ diệu trí hóa duyên qua đường.
Tâm con phấn khởi lạ thường,
Chắp tay tưởng Phật cúng dường đức tin.
Tâm thành là nghiệp siêu sinh,
Bạn cùng Đao Lợi, thiên đình quốc vương”
Trong khi nghe qua những lời giảng giải của vị chư Thiên, ông Bà la môn phát sanh phỉ lạc khắp cả châu thân, để tỏ niềm hân hoan, ông ngâm lên bài tán thán:
“Acchariyaṃ vata abbhutaṃ,
Añjalikammassa ayamīdiso vipāko;
Ahampi muditamano pāsannacitto,
Ajjeva buddhaṃ saranaṃ vajāmīti”
“Thật là huyền diệu phi thường,
Chắp tay là nghiệp, quả dường thế ư?
Tôi cũng đem hết tâm tư,
Qui y Phật Bảo kể từ hôm nay”
Thấy ông Bà la môn đã có chánh kiến, thiếu niên bèn dạy ông rằng:
“Ajjeva buddhaṃ saranaṃ vajāhi,
Dhammañca saṅghañca pasannacitto;
Tatheva sikkhāpadāni pañca,
Akhaṇḍaphullāni samādiyassu.
Pāṇātipātā viramassu khippaṃ,
Loke adinnaṃ parivajjayassu;
Amajjapo no ca musā bhaṇāhi,
Sakena dārena ca hoti tuṭṭhoti”
“Hôm nay ông có tâm thành thật,
Hãy quy y cùng Phật, Pháp, Tăng.
Năm điều học, Phật cấm ngăn.
Gọi là ngũ giới, chớ hằng đơn sai.
Tội sát sanh chừa ngay tức khắc,
Của trong đời hoạnh đắc không tham
Rượu say, nói dối không làm,
Vợ nhà tri túc, chớ nên dâm tà”
Ông Bà la môn hoan hỷ nhận lãnh mấy lời chỉ giáo của vị chư Thiên bằng tiếng “Sādhu – Lành thay!”. Đoạn ông ngâm kệ rằng:
“Atthakāmosi me yakkha,
Hitakāmosi devatā;
Karomi tuyhaṃ vacanaṃ,
Tvamasi ācariyo mama.
Upemi saraṇaṃ buddhaṃ,
Dhammañcāpi anuttaraṃ;
Saṅghañca naradevassa,
Gacchāmi saraṇaṃ ahaṃ.
Pāṇātipātā viramāmi khippaṃ,
Loke adinnaṃ parivajjayāmi;
Amajjapo no ca musā bhaṇāmi,
Sakena dārena ca homi tuṭṭhoti”.
“Chư Thiên hoặc Dạ xoa, người hỡi!
Muốn an lành lợi ích cho ta,
Tôn người làm thầy, làm cha,
Lời người ta sẽ hành qua y kỳ,
Nay tôi nguyện quy y Đức Phật,
Và quy y Pháp thật cao siêu,
Quy y Tăng hội đủ điều,
Thinh Văn đệ tử hàng triều Thích Ca.
Tội sát sanh nguyện xa tức khắc,
Của trong đời hoạnh đắc không tham,
Rượu say, nói dối không làm,
Vợ nhà tri túc chẳng ham dâm tà”
Khi vị chư Thiên bảo ông Bà la môn: “Nầy ông Bà la môn, nhà ông có nhiều tiền của, ông nên tìm đến Đức Bổn Sư cúng dường để bát, thỉnh pháp, nghe kinh và hỏi han đạo lý”.
Vừa dứt lời vị chư Thiên biến mất. Ông Bà la môn trở về nhà bảo vợ rằng: “Nầy bà nó! Ta sẽ thỉnh Đức Sa môn Gotama về nhà để hỏi đạo vậy bà hãy lo sắp đặt lễ vật để cúng dường chư Tăng”.
Đoạn ông đi ngay đến Tịnh xá tìm Đức Bổn Sư, gặp Ngài ông chẳng biết đảnh lễ, cũng chẳng tỏ lời hoan hỷ theo pháp xã giao, ông chỉ biết nép một bên và nói: “Bạch Ngài Gotama, xin Ngài vui lòng nhận bữa Trai Tăng hôm nay tại nhà tôi, cùng chư Tỳ khưu Tăng”.
Đức Bổn Sư im lặng nhận lời.
Khi được biết Đức Bổn Sư chấp nhận lời mình, ông Bà la môn vội vã trở về hối người nhà lo nấu nướng vật thực loại cứng và loại mềm cho kịp giờ dâng cúng.
Đức Giáo chủ cùng với đại chúng Tỳ khưu tùy tùng đông đảo, ngự đi bộ đến nhà ông Bà la môn và ngồi lên những chỗ ngồi đã dọn sẵn. Ông Bà la môn phục dịch Đức Thế Tôn thật cung kính.
Bên ngoài quần chúng tụ tập rất đông, theo truyền ngôn khi có người tà kiến thỉnh Phật cúng dường Trai Tăng, thì có hai dạng người thường tụ hội nơi chỗ cuộc lễ để chờ nghe vấn đạo. Bên phe tà kiến nghĩ rằng: “Hôm nay chúng ta sẽ được mục kích Sa môn Gotama bối rối vì bí lối, không giải đáp được những câu vấn nạn”. Nhóm người chánh kiến lại nghĩ khác: “Hôm nay chúng ta sẽ được chứng kiến thần oai đại lực của Đức Chánh Giác”.
Khi thấy Đức Như Lai đã độ xong bữa ngọ, ông Bà la môn bèn đến bên chân Ngài, ngồi xuống một chỗ dưới thấp và bắt đầu mở lời hỏi rằng:
- Bạch Ngài Gotama! Có người nào không từng cúng dường để bát cho Ngài, không từng nghe Ngài thuyết pháp, giảng kinh, không từng giữ Bát quan trai giới, chỉ có tâm chí thành khẩn thiết đối với Ngài không thôi, mà được siêu sanh Thiên giới hay chăng?
Đức Bổn Sư trả lời bằng cách hỏi lại câu như vầy:
- Nầy ông Bà la môn, tại sao ông còn chất vấn Như Lai. Vậy chứ đứa con trai cưng của ông là thiếu niên Maṭṭhakuṇḍali đã chẳng nói cho ông biết là cậu ấy sinh lên cõi trời chỉ vì có tâm chí thành khẩn thiết đối với Như Lai hay sao?
- Bạch Ngài Gotama! Có nói tại đâu?
- Vậy chớ hôm qua ông qua mộ địa kêu khóc, ông há chẳng thấy gần nơi thiêu xác con ông có một thiếu niên đang khoanh tay kêu khóc, rồi ông ngâm kệ hỏi như vậy hay sao:
“Hỡi cậu trai đeo kim hoàn,
Mình đầy hoa với huỳnh đàn thơm tho…”
Đức Bổn Sư đọc lại hết câu chuyện vấn đáp của hai người và kể luôn tiểu sử cậu Maṭṭhakuṇḍali nữa.
Do nhân duyên như vậy, Đức Thế Tôn mới thuyết lên một câu Phật ngôn:
“Na kho, brāhmaṇa, ekasataṃ na dve satāni atha kho mayi manaṃ pasādetvā sagge nibbattāṇaṃ gaṇanā nāma natthīti”.
“Nầy ông Bà la môn! Không phải một trăm, không phải hai trăm đâu, số người nhờ có đức tin trong sạch đối với Như Lai mà được siêu sanh Thiên giới nhiều không thể đếm”
Đám đông đang dự thính còn đang bán tin bán nghi. Hiểu rõ tâm trạng của quần chúng, Đức Bổn Sư bèn nguyện rằng: “Thiên tử Maṭṭhakuṇḍali hãy hiện xuống nơi đây với cả tòa Kim ốc”.
Thiên tử Maṭṭhakuṇḍali bỗng nhiên hiện đến tức khắc, bề cao ba phần tư dặm, khắp mình trang điểm bằng những vật báu cõi trời từ trên tòa đền bằng vàng bước xuống, đảnh lễ Đức Bổn Sư rồi đứng nép một bên. Khi ấy Đức Thế Tôn cất tiếng hỏi:
- Ông nhờ tạo nghiệp gì mà được phước báu cao sang dường ấy?
Rồi Đức Bổn Sư ngâm luôn bài kệ hỏi rằng:
“Abhikkantena vaṇṇena,
Yā tvaṃ tiṭṭhasi devate;
Obhāsentī disā sabbā,
Osadhī viya tārakā;
Pucchāmi tvaṃ deva mahānubhāvaṃ,
Manussabhūto kimakāsi puññanti”.
“Chư Thiên đứng nơi kia,
Dung nhan đẹp quán thế,
Sáng dường sao một thể,
Nghe Như Lai hỏi đây,
Hỡi vị trời oai vệ,
Tạo phước gì đáng kể?”
Đức Bổn Sư vừa dứt lời vị chư Thiên vội vàng đáp rằng:
- Bạch Ngài! Con nhớ kiếp trước đặt hết niềm tin nơi Ngài mà được phước báu cao thượng nầy đây?
- Ông chỉ nhờ có tâm trong sạch tin tưởng Như Lai mà được như thế nầy phải không?
- Bạch Ngài đúng vậy.
Quần chúng trầm trồ ngắm nhìn vị chư Thiên rồi tỏ lời khâm phục rằng: “Huyền diệu thay ân huệ của chư Phật, con trai của Bà la môn Adiṇṇapubbaka chẳng có làm phước lành chi khác, chỉ nhờ đặt lòng tin trong sạch vào Đức Giáo Chủ mà được vinh quang dường ấy”. Và quần chúng lấy làm hoan hỷ.
Khi ấy Đức Bổn Sư phán dạy quần chúng rằng:
“Tất cả các nghiệp thiện và bất thiện của con người tạo ra đều do tâm đi trước dẫn đầu, tâm làm chủ, người có tâm trong sạch tạo nghiệp gì, khi sanh lên cõi trời, cõi người nghiệp ấy vẫn còn theo dính kế cận bên mình, như hình với bóng không lúc nào rời nhau”.
Sau khi chấm dứt câu chuyện bằng cách chỉ rõ mối tương quan chặt chẽ giữa Nhân quả. Đức Chánh Pháp Vương xướng lên bài kệ như sau, chẳng khác nào vị Hoàng Đế để đóng ấn ngọc tỷ lên trên chỗ đất xi để niêm phong một bức cẩm nang mang tờ Thánh chỉ:
“Manopubbaṅgamādhammā,
Manoseṭṭhā manomayā;
Manasā ce pasannena,
Bhāsati vākaroti vā;
Tato naṃ sukkhamanveti,
Chāyāva anupāyīnīti”
“Tâm đi trước thọ, tưởng, hành,
Tâm là chủ pháp, tâm là nghiệp duyên.
Ai mà tâm sạch lành hiền,
Nói làm chi cũng yên vui theo mình.
Ví như bóng nọ tùy hình,
Hình đâu bóng đó như in hẳn hòi”.
CHÚ GIẢI:
Tâm(1) đi trước(2) các Pháp(3)
Tâm chủ(4) duy tâm tác(5)
Nếu bằng tâm trong sạch(6)
Nói năng hoặc hành vi(7)
Phúc lạc sẽ theo người(8)
Như bóng theo hình thật(9).
(1) Tâm hay ý (Mano) tức là tâm (citta) theo cách phân loại tổng quát thì có tất cả Tứ địa tâm (catubbhūmikacitta), nghĩa là tâm trong bối cõi: Dục, Sắc vô sắc và Siêu thế. Theo ý nghĩa trong kệ ngôn nầy mà phân định cho chính xác, thì đây chỉ nói riêng về tám thiện tâm ở cõi Dục mà thôi. Còn theo chuyện tích nầy, tâm của cậu Maṭṭhakuṇḍali là tâm câu hữu hỷ tương ưng trí (Somanassasahagataṃ ñāṇasamyuttaṃ).
(2) Đi trước (Pubbaṅgamā), là dẫn đầu và đi chung một thể.
(3) Các Pháp (Dhamma), chỉ thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn.
Do lẽ tâm câu hữu với hỷ tương ưng trí làm duyên sanh khởi cho các uẩn kia, nên gọi là tâm đi trước. Ví như có nhiều người đồng làm phước một lượt trong một cuộc lễ dâng y, đặt bát, dâng vật dụng đến chư Tỳ khưu Tăng, hoặc chưng đèn, dọn hương, treo hoa kết lụa để cúng dường cao thượng ở một nơi thuyết pháp công cộng, thì thử hỏi: “Ai là người dẫn đầu trong nhóm ấy?”, cố nhiên ta phải trả lời rằng: “Người mà ai nấy đều nương theo để làm chung cuộc phước ấy, dầu là ông Giáp, ông Ất chi cũng gọi là người cầm đầu”.
Do lẽ tâm làm duyên khởi cho các pháp sanh lên mà gọi là tâm đi trước dẫn đầu, quả nhiên không bao giờ các pháp sanh lên mà không có tâm sanh, trái lại khi tâm sanh rồi thì cũng có một vài nhóm tâm sở không cùng sanh.
(4) Tâm chủ (Manoseṭṭhā) vì tâm là chúa tể các pháp, nên gọi là tâm là chủ pháp, cũng vị thủ lãnh của một đảng được tôn xưng là chúa đảng, hoặc vị chủ tịch trong cuộc nhóm họp thì được gọi là hội chủ. Nơi đây nói tâm là chủ cũng y như thế.
(5) Tâm tác (Manomayā): Ví như ta lấy vàng làm nguyên liệu, để chế ra nhiều món đồ kim loại, ta thường nói các món đồ ấy làm bằng vàng (suvaṇṇamayā), nghĩa là do vàng mà làm ra (duy kim tác), các pháp do tâm làm nguyên liệu hay bản thể mà sanh ra nên gọi là duy tâm tác cũng đồng một lý như thế.
(6) Nếu bằng tâm trong sạch (Manasā ce pasannena) là bằng tâm thuần thiện, không bị tham, sân, si, tà kiến làm cho nhiễm ô, nhơ đục.
(7) Nói năng hoặc hành vi (bhāsati vā karoti vā): Người có tâm trong sạch như thế nói ra toàn là 4 thứ lời lành (không vọng ngữ, lưỡng thiệt, thô ngữ, hí ngữ), thuộc về khẩu thiện hạnh, còn làm chi cũng trong ba nghiệp lành (không sát sanh, trộm cắp, tà dâm) thuộc về thân thiện hạnh, nhược bằng không nói, không làm chi hết cũng có đầy đủ ba nghiệp lành (không tham, sân, si) thuộc về ý thiện hạnh. Lộ trình của thập thiện nghiệp trải qua ba cửa thân, khẩu, ý tròn đủ như thế.
(8) Phúc lạc sẽ theo người (Tato sukhamanveti): Hễ con người tạo thiện nghiệp qua thân, khẩu, ý từ giờ nào thì phúc lạc sẽ theo bên người từ giờ đó, do mười nghiệp quả ba cửa đã giải trên đây, con người được siêu sanh về nhàn cảnh để hưởng sự an vui hạnh phúc vì nơi ấy thân căn và các căn tùy thuộc gọi là thân căn tâm sở của người ấy, hằng có quả an vui theo sát một bên (hỉ thần tùy chí) chẳng khi nào rời.
(9) Như bóng theo hình thật (Chāya vā anupāyinīti), là như bóng rọi của thân mình luôn luôn dính liền theo thân, thân đi thì bóng cũng đi, thân đứng bóng cũng đứng, thân ngồi bóng cũng ngồi, không thể dùng biện pháp dịu dàng hay thô bạo hoặc mềm mỏng hay cứng rắn mà tách rời ra được. Chẳng hạn như nói nhỏ nhẹ “Bóng ơi! Hãy đi chỗ khác” hoặc đánh đập, la hét “Tại sao bóng cứ theo ta mãi vậy” cũng chẳng ly khai bóng với hình cho được.
Cũng như thế ấy, trên lộ trình của người, thiện nghiệp nầy con người đã có sẵn thiện tâm, dầu đã thực hành hay chưa thực hành, khi sanh về cõi nào nhất là cõi Dục giới thì thân căn và các thiện căn tâm sở tùy thuộc đều có quả an vui theo dính một bên, như bóng với hình không rời nhau vậy.
Kệ ngôn vừa dứt, tám muôn bốn ngàn chúng sanh được tỏ ngộ Chánh Pháp. Thiên tử Maṭṭhakuṇḍali chứng quả Dự Lưu, cả ông Bà la môn Adiṇṇapubbaka cũng vậy. Ông nầy về sau đem cả gia sản khổng lồ của mình ra gieo trồng vào phước điền ở trong Phật giáo.
Nhờ tâm niệm thiện chí chân thành,
Khiến cậu Kim Hoàn được vãng sanh,
Cha đã thương tiền liều mạng trẻ,
Phật còn nhớ nguyện độc căn lành,
Lâm chung một niệm, nhân dầu chậm,
Phước báu ngàn xuân, quả khá nhanh!
Chẳng đợi cúng dường cùng thọ giới,
Thiên đường, Kim ốc cũng thơm danh.
DỨT TÍCH CẬU MAṬṬHAKUṆḌALI
Maṭṭhakuṇḍalīvatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Manopubbaṅgamā dhammāti dutiyagāthāpi sāvatthiyaṃyeva maṭṭhakuṇḍaliṃ ārabbha bhāsitā.
Sāvatthiyaṃ kira adinnapubbako nāma brāhmaṇo ahosi. Tena kassaci kiñci na dinnapubbaṃ, tena taṃ “adinnapubbako”tveva sañjāniṃsu. Tassa ekaputtako ahosi piyo manāpo. Athassa pilandhanaṃ kāretukāmo “sace suvaṇṇakāre kāressāmi, bhattavetanaṃ dātabbaṃ bhavissatī”ti sayameva suvaṇṇaṃ koṭṭetvā maṭṭhāni kuṇḍalāni katvā adāsi. Tenassa putto maṭṭhakuṇḍalītveva paññāyittha. Tassa soḷasavassikakāle paṇḍurogo udapādi. Tassa mātā puttaṃ oloketvā, “brāhmaṇa, puttassa te rogo uppanno, tikicchāpehi na”nti āha. “Bhoti sace vejjaṃ ānessāmi, bhattavetanaṃ dātabbaṃ bhavissati; kiṃ tvaṃ mama dhanacchedaṃ na olokessasī”ti? “Atha naṃ kiṃ karissasi, brāhmaṇā”ti? “Yathā me dhanacchedo na hoti, tathā karissāmī”ti. So vejjānaṃ santikaṃ gantvā “asukarogassa nāma tumhe kiṃ bhesajjaṃ karothā”ti pucchi. Athassa te yaṃ vā taṃ vā rukkhatacādiṃ ācikkhanti. So tamāharitvā puttassa bhesajjaṃ karoti. Taṃ karontassevassa rogo balavā ahosi, atekicchabhāvaṃ upāgami. Brāhmaṇo tassa dubbalabhāvaṃ ñatvā ekaṃ vejjaṃ pakkosi. So taṃ oloketvāva “amhākaṃ ekaṃ kiccaṃ atthi, aññaṃ vejjaṃ pakkositvā tikicchāpehī”ti taṃ pahāya nikkhami. Brāhmaṇo tassa maraṇasamayaṃ ñatvā “imassa dassanatthāya āgatā antogehe sāpateyyaṃ passissanti, bahi naṃ karissāmī”ti puttaṃ nīharitvā bahiāḷinde nipajjāpesi.
Taṃ divasaṃ bhagavā balavapaccūsasamaye mahākaruṇāsamāpattito vuṭṭhāya pubbabuddhesu katādhikārānaṃ ussannakusalamūlānaṃ veneyyabandhavānaṃ dassanatthaṃ buddhacakkhunā lokaṃ volokento dasasahassacakkavāḷesu ñāṇajālaṃ patthari. Maṭṭhakuṇḍalī bahiāḷinde nipannākāreneva tassa anto paññāyi. Satthā taṃ disvā tassa antogehā nīharitvā tattha nipajjāpitabhāvaṃ ñatvā “atthi nu kho mayhaṃ ettha gatapaccayena attho”ti upadhārento idaṃ addasa – ayaṃ māṇavo mayi cittaṃ pasādetvā kālaṃ katvā tāvatiṃsadevaloke tiṃsayojanike kanakavimāne nibbattissati, accharāsahassaparivāro bhavissati, brāhmaṇopi taṃ jhāpetvā rodanto āḷāhane vicarissati. Devaputto tigāvutappamāṇaṃ saṭṭhisakaṭabhārālaṅkārapaṭimaṇḍitaṃ accharāsahassaparivāraṃ attabhāvaṃ oloketvā “kena nu kho kammena mayā ayaṃ sirisampatti laddhā”ti oloketvā mayi cittappasādena laddhabhāvaṃ ñatvā “ayaṃ brāhmaṇo dhanacchedabhayena mama bhesajjamakatvā idāni āḷāhanaṃ gantvā rodati, vippakārappattaṃ naṃ karissāmī”ti pitari rodante maṭṭhakuṇḍalivaṇṇena āgantvā āḷāhanassāvidūre nipajjitvā rodissati. Atha naṃ brāhmaṇo “kosi tva”nti pucchissati. “Ahaṃ te putto maṭṭhakuṇḍalī”ti ācikkhissati. “Kuhiṃ nibbattosī”ti? “Tāvasiṃsabhavane”ti. “Kiṃ kammaṃ katvā”ti vutte mayi cittappasādena nibbattabhāvaṃ ācikkhissati. Brāhmaṇo “tumhesu cittaṃ pasādetvā sagge nibbatto nāma atthī”ti maṃ pucchissati. Athassāhaṃ “ettakāni satāni vā sahassāni vā satasahassāni vāti na sakkā gaṇanā paricchinditu”nti vatvā dhammapade gāthaṃ bhāsissāmi. Gāthāpariyosāne caturāsītiyā pāṇasahassānaṃ dhammābhisamayo bhavissati, maṭṭha kuṇḍalī sotāpanno bhavissati. Tathā adinnapubbako brāhmaṇo. Iti imaṃ kulaputtaṃ nissāya mahādhammābhisamayo bhavissatīti disvā punadivase katasarīrapaṭijaggano mahābhikkhusaṅghaparivuto sāvatthiṃ piṇḍāya pavisitvā anupubbena brāhmaṇassa gehadvāraṃ gato.
Tasmiṃ khaṇe maṭṭhakuṇḍalī antogehābhimukho nipanno hoti. Athassa satthā attano apassanabhāvaṃ ñatvā ekaṃ rasmiṃ vissajjesi. Māṇavo “kiṃ obhāso nāmeso”ti parivattetvā nipannova satthāraṃ disvā, “andhabālapitaraṃ nissāya evarūpaṃ buddhaṃ upasaṅkamitvā kāyaveyyāvaṭikaṃ vā kātuṃ dānaṃ vā dātuṃ dhammaṃ vā sotuṃ nālatthaṃ, idāni me hatthāpi anadhipateyyā, aññaṃ kattabbaṃ natthī”ti manameva pasādesi. Satthā “alaṃ ettakena cittappasādena imassā”ti pakkāmi. So tathāgate cakkhupathaṃ vijahanteyeva pasannamano kālaṃ katvā suttappabuddho viya devaloke tiṃsayojanike kanakavimāne nibbatti.
Brāhmaṇopissa sarīraṃ jhāpetvā āḷāhane rodanaparāyaṇo ahosi, devasikaṃ āḷāhanaṃ gantvā rodati – “kahaṃ ekaputtaka, kahaṃ ekaputtakā”ti. Devaputtopi attano sampattiṃ oloketvā, “kena me kammena laddhā”ti upadhārento “satthari manopasādenā”ti ñatvā “ayaṃ brāhmaṇo mama aphāsukakāle bhesajjamakāretvā idāni āḷāhanaṃ gantvā rodati, vippakārappattameva naṃ kātuṃ vaṭṭatī”ti maṭṭhakuṇḍalivaṇṇena āgantvā āḷāhanassāvidūre bāhā paggayha rodanto aṭṭhāsi. Brāhmaṇo taṃ disvā “ahaṃ tāva puttasokena rodāmi, esa kimatthaṃ rodati, pucchissāmi na”nti pucchanto imaṃ gāthamāha –
“Alaṅkato maṭṭhakuṇḍalī,
Māladhārī haricandanussado;
Bāhā paggayha kandasi,
Vanamajjhe kiṃ dukkhito tuva”nti. (vi. va. 1207; pe. va. 186);
So māṇavo āha –
“Sovaṇṇamayo pabhassaro,
Uppanno rathapañjaro mama;
Tassa cakkayugaṃ na vindāmi,
Tena dukkhena jahāmi jīvita”nti. (va. 1208; pe. va. 187);
Atha naṃ brāhmaṇo āha –
“Sovaṇṇamayaṃ maṇimayaṃ,
Lohitakamayaṃ atha rūpiyamayaṃ;
Ācikkha me bhadda māṇava,
Cakkayugaṃ paṭipādayāmi te”ti. (vi. va. 1209; pe. va. 188);
Taṃ sutvā māṇavo “ayaṃ brāhmaṇo puttassa bhesajjamakatvā puttapatirūpakaṃ maṃ disvā rodanto ‘suvaṇṇādimayaṃ rathacakkaṃ karomī’ti vadati, hotu niggaṇhissāmi na”nti cintetvā “kīva mahantaṃ me cakkayugaṃ karissasī”ti vatvā “yāva mahantaṃ ākaṅkhasi, tāva mahantaṃ karissāmī”ti vutte “candimasūriyehi me attho, te me dehī”ti yācanto āha –
“So māṇavo tassa pāvadi,
Candasūriyā ubhayettha dissare;
Sovaṇṇamayo ratho mama,
Tena cakkayugena sobhatī”ti. (vi. va. 1210; pe. va. 189);
Atha naṃ brāhmaṇo āha –
“Bālo kho tvaṃ asi māṇava,
Yo tvaṃ patthayase apatthiyaṃ;
Maññāmi tuvaṃ marissasi,
Na hi tvaṃ lacchasi candasūriye”ti. (vi. va. 1211; pe. va. 190);
Atha naṃ māṇavo āha –
“Kiṃ pana paññāyamānassatthāya rodanto bālo hoti, udāhu apaññāyamānassatthāyā”ti vatvā –
“Gamanāgamanampi dissati,
Vaṇṇadhātu ubhayattha vīthiyā;
Peto kālakato na dissati,
Ko nidha kandataṃ bālyataro”ti. (vi. va. 1212; pe. va. 191);
Taṃ sutvā brāhmaṇo “yuttaṃ esa vadatī”ti sallakkhetvā –
“Saccaṃ kho vadesi māṇava,
Ahameva kandataṃ bālyataro;
Candaṃ viya dārako rudaṃ,
Petaṃ kālakatābhipatthayi”nti. (vi. va. 1213; pe. va. 192) –
Vatvā tassa kathāya nissoko hutvā māṇavassa thutiṃ karonto imā gāthā abhāsi –
“Ādittaṃ vata maṃ santaṃ, ghatasittaṃva pāvakaṃ;
Vārinā viya osiñcaṃ, sabbaṃ nibbāpaye daraṃ.
“Abbahī vata me sallaṃ, sokaṃ hadayanissitaṃ;
Yo me sokaparetassa, puttasokaṃ apānudi.
“Svāhaṃ abbūḷhasallosmi, sītibhūtosmi nibbuto;
Na socāmi na rodāmi, tava sutvāna māṇavā”ti. (vi. va. 1214-1216; pe. va. 193-195);
Atha naṃ “ko nāma tva”nti pucchanto –
“Devatānusi gandhabbo, adu sakko purindado;
Ko vā tvaṃ kassa vā putto, kathaṃ jānemu taṃ maya”nti. (vi. va. 1217; pe. va. 196) –
Āha. Athassa māṇavo –
“Yañca kandasi yañca rodasi,
Puttaṃ āḷāhane sayaṃ dahitvā;
Svāhaṃ kusalaṃ karitvā kammaṃ,
Tidasānaṃ sahabyataṃ gato”ti. (vi. va. 1218; pe. va. 197) –
Ācikkhi. Atha naṃ brāhmaṇo āha –
“Appaṃ vā bahuṃ vā nāddasāma,
Dānaṃ dadantassa sake agāre;
Uposathakammaṃ vā tādisaṃ,
Kena kammena gatosi devaloka”nti. (vi. va. 1219; pe. va. 198);
Māṇavo āha –
“Ābādhikohaṃ dukkhito gilāno,
Ātūrarūpomhi sake nivesane;
Buddhaṃ vigatarajaṃ vitiṇṇakaṅkhaṃ,
Addakkhiṃ sugataṃ anomapaññaṃ.
“Svāhaṃ muditadhano pasannacitto,
Añjaliṃ akariṃ tathāgatassa;
Tāhaṃ kusalaṃ karitvāna kammaṃ,
Tidasānaṃ sahabyataṃ gato”ti. (vi. va. 1220-1221; pe. va. 199-200);
Tasmiṃ kathenteyeva brāhmaṇassa sakalasarīraṃ pītiyā paripūri. So taṃ pītiṃ pavedento –
“Acchariyaṃ vata abbhutaṃ vata,
Añjalikammassa ayamīdiso vipāko;
Ahampi pamuditamano pasannacitto,
Ajjeva buddhaṃ saraṇaṃ vajāmī”ti. (vi. va. 1222; pe. va. 201) –
Āha. Atha naṃ māṇavo –
“Ajjeva buddhaṃ saraṇaṃ vajāhi,
Dhammañca saṅghañca pasannacitto;
Tatheva sikkhāpadāni pañca,
Akhaṇḍaphullāni samādiyassu.
Pāṇātipātā viramassu khippaṃ,
Loke adinnaṃ parivajjayassu;
Amajjapo mā ca musā bhaṇāhi,
Sakena dārena ca hohi tuṭṭho”ti. (vi. va. 1223-1224; pe. va. 202-203) –
Āha. So “sādhū”ti sampaṭicchitvā imā gāthā abhāsi –
“Atthakāmosi me yakkha, hitakāmosi devate;
Karomi tuyhaṃ vacanaṃ, tvaṃsi ācariyo mama.
“Upemi saraṇaṃ buddhaṃ, dhammañcāpi anuttaraṃ;
Saṅghañca naradevassa, gacchāmi saraṇaṃ ahaṃ.
“Pāṇātipātā viramāmi khippaṃ,
Loke adinnaṃ parivajjayāmi;
Amajjapo no ca musā bhaṇāmi,
Sakena dārena ca homi tuṭṭho”ti. (vi. va. 1225-1227; pe. va. 204-206);
Atha naṃ devaputto, “brāhmaṇa, te gehe bahuṃ dhanaṃ atthi, satthāraṃ upasaṅkamitvā dānaṃ dehi, dhammaṃ suṇāhi, pañhaṃ pucchāhī”ti vatvā tattheva antaradhāyi.
Brāhmaṇopi gehaṃ gantvā brāhmaṇiṃ āmantetvā, “bhadde, ahaṃ ajja samaṇaṃ gotamaṃ nimantetvā pañhaṃ pucchissāmi, sakkāraṃ karohī”ti vatvā vihāraṃ gantvā satthāraṃ neva abhivādetvā na paṭisanthāraṃ katvā ekamantaṃ ṭhito, “bho gotama, adhivāsehi ajjatanāya bhattaṃ saddhiṃ bhikkhusaṅghenā”ti āha. Satthā adhivāsesi. So satthu adhivāsanaṃ viditvā vegenāgantvā sake nivesane paṇītaṃ khādanīyaṃ bhojanīyañca paṭiyādāpesi. Satthā bhikkhusaṅghaparivuto tassa gehaṃ gantvā paññattāsane nisīdi. Brāhmaṇo sakkaccaṃ parivisi, mahājano sannipati. Micchādiṭṭhikena kira tathāgate nimantite dve janakāyā sannipatanti micchādiṭṭhikā “ajja samaṇaṃ gotamaṃ pañhaṃ pucchanāya viheṭhiyamānaṃ passissāmā”ti sannipatanti, sammādiṭṭhikā “ajja buddhavisayaṃ buddhalīḷaṃ passissāmā”ti sannipatanti. Atha kho brāhmaṇo katabhattakiccaṃ tathāgatamupasaṅkamitvā nīcāsane nisinno pañhaṃ pucchi – “bho gotama, tumhākaṃ dānaṃ adatvā pūjaṃ akatvā dhammaṃ asutvā uposathavāsaṃ avasitvā kevalaṃ manopasādamatteneva sagge nibbattā nāma hontī”ti? “Brāhmaṇa, kasmā maṃ pucchasi, nanu te puttena maṭṭhakuṇḍalinā mayi manaṃ pasādetvā attano sagge nibbattabhāvo kathito”ti? “Kadā, bho gotamā”ti? Nanu tvaṃ ajja susānaṃ gantvā kandanto avidūre bāhā paggayha kandantaṃ ekaṃ māṇavaṃ disvā “alaṅkato maṭṭhakuṇḍalī, māladhārī haricandanussado”ti dvīhi janehi kathitakathaṃ pakāsento sabbaṃ maṭṭhakuṇḍalivatthuṃ kathesi. Tenevetaṃ buddhabhāsitaṃ nāma jātaṃ.
Taṃ kathetvā ca pana “na kho, brāhmaṇa, ekasataṃ vā na dvesataṃ, atha kho mayi manaṃ pasādetvā sagge nibbattānaṃ gaṇanā nāma natthī”ti āha. Atha mahājano na nibbematiko hoti, athassa anibbematikabhāvaṃ viditvā satthā “maṭṭhakuṇḍalidevaputto vimāneneva saddhiṃ āgacchatū”ti adhiṭṭhāsi. So tigāvutappamāṇeneva dibbābharaṇapaṭimaṇḍitena attabhāvena āgantvā vimānato oruyha satthāraṃ vanditvā ekamantaṃ aṭṭhāsi. Atha naṃ satthā “tvaṃ imaṃ sampattiṃ kiṃ kammaṃ katvā paṭilabhī”ti pucchanto –
“Abhikkantena vaṇṇena, yā tvaṃ tiṭṭhasi devate;
Obhāsentī disā sabbā, osadhī viya tārakā;
Pucchāmi taṃ deva mahānubhāva, manussabhūto kimakāsi puñña”nti. –
Gāthamāha. “Devaputto ayaṃ me, bhante, sampatti tumhesu cittaṃ pasādetvā laddhā”ti. “Mayi cittaṃ pasādetvā laddhā te”ti? “Āma, bhante”ti. Mahājano devaputtaṃ oloketvā “acchariyā vata, bho, buddhaguṇā, adinnapubbakabrāhmaṇassa nāma putto aññaṃ kiñci puññaṃ akatvā satthari cittaṃ pasādetvā evarūpaṃ sampattiṃ paṭilabhī”ti tuṭṭhiṃ pavedesi.
Atha nesaṃ kusalākusalakammakaraṇe manova pubbaṅgamo, manova seṭṭho. Pasannena hi manena kataṃ kammaṃ devalokaṃ manussalokaṃ gacchantaṃ puggalaṃ chāyāva na vijahatīti idaṃ vatthuṃ kathetvā anusandhiṃ ghaṭetvā patiṭṭhāpitamattikaṃ sāsanaṃ rājamuddāya lañchanto viya dhammarājā imaṃ gāthamāha –
“Manopubbaṅgamā dhammā, manoseṭṭhā manomayā.
Manasā ce pasannena, bhāsati vā karoti vā;
Tato naṃ sukhamanveti, chāyāva anapāyinī”ti.
Tattha kiñcāpi manoti avisesena sabbampi catubhūmikacittaṃ vuccati, imasmiṃ pana pade niyamiyamānaṃ vavatthāpiyamānaṃ paricchijjiyamānaṃ aṭṭhavidhaṃ kāmāvacarakusalacittaṃ labbhati. Vatthuvasena panāhariyamānaṃ tatopi somanassasahagataṃ ñāṇasampayuttacittameva labbhati. Pubbaṅgamāti tena paṭhamagāminā hutvā samannāgatā. Dhammāti vedanādayo tayo khandhā. Ete hi uppādapaccayaṭṭhena somanassasampayuttamano pubbaṅgamo etesanti manopubbaṅgamā nāma. Yathā hi bahūsu ekato hutvā mahābhikkhusaṅghassa cīvaradānādīni vā uḷārapūjādhammassavanādīni vā mālāgandhasakkārakaraṇādīni vā puññāni karontesu “ko etesaṃ pubbaṅgamo”ti vutte yo tesaṃ paccayo hoti, yaṃ nissāya te tāni puññāni karonti, so tisso vā phusso vā tesaṃ pubbaṅgamoti vuccati, evaṃsampadamidaṃ veditabbaṃ. Iti uppādapaccayaṭṭhena mano pubbaṅgamo etesanti manopubbaṅgamā. Na hi te mane anuppajjante uppajjituṃ sakkonti, mano pana ekaccesu cetasikesu anuppajjantesupi uppajjatiyeva. Evaṃ adhipativasena pana mano seṭṭho etesanti manoseṭṭhā. Yathā hi gaṇādīnaṃ adhipati puriso gaṇaseṭṭho seṇiseṭṭhoti vuccati, tathā tesampi manova seṭṭho. Yathā pana suvaṇṇādīhi nipphāditāni bhaṇḍāni suvaṇṇamayādīni nāma honti, tathā etepi manato nipphannattā manomayā nāma.
Pasannenāti anabhijjhādīhi guṇehi pasannena. Bhāsati vā karoti vāti evarūpena manena bhāsanto catubbidhaṃ vacīsucaritameva bhāsati, karonto tividhaṃ kāyasucaritameva karoti, abhāsanto akaronto tāya anabhijjhādīhi pasannamānasatāya tividhaṃ manosucaritaṃ pūreti. Evamassa dasa kusalakammapathā pāripūriṃ gacchanti.
Tato naṃ sukhamanvetīti tato tividhasucaritato naṃ puggalaṃ sukha manveti. Idha tebhūmikampi kusalaṃ adhippetaṃ, tasmā tebhūmikasucaritānubhāvena sugatibhave nibbattaṃ puggalaṃ, duggatiyaṃ vā sukhānubhavanaṭṭhāne ṭhitaṃ kāyavatthukampi itaravatthukampi avatthukampīti kāyikacetasikaṃ vipākasukhaṃ anugacchati, na vijahatīti attho veditabbo. Yathā kiṃ? Chāyāva anapāyinīti yathā hi chāyā nāma sarīrappaṭibaddhā sarīre gacchante gacchati, tiṭṭhante tiṭṭhati, nisīdante nisīdati, na sakkoti, “saṇhena vā pharusena vā nivattāhī”ti vatvā vā pothetvā vā nivattāpetuṃ. Kasmā? Sarīrappaṭibaddhattā. Evameva imesaṃ dasannaṃ kusalakammapathānaṃ āciṇṇasamāciṇṇakusalamūlikaṃ kāmāvacarādibhedaṃ kāyikacetasikasukhaṃ gatagataṭṭhāne anapāyinī chāyā viya hutvā na vijahatīti.
Gāthāpariyosāne caturāsītiyā pāṇasahassānaṃ dhammābhisamayo ahosi, maṭṭhakuṇḍalidevaputto sotāpattiphale patiṭṭhahi, tathā adinnapubbako brāhmaṇo. So tāvamahantaṃ vibhavaṃ buddhasāsane vippakirīti.
Maṭṭhakuṇḍalīvatthu dutiyaṃ.
I. 2. Why Cry for the Moon?
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
2. Thought is of all things first, thought is of all things foremost, of thought are all things made.
If with thought of faith a man speak or act,
Happiness follows him, even as a shadow never fading.
The Second Stanza also, beginning with the words, “Thought is of all things first,” was recited in the same city, Sāvatthi, with reference to Maṭṭhakuṇḍali.
At Sāvatthi, we are told, lived a Brahman named Never-Gave, Adinnapubbaka. He never gave anything to anybody, and that is why they called him Never-Gave, Adinnapubbaka. He had an only son who was his darling and delight. Now he desired to have a set of ornaments made for him. But knowing that in case he gave the commission to a goldsmith, he should have to pay him a fee, he beat out the gold himself, made him a pair of burnished earrings, and gave them to him. In this way his son received the name Burnished-Earrings, Maṭṭhakuṇḍali.
When his son was sixteen years old, he had an attack of jaundice. The mother looked at the boy and said, “Brahman, your son is sick; have him treated by a physician.” “Wife, if I send for a physician, I shall have to pay him a fee in rice; you care nothing about the loss of my substance.” “Well, Brahman, what are you going to do about it?” “I shall manage things in such a way as to lose none of my wealth.” So he went to various physicians and asked, “What are you in the habit of prescribing for such and such an ailment?” They mentioned to him bark of trees and this or that.
So he procured these and prepared a remedy for his son. But in spite of all he did, his son’s condition grew worse and worse, until finally he was past help. The Brahman, perceiving that his son was very weak, sent for a physician. The physician looked at the youth and said, “I have important business to attend to; send for some other physician and have him treat him.” Having thus refused to treat the boy, he turned and left the house. The Brahman realized that his son was at the point of death. Thought he, “All who come to see this youth will see the wealth in my house; therefore I will place him outside.” So he carried his son out of the house and laid him down on the terrace.
On that day, very early in the morning, the Exalted One arose from a Trance of Great Compassion. And for the purpose of seeing those who had made their Earnest Wish under previous Buddhas, those the roots of whose merit were fully developed, brethren capable of conversion, he surveyed the universe with the Eye of a Buddha, spreading the Net of his Knowledge over the ten Cakkavāḷa Worlds. Straightway Maṭṭhakuṇḍali, lying outside on the terrace, appeared within the Net of his Knowledge. As soon as the Teacher saw him, he became aware that he had been removed from the house and laid there; and considering within himself, “Have I sufficient reason for going to him?” he saw the following:
“This youth will repose faith in me, will die, and will be reborn as a deity in the Heaven of the Thirty-three, in a golden mansion, with a retinue of a thousand celestial nymphs. The Brahman will burn his body and will go about the burning-ground weeping. The deity will survey his own person, three-quarters of a league in height, adorned with sixty cart-loads of ornaments, surrounded by a thousand celestial nymphs. And considering within himself, ‘Through what merit have I attained this attainment of splendor?’ he will perceive that he obtained it by reposing faith in me. Then he will say to himself, ‘My father, who failed to provide medicine for me for fear of wasting his wealth, has now gone to the burning-ground and is weeping. I will effect a change in his attitude.’ And provoked at his father, he will take the form of Maṭṭhakuṇḍali, will go to a place not far from the burning-ground, and will fling himself on the ground and weep.
“The Brahman will ask him, ‘Who are you?’ He will reply, ‘I am your son Maṭṭhakuṇḍali.’ ‘Where were you reborn?’ ‘In the World of the Thirty-three.’ The Brahman will ask him, ‘What deed of merit did you perform?’ and Maṭṭhakuṇḍali will tell him that he was reborn in the World of the Thirty-three by reposing faith in me. Then the Brahman will ask me, ‘Are there any that have been reborn in Heaven by reposing faith in you?’ and I will reply to him, ‘It is not so many hundreds or thousands or hundreds of thousands–there is no counting the number of them.’ I will then recite a Stanza in the Dhammapada. At the conclusion of the Stanza eighty-four thousand living beings will obtain Comprehension of the Law, Maṭṭhakuṇḍali will receive the Fruit of Conversion, and so will Adinnapubbaka the Brahman. Thus through this noble youth many will obtain Comprehension of the Law.”
Of all this the Teacher became aware. Accordingly, on the following day, having attended to his toilet, he surrounded himself with a large company of monks, entered Sāvatthi for alms, and in due course arrived at the house of the Brahman. At that moment Maṭṭhakuṇḍali was lying with face turned towards the house. The Teacher, observing that he did not see him, sent forth a ray of light. “What is that radiance?” asked the youth, turning over. Seeing the Teacher from where he lay, he said, “On account of a foolish father, I have been deprived of the privilege of approaching so excellent a Buddha, nor have I obtained the privilege either of waiting upon him or of giving him alms or of hearing the Law. Now I cannot even control the movements of my hands; there is nothing else I can do.” So saying, he reposed faith in the Buddha. The Teacher said, “He has done enough,” and departed.
As the Tathāgata receded from his range of vision, he died with a believing heart, and as if awaking from sleep, was reborn in the World of the Gods in a golden mansion thirty leagues in extent. The Brahman burned the body of his son, and resorting to the burning-ground, abandoned himself entirely to lamentation. Every day he would go to the burning-ground and weep and say, “Where are you, my only son.’ ”
The deity his former son surveyed his own glory and considered within himself, “By what deed of merit have I obtained this?” Perceiving that it was by reposing faith in the Teacher, he said to himself, “This Brahman failed to provide medicine for me when I was sick, but now goes to the burning-ground and weeps; I must effect a change in his attitude.” Accordingly he took the form of Maṭṭhakuṇḍali, went to a place not far from the burning-ground, and stood wringing his hands and weeping. The Brahman saw him and thought to himself, “As for myself, I am weeping because of sorrow for my son; why is yonder youth weeping.’ I will ask him.” So he asked him in the following Stanza,
Richly adorned, wearing earrings of burnished gold.
Bearing garlands, with protuberances of yellow sandal.
You wring your hands and weep.
Why are you afflicted in the midst of the forest?
Said the youth,
I have obtained a chariot-body.
Shining, of solid gold,
But I cannot find a pair of wheels for it;
Through grief over this I shall lose my life.
Then said the Brahman to him,
Name wheels of gold, of precious stones,
Of copper, or of silver.
Name them to me, good youth,
And I will procure you a pair of wheels.
Hearing this, the youth thought to himself, “This Brahman failed to provide medicine for his son. But seeing that I look like his son, he says, ‘I will procure wheels for your chariot, either of gold or of precious stones or of copper or of silver.’ Very well! I will humble him.” So he said, “How large a pair of wheels will you make for my chariot?” “As large as you wish.” “I want the moon and the sun,” said the youth. “Give them to me.” By way of request
Said the youth to the Brahman, the moon and the sun are brothers twain.
My chariot is of solid gold; with such a pair of wheels it would shine.
The Brahman replied.
Youth, you are a simpleton to seek for what cannot be obtained.
I suppose you will die, for you will never obtain the moon and the sun.
But the youth said to him, “But which is the greater simpleton, he who weeps for what exists, or he who weeps for what does not exist?”
They are seen that go and come;
The property of color is seen on both sides of the street;
But he that is dead and gone cannot be seen;
Which of us that weep here is the greater simpleton?
Hearing this, the Brahman came to the conclusion, “What this youth says is sensible.” And he said to him.
Youth, what you say is quite true; it is I that am the greater simpleton of the two that weep;
Like a child crying for the moon, I desired a son that is dead and gone.
Having thus spoken, freed from sorrow by the words of the youth, the Brahman pronounced the following Stanzas in praise of the youth.
When I was all on fire, and the fire was as if fed with ghee,
You poured water on the fire, as it were, and extinguished all my grief.
You drew out the arrow that was in me, the sorrow that was in my heart;
Although I was dead with sorrow, you removed my sorrow for my son.
The arrow of my grief has been withdrawn, and I am tranquil and happy;
Having heard your words, youth, I sorrow no more, nor do I weep.
Then the Brahman asked him, “Who are you?”
Are you a devatā or a gandhabba, or are you Sakka Purindada?
Who are you? whose son are you? how am I to know you?
The youth replied,
I am he for whom you lament, he for whom you weep.
Your son, whom you yourself burned in the burning-ground.
By the performance of a work of merit
I have attained the Society of the Thirty.
In these words the youth gave him the information he asked for. Then said the Brahman,
I never saw you give alms, either little or much, in your own home.
Nor did you so much as keep fast-day; by what work of merit did you attain the World of the Gods?
The youth replied,
As I lay in my own home, sick, afflicted, oppressed with a grievous ailment, my body weakened by disease,
I beheld the Buddha, free from passion, free from doubt, happy, of lofty wisdom.
With joyful mind and believing heart I did homage to the Tathāgata, with hands reverently clasped;
By the performance of this work of merit I attained the Society of the Thirty.
As the youth spoke, the whole body of the Brahman was suffused with joy. And this joy he made known in the following Stanza,
Wonderful! marvelous! that such as this should be the fruit of a reverent salutation.
I too with joyful mind and believing heart seek refuge in the Buddha this very day.
Then said the youth,
This very day with believing heart seek refuge in the Buddha, the Law, and the Order;
Likewise take upon yourself the Five Precepts, and keep them unbroken and unimpaired;
Refrain from taking life, from this moment; take not that which is not given to you in this world;
Drink not strong drink; speak not falsely; be content with your own wife.
“Very well,” said the Brahman, agreeing. And he pronounced the following Stanzas,
You desire my weal, yakkha; you desire my welfare, divinity;
I will obey your words; you are my teacher.
I seek refuge in the Buddha, and likewise in his incomparable Law,
And in the Order of the Prince of Men do I seek refuge.
From the taking of life do I refrain, from this moment; I abstain from taking that which is not given to me in this world;
I drink not strong drink; I speak not falsely; I am content with my own wife.
Then said the deity to him, “Brahman, you have much wealth in your house. Approach the Teacher, give alms, listen to the Law, and ask him questions.” So saying, he disappeared. The Brahman went home and said to his wife, “Wife, I shall invite the monk Gotama to my house and ask him questions; therefore prepare hospitality.” Then he went to the monastery, and without saluting the Teacher or expressing any pleasure at seeing him, stood on one side and said, “Sir Gotama, consent for to-day to take a meal in my house with your company of monks.” The Teacher consented. As soon as the Brahman received his consent, he returned home quickly and caused food, both hard and soft, to be prepared in his house.
The Teacher, accompanied by the Congregation of Monks, went to his house and sat down on the seat prepared for him. The Brahman waited upon him respectfully. A multitude of people assembled. We are told that when a man who holds false views invites the Tathāgata, two classes of people assemble. Those who hold false views assemble with the thought in their minds, “To-day we shall see the monk Gotama embarrassed by the questions that are asked him.” Those who hold orthodox views assemble with the thought, “To-day we shall see the power of a Buddha and the grace of a Buddha.”
Now when the Tathāgata had finished his meal, the Brahman approached him, seated himself on a low seat, and asked him the following question, “Sir Gotama, are there any that have been reborn in Heaven, without giving alms to you, without rendering honor to you, without hearing the Law, without keeping fast-day, solely by making an act of faith?” “Brahman, why do you ask me? Did not your own son Maṭṭhakuṇḍali tell you that he had been reborn in Heaven by reposing faith in me?” “When, Sir Gotama?” “Did you not go to the burning-ground to-day, and while you were weeping, see a youth near you wringing his hands and weeping? And did you not say to him, ‘Richly adorned, wearing earrings of burnished gold, bearing garlands, with protuberances of yellow sandal?’ ” Continuing, the Teacher related in detail the conversation of the two and told the whole story of Maṭṭhakuṇḍali.
For this very reason the Teacher pronounced this Word of the Buddha, “Brahman, it is not a question of one hundred or two hundred – there is no counting the number of those who have been reborn in Heaven by reposing faith in me.” The multitude were not free from doubt. The Teacher, perceiving that they were not free from doubt, commanded, “Let the deity Maṭṭhakuṇḍali come hither in his mansion.” Thereupon Maṭṭhakuṇḍali drew near, three-quarters of a league in height, his person adorned with celestial adornments. Descending from his mansion, he paid obeisance to the Teacher and stood respectfully on one side. The Teacher asked him, “What work of merit did you perform to attain this glory?”
Divinity, you who possess surpassing beauty,
Illuminating all four quarters like the herb-star,
I ask you, god of mighty power,
What meritorious act did you perform in your human estate?
When the Teacher had completed this Stanza, the deity replied, “Reverend Sir, I obtained this glory by reposing faith in you.” “You obtained it by reposing faith in me?” “Yes, Reverend Sir.”
The populace surveyed the god and exclaimed, “Marvelous, indeed, are the powers of the Buddhas! the son of the Brahman Adinnapubbaka obtained glory such as this simply by reposing faith in the Teacher, without doing a single other work of merit!” And they were filled with joy. Then the Teacher said to them, “Our thoughts are the source of all our actions, both good and bad, and by our thoughts are our actions controlled. For, like a shadow, an act done with thought of faith never leaves a man who goes to the World of the Gods or the world of men. Having related this story, the King of Truth joined the connection, and sealing, as it were, with the royal seal an edict to which the clay had been attached, pronounced the following Stanza,
2. Thought is of all things first, thought is of all things foremost, of thought are all things made.
If with thought of faith a man speak or act,
Happiness follows him, even as a shadow never fading.
- Parallels: Jātaka 449: iv. 59-62; Jātaka 454: 85-87; Vimāna-Vatthu Commentary, vii. 9: 322-330 (cf. Peta-Vatthu Commentary, ii. 5: 92); Rogers, Buddhaghosha’s Parables, ii, pp. 12-17. The author has evidently worked over Jātaka 449, both Introduction and Story of the Past, making one story out of two and expanding the original considerably. The Buddha’s conversion of Maṭṭhakuṇḍali, a prominent feature of the Dhammapada Commentary story, is lacking in the Jātaka version. The Vimāna-Vatthu Commentary version is derived, not from the Jātaka Book, but from the Dhammapada Commentary. It is much briefer at the beginning and end; elsewhere more diffuse. Vv. cm., 32503-32613, is word for word the same as Dh. cm., i. 29-30. This story is referred to at Milindapañha, 35011-12. Text: N i. 25-37.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 1, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.