Chú giải Pháp Cú · Kệ 1 · Dhp 1

Tích Trưởng Lão Cakkhupāla

Cakkhupālattheravatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 1 Kinh Pháp Cú, phẩm Song Yếu, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 01)

“Manopubbaṅgamā dhammā,
Manoseṭṭhā manomayā;
Manasā ce paduṭṭhena,
Bhāsati vā karoti vā;
Tato naṃ dukkham anveti,
Cakkaṃ’va vahato padaṃ”

“Tâm đi trước các Pháp,
Tâm chủ, duy tâm tác,
Nếu bằng tâm nhơ đục,
Nói năng hoặc hành vi,
Khổ sẽ theo người như,
Bánh xe chân bò giật”

Kệ Pháp Cú này được thuyết tại đâu? Tại thành Sāvatthī (Xá Vệ). Nói về ai? – Về Trưởng lão Cakkhupāla (Đại đức Hộ (Mù) Nhãn).

Tương truyền rằng:

Thuở ấy, trong thành Sāvatthī có ông Trưởng lão tên là Mahāsuvaṇṇa (Đại Kim) là một bậc phú hào, gia tài đồ sộ, sự sản kinh dinh, nhưng lại hiếm muộn con cái.

Một hôm, nhân dịp đi tắm ở bến tắm về, dọc đường ông gặp một cây Đại lâm thọ, tàng nhánh sum suê: “Trên cây nầy chắc có thọ thần oai linh ngự trị”. Nghĩ như thế, ông bèn thuê công dọn sạch chỗ gốc cây, khiến xây một vòng tường rào và cho trải cát bên trong, đoạn ông trần thiết cờ xí, trang hoàng cho cây đại thọ, rồi khấn vái rằng: “Xin cho tôi có được một đứa con, dầu trai hay gái tôi cũng sẽ làm đại lễ cúng tế Tôn thần”. Nguyện xong ông lui gót về nhà.

Rồi thì, không bao lâu vợ ông thọ thai, ông chăm lo thuốc thang cơm nước đầy đủ cho bà để bảo dưỡng thai nhi. Mười trăng vừa mãn, bà trổ sanh một mụn trai, ông Mahāsuvaṇṇa tin rằng: “Nhờ ta bảo hộ cây rừng, mới được đứa con cầu tự”. Nên ông đặt cho nó là Pāla. Kế đó bà lại sanh thêm một quí tử nữa, đứa con trai sau, phú ông đặt tên là Culla Pāla (Tiểu Hộ) và đứa trước ông kêu là Mahā Pāla (Đại Hộ) cho khỏi trùng nhau.

Khi hai trẻ lớn khôn, ông bà Mahāsuvaṇṇa lựa chỗ xứng đáng cho con kết mối duyên lành. Tháng ngày qua, lần lượt mẹ cha thành người thiên cổ. Tất cả gia sản được chia đồng đều cho hai anh em.

Thời bấy giờ, Đức Bổn Sư đã chuyển bánh xe Pháp bảo, sau khi tuần tự trải đi hoằng hóa nhiều nơi, Ngài tạm dừng bước du hành ngự đến an ngự tại Jetavana Mahāvihāra (Đại Tự Jetavana), do nhà cự phú Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) đã xuất của kho kiến tạo, phí tổn lên tới năm trăm bốn mươi triệu đồng vàng. Nơi đây Đức Phật đã khai thông con đường thiên giới và con đường Niết Bàn, tiếp độ vô số chúng sanh chứng đắc đạo quả.

Đức Như Lai chỉ có lưu trú trong một mùa an cư (ba tháng mưa) tại ngôi chùa Nigrodha vốn là công trình của hai lần tám muôn quyến thuộc trong hoàng tộc Thích Ca (tám muôn bên họ ngoại và tám muôn bên họ nội).

Thế mà, tại Đại Tự Jetavana của ông Anāthapiṇḍika, Ngài đã an cư mùa mưa tất cả là mười chín hạ và tại Pubbārāma (Đông Phương Tự) của bà Visākhā, xây cất với phí tổn là hai trăm bảy mươi triệu tiền vàng (27 koṭi), Ngài cũng đã an cư mùa mưa sáu hạ. Đó là nhờ công đức lớn lao của hai gia tộc nầy mà Đức Giáo Chủ đã ngự an cư trong khoảng thời gian hai mươi lăm năm gần thành Sāvatthī.

Ông Anāthapiṇḍika cũng như bà Visākhā đại tín nữ, hằng ngày đến hầu cận Đức Như Lai thường xuyên, mỗi ngày hai lượt và họ chẳng khi nào đến với tay không vì mỗi lần từ nhà ra đi hai người đều nhớ rằng: “Mấy vị Sa di nhỏ đang mong chờ ta đến dâng cúng (họ sẽ nhìn tay ta)”. Đi trước buổi ngọ, họ bảo gia nhơn cùng đi, mang theo vật thực loại cứng và loại mềm, đi sau bữa ngọ họ cho mang theo năm món thuốc ngừa bệnh (là bơ, sữa, mật, đường, dầu ăn) và tám thứ nước giải khát (nước cốt trái cây như nước trâm, xoài, chuối viết, thanh trà, thị, cam…). Còn tại nhà riêng của mỗi người luôn luôn lúc nào cũng dự bị sẵn sàng chỗ ngồi cho hai ngàn vị Tỳ Khưu về phần cơm nước, thuốc men vị sư nào cần dùng món chi đều được cúng dường theo như ý muốn.

Tuy nhiên, không có ngày nào mà ông Anāthapiṇḍika hỏi Đức Thầy một câu về đạo lý. Theo truyền ngôn thì sở dĩ ông không vấn đạo là vì ông quá tôn sùng ngưỡng mộ Đức Bổn Sư, ông tự nhủ: “Đức Như Lai là một vị Phật Chí Tôn, một vì Vương chí Thánh, thuộc dòng dõi quyền quí cao sang, nếu Ngài thấy ta hộ độ Ngài nhiều rồi thuyết pháp cho ta nghe, sợ e Ngài phải hao hơi tổn sức”.

Nhưng ông Anāthapiṇḍika vừa an tọa thì Đức Bổn Sư lại nghĩ rằng: “Trưởng giả nầy cứ lo gìn giữ cho Ta, ở chỗ mà Ta chẳng cần chi phải gìn giữ”. Trải qua bốn A tăng kỳ (Asaṅkheyya) và một trăm ngàn đại kiếp (mahākappa) của quả địa cầu, Ta đã từng cắt thủ cấp khôi ngô tuấn tú của chính mình, Ta đã từng móc mắt Ta, Ta đã từng rứt thịt nơi quả tim Ta, Ta đã từng đoạn ly vợ con yêu dấu nhất đời mà Ta quí trọng chẳng khác nào mạng sống của tự thân Ta, nhất nguyện để hoàn thành hạnh Pāramī (Ba La Mật) ngõ hầu để có thể tuyên dương chánh pháp, phổ độ quần sanh. Cái ông nầy cứ lo gìn giữ cho Ta cái chỗ mà Ta chẳng cần chi phải gìn giữ”. Thế rồi, Đức Bổn Sư thuyết ngay một thời pháp.

Thuở ấy, thành Sāvatthī rất là phồn thịnh và đông đúc dân cư, sau khi nghe Đức Thế Tôn thuyết pháp thì phần lớn nhập dòng Thánh vức, chứng bậc Thinh Văn (Sāvaka).

Chư Thánh cư sĩ Thinh Văn có hai phận sự: Buổi sáng thì lo để bát hộ chư Tăng, buổi chiều thì cụ bị lễ vật để đi nghe pháp. Khi đi, các vị ấy cầm hương hoa trên tay và dắt theo người để mang vải hoặc y, thuốc ngừa bệnh và nước giải khát.

Một hôm, Trưởng giả Mahāpāla trông thấy các Thánh cư sĩ Thinh Văn đi chùa, trên tay có cầm hương hoa, bèn hỏi: “Hàng đại chúng đi đâu mà đông vậy?”, có tiếng trả lời rằng: “Đi nghe thuyết pháp”.

- Tôi cũng đi nữa.

Nói xong, Trưởng giả nhập theo đoàn người đi chùa. Đến nơi đảnh lễ Đức Bổn Sư, rồi ngồi xuống một nơi sau cùng ngoài vòng cử tọa.

Trước khi thuyết pháp, chư Phật luôn luôn quán xét căn cơ và trình độ của thính chúng rồi mới tùy nhân duyên mà giảng giải về pháp thọ trì Qui giới, hoặc pháp xuất gia chẳng hạn. Bởi thế, ngày ấy Đức Giáo Chủ sau khi quán xét căn cơ trình độ của Trưởng giả Mahāpāla, Ngài đã thuyết bài pháp gọi là “Tuần tự pháp thoại (Anupubbīkathā), nghĩa là Ngài lần lượt giảng giải liên tục về năm pháp kế tiếp nhau từ bố thí, trì giới, các nhàn cảnh đến tội ngũ trần và phước báu của bậc xuất gia.

Ngồi yên nghe pháp, Trưởng giả Mahāpāla ngẫm nghĩ: “Khi mình lìa đời đi sang thế giới bên kia, thì con trai con gái đều chẳng theo mình, nhà cửa ruộng vườn cũng đều bỏ lại, thậm chí xác thân cũng không còn làm bạn đồng hành, nào có ích chi mà ta mải miết đeo dai gánh nặng gia đình, ta phải xuất gia mới được”.

Đợi dứt thời pháp thoại, Trưởng giả đến gần Đức Bổn Sư và ngỏ lời cầu xin xuất gia nhập đạo.

Khi ấy Đức Phật bèn hỏi:

- Ông có quyến thuộc nào để cần hỏi lại ý kiến (từ giã) không?

- Bạch Ngài! Con còn có đứa em trai.

- Vậy ông hãy về hỏi lại ý kiến của em ông đi.

- Dạ vâng.

Sau khi đảnh lễ tạm biệt Đức Phật, Trưởng giả Mahāpāla trở về nhà, cho mời Trưởng giả Cullapāla đến và bảo:

- Em à! Tất cả tài sản hữu thức và vô thức (gồm có tôi tớ, súc vật, động sản và bất động sản) trong nhà này anh giao hết cho em trọn quyền làm chủ.

- Còn anh thì sao? Thưa anh.

- Anh sẽ đến xuất gia với Đức Tôn Sư.

- Anh ơi! Sao anh nói chi lời ấy, từ khi thân mẫu từ trần thì em sở cậy chỗ anh thay vào chỗ mẹ. Đến khi thân phụ quá cố thì em cũng nhờ nơi anh thế chỗ của cha. Vả lại, anh là một bậc phú gia, của tiền thừa thãi, anh cứ ở nhà mà làm việc phước đức cũng được, hà tất anh phải xuất gia như vậy.

- Em ơi! Anh vừa được nghe chánh pháp của Đức Tôn Sư, Ngài đã thuyết một thời pháp tuyệt diệu cả đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối, giải rành ba tướng mong manh (Saṇhasukhumaṃ) là Vô thường, Khổ não, Phi ngã khiến cho anh nghe qua ngán ngẫm sự đời, không thể tiếp tục ở nhà mà mong kiện toàn đạo hạnh cao siêu, cho nên anh phải xuất gia.

- Thưa hiện giờ anh cũng là thanh niên tráng kiện, xin hãy nán lại, chờ khi già cả rồi hãy xuất gia.

- Em à, con người khi già nua thì chắc hẳn tay chân không còn tự chủ, không thể điều khiển theo như ý muốn của mình. Chính ngay bản thân hãy còn như vậy thay, huống hồ là gia nhơn quyến thuộc, bởi thế anh không làm theo lời khuyến dụ của em, trái lại anh sẽ đi ngay bây giờ để thực hành đầy đủ giới hạnh của bậc Sa Môn.

“ Jarājajjaritā honti,
Hatthapadā anassavā;
Yassa so vihatatthāmo,
Kathaṃ dhammaṃ carissati. ”
“ Tuổi già làm suy yếu,
Tay chân khó dạy biểu,
Người lực kiệt sức cùng,
Lấy chi hành pháp diệu. ”

Sau bài kệ, Trưởng giả Mahāpāla nói tiếp:

- Nầy em! Chí anh đã quyết, dầu em có can gián cách nào, anh cũng định xuất gia mà thôi.

Thế thôi, bỏ mặc người em kêu gào than khóc, Trưởng giả Mahāpāla dứt tình ra đi, đến chỗ Đức Bổn Sư đang ngự và xin xuất gia nhập đạo nơi Ngài.

Thọ Cụ túc giới xong vị Tỳ khưu mới phải ở chung cùng với các vị Đại Đức Tăng để học tập thu thúc trong thời gian năm hạ. Đến mãn hạ thứ năm, làm lễ Tự Tứ xong, Tỳ khưu Mahāpāla tìm đến Đức Bổn Sư đảnh lễ Ngài, rồi bạch hỏi rằng:

- Bạch Đức Tôn Sư! Trong tôn giáo của Ngài có bao nhiêu pháp chánh yếu cần phải hành trì?

- Nầy Tỳ khưu! Chỉ có hai pháp tất yếu mà thôi, đó là Pháp học và Pháp hành vậy.

- Bạch Ngài! Pháp học là sao và Pháp hành là thế nào?

- Tùy theo trí tuệ của mình, học hỏi ôn nhuần một hay hai bộ kinh (Nikāya) hoặc toàn bộ Tam Tạng (Tipiṭaka) ghi chép Phật Ngôn, sau khi đã thành thuộc đem ra đọc tụng thuyết giảng để giáo hóa chúng sanh, đó gọi là Pháp Học (Ganthadhura).

Còn như cam chịu sống cảnh thanh bần đạm bạc (Sallahukavutti) vui thích ở nơi vắng vẻ hẻo lánh (Pantase nāsanabhirata), ngày đêm hằng nhớ tưởng đến tánh chất vô thường dị diệt của bản ngã (attabhavekkayaviya), rồi bền chí kiên gan, hành thiền đắc Tuệ Minh Sát để dứt trừ phiền não, để chứng bậc Vô sanh (Arahattagahana), đó gọi là Pháp Hành (Vipassanādhura) vậy.

- Bạch hóa Tôn Sư! Đệ tử nay là kẻ cao niên xuất gia (Mahāllakakālepabbajita) không kham theo đuổi Pháp học cho đến ngày thành tựu hoàn toàn, còn Pháp hành thì đệ tử còn có thể làm cho kết quả mỹ mãn được. Cúi xin Tôn Sư truyền dạy đề mục (Kammaṭṭhāna) cho đệ tử.

Thể theo lời thỉnh cầu của Tỳ khưu Mahāpāla, Đức Bổn Sư đã truyền dạy cho thầy câu thoại đầu (đề mục) để niệm cho đắc quả Vô sanh (A La Hán).

Sau khi đảnh lễ từ tạ Đức Tôn Sư, thầy đi tìm thêm được sáu mươi vị Tỳ khưu làm bạn đồng tu, rồi cùng nhau cất bước ra đi hành đạo, đi được quãng đường xa một trăm hai mươi do tuần (Visayojanasatamagga). Chư Sư đến một thị trấn nhỏ sát biên giới, Đại đức Mahāpāla hướng dẫn cả đoàn chư Tăng vào đó trì bình khất thực.

Dân chúng trông thấy chư vị Tỳ khưu đầy đủ oai nghi tế hạnh, nên phát sanh lòng ngưỡng mộ. Họ bảo nhau sắp đặt chỗ ngồi thỉnh chư Tăng an tọa và dâng cúng vật thực ngon lành, xong mới hỏi rằng:

- Bạch chư Đại đức, chẳng hay các Ngài định đi đâu vậy?

- Nầy chư thiện nam! Chúng tôi đi tìm một chỗ tiện nghi thuận cảnh.

Nghe đáp như vậy, những vị trí thức trong nhóm người ấy tự nhiên là hiểu biết chư Tăng đang cần có chỗ để kiết hạ an cư, họ bèn thỉnh khéo rằng:

- Bạch Đại đức Tăng, nếu quí Ngài có thể lưu lại nơi đây nhập hạ ba tháng nầy, thì rất tiện bề cho chúng tôi là có được chỗ nương nhờ vững chắc để thọ trì Tam qui và Ngũ giới.

Chư Tăng cùng nghĩ: “Chúng ta nương nhờ các gia tộc nầy hộ độ, may ra có thể tu hành siêu xuất ba cõi được chăng?”. Thế nên quí Ngài nhận lời cầu thỉnh.

Nhóm người ấy, sau khi được sự chấp nhận của chư Tăng, liền khởi công xây dựng một ngôi Tịnh xá kiến tạo các cơ sở cần thiết để chư Tăng tùy nghi sử dụng trong lúc ban ngày hoặc ban đêm (Rattitthanadivāthānāni), rồi dâng cúng tất cả đến chư Tăng. Chư Tăng chỉ còn việc là hàng ngày ôm bát vào thị trấn nhỏ để khất thực mà thôi.

Sau khi ấy, có một vị y sĩ tìm đến Tịnh xá, hứa cung phụng chư Tăng về phương tiện trị liệu thuốc thang. Ông nói: “Bạch Đại đức Tăng! Chỗ nào người ở đông đảo thì không sao tránh khỏi phát sanh bệnh tật. Vậy nếu trong quí Ngài có vị nào đau yếu, xin hoan hỷ báo tin cho tôi biết, tôi nguyện sẽ tận tâm chữ trị và cúng dường thuốc men đến cho quí Ngài dùng”.

Ngày làm lễ nhập hạ an cư, Đại đức Mahāpāla hội các vị Tỳ khưu lại nói rằng:

- Nầy chư hiền hữu! Trong ba tháng hạ nầy, chư hiền hữu sẽ giữ mấy oai nghi?

- Bạch Ngài! Chúng tôi sẽ giữ hết bốn oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi).

- Nói thế có hợp không, hỡi chư hiền hữu? Chúng ta đương nhiên là chẳng buông lung giải đãi vì trước khi ra đến tận chỗ nầy, chúng ta đã thọ trì đề mục Minh sát từ nơi Đức Phật hiện thế và ân huệ của Đức đương kim Đại Giác, chẳng có thể hưởng được từ một thái độ lưng chừng. Trái lại ta phải có thái độ dứt khoát một lòng thiết tha vì đạo mới được vả lại bốn khổ cảnh ác đạo hiện như đang hườm sẵn chờ người phóng dật, kẻ nào buông lung ắt sẽ về đó như về nhà của mình chẳng sai. Vậy chư hiền hữu hãy nên tinh cần dũng mãnh.

- Bạch Ngài! Còn Ngài thì sao?

- Về phần tôi, thì tôi nguyện sẽ giữ ba oai nghi, tôi sẽ không đặt lưng nằm xuống trong ba tháng hạ.

- Sàdhu! Lành thay! Bạch Đại đức! Chúng tôi cầu chúc cho Ngài chuyên cần tinh tấn y như sở nguyệṇ

Cuối tháng thứ nhất, Đại đức Mahāpāla cảm thấy đôi mắt xốn xang vì sự bỏ ngủ. Qua tháng thứ hai Ngài bị đau mắt thật sự, từ hai khóe mắt nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng như hai vòi nước tuôn ra từ một cái lu nước lủng. Tuy vậy, Đại đức vẫn tiếp tục hành thiền Minh sát cả đêm thâu, mãi đến lúc mặt trời sắp rạng, Đại đức mới vào ngồi tịnh trong cốc.

Khi đến giờ đi bát, các Tỳ khưu đến thỉnh Đại đức:

- Bạch Ngài! Đã tới giờ đi khất thực.

- Thế thì chư hiền hữu cụ bị y bát sẵn sàng đi.

Nói rồi, Đại đức cũng tự mình đắp y mang bát ra đi, chừng ấy các Tỳ khưu mới nhận thấy hai mắt của Đại đức ràn rụa nước mắt, bèn hỏi:

- Bạch Ngài! Ngài làm sao vậy?

- Này chư hiền hữu, tôi bị gió làm xốn mắt.

- Bạch Ngài! Vị y sĩ lúc nọ đã chẳng hứa lời giúp đỡ trị bệnh chư Tăng hay sao? Để chúng tôi báo tin cho vị ấy biết.

- Phải đó, chư hiền hữu!

Chư Tỳ khưu báo tin cho vị y sĩ. Vị nầy liền chế một thứ thuốc dầu, gởi chư Tăng đem về dâng lên Đại đức Mahāpāla, Ngài vẫn giữ oai nghi ngồi mà nhỏ thuốc lên mũi. Nhỏ thuốc xong, Đại đức đi vào làng vị y sĩ trông thấy bèn hỏi:

- Bạch Đại đức, nghe nói Đại đức bị trúng gió đau mắt phải không?

- Phải đó, ông thiện nam.

- Bạch Đại đức, thứ thuốc dầu của tôi chế để nhỏ lên mũi, tôi có gởi dâng Đại đức. Đại đức đã dùng qua chưa?

- Ta đã dùng rồi, ông thiện nam.

Vị y sĩ nghĩ thầm: “Thứ thuốc của mình chế gởi dâng Đại đức, chỉ cần nhỏ qua một lần là đủ lành bệnh, nhưng nay Đại đức dùng rồi mà chưa hết bệnh là bởi cớ sao?”, rồi ông lên tiếng hỏi nữa rằng: “Bạch Đại đức chẳng hay Đại đức nằm hay ngồi mà nhỏ thuốc vậy?”.

Đại đức Mahāpāla làm thinh, mặc dầu vị ấy lập lại câu hỏi ấy nhiều lần, Ngài vẫn nín lặng không đáp.

Vị y sĩ tính thầm: “Để rồi mình sẽ đến Tịnh xá xem qua chỗ ngụ của Đại đức”. Ông bèn nói: “Thôi vậy cũng được, xin Đại đức cứ đi”.

Sau khi tiễn chân Đại đức Mahāpāla vị y sĩ đi ngay đến Tịnh xá, xem xét chỗ ngụ của Đại đức, thì thấy có một chỗ đi kinh hành và một chỗ ngồi, còn chỗ nằm thì tuyệt nhiên không thấy đâu cả, ông lại hỏi: “Bạch Đại đức, lúc nhỏ thuốc đó Đại đức ngồi hay nằm?”. Đại đức làm thinh.

Thấy thế vị y sĩ khẩn khoản yêu cầu: “Bạch Đại đức, xin Đại đức đừng làm như vậy không nên. Một bậc Sa môn cũng cần phải bảo dưỡng xác thân đầy đủ sức khỏe để mà hành đạo. Yêu cầu Đại đức hoan hỷ nằm xuống đặng nhỏ thuốc cho có hiệu quả”.

Giây lâu, Đại đức mới đáp: “Thôi hiền hữu hãy về đi. Để ta bàn tính lại rồi sẽ quyết định”.

Ngay bấy giờ, Đại đức Mahāpāla không có gia đình quyến thuộc chi ở tại nơi ấy để cùng thảo luận hoặc thăm dò ý kiến. Vì thế Đại đức tự mình hỏi lấy mình rằng: “Hỡi nầy Pāla hiền hữu, hãy nói cho ta biết hiền hữu xem đôi nhục nhãn của mình hay giáo pháp của Đức Giác Ngộ là đáng quý trọng hơn?”.

Và Đại đức cũng tự trả lời câu hỏi của mình như vầy: “Từ đời vô thủy dĩ lai, trải qua hằng hà sa số kiếp, chìm nổi trôi dạt trong biển luân hồi, hiền hữu vẫn sống mãi trong cảnh đui mù tăm tối. Trong khoảng thời gian ấy không thể đếm kể xiết là bao nhiêu trăm Đức Phật, bao nhiêu ngàn Đức Đại Giác đã thành đạo chứng quả, còn kiến văn, tri thức của hiền hữu không đủ bao trùm thời kỳ của một Đức Phật trong số chư Phật quá khứ, bây giờ đây hiền hữu đã phát nguyện: “Trong hạ kỳ nầy! Ta sẽ ngăn oai nghi nằm suốt cả ba tháng”. Vậy thì dù cho đôi mắt của hiền hữu có đui mù hư hoại đi chăng nữa cũng mặc kệ cho nó đui mù hư hoại. Hiền hữu chỉ cần kiên trì Giáo pháp của Đức Đại Giác mà thôi”.

Rồi như để dạy bảo thân xác của mình. Đại đức ngâm lên mấy câu kệ:

“Cakkhūni hāyantu mamāyitāni,
Sotāni hāyantu tatheva kāyo;
Sabbampidaṃ hāyatu dehanissitaṃ,
Kiṃ kāraṇā pālita tvaṃ pamajjasi”
“Cakkhūni jīrantu mamāyitāni,
Sotāni jīrantu tatheva kāyo;
Sabbampidaṃ jīratu dehanissitaṃ,
Kiṃ kāraṇā pālita tvaṃ pamajjasi”
“Cakkhūni bhijjantu mamāyitāni,
Sotāni bhijjantu tatheva kāyo;
Sabbampidaṃ bhijjatu dehanissitaṃ,
Kiṃ kāraṇā pālita tvaṃ pamajjasi?”
“Mắt ta dù có đui mù,
Tai ta dù điếc, thân dầu bất an.
Trong thân tất cả cơ quan,
Dầu tê liệt hết, há màng chi sao.
Hộ ơi! Đừng vịn cớ nào?
Buông lơi mối đạo, lãng xao Pháp hành”
“Mắt ta dầu có quáng manh,

Tai ta dầu nặng, thân đành bất an.
Trong thân tất cả cơ quan,
Dầu hư hoại hết, há màng chi sao!
Hộ ơi! Đừng vịn cớ nào?
Buông lơi mối đạo, lãng xao Pháp hành”
“Mắt ta dầu có tan tành,
Tai ta dầu lủng, thân đành bất an.
Trong thân tất cả cơ quan,
Dầu tiêu tán hết há màng chi sao!
Hộ ơi! Đừng vịn cớ nào?
Buông lơi mối đạo, lãng xao Pháp hành”

Ngâm bài kệ dài ba kệ khúc để tự huấn dụ lấy mình xong. Đại đức Mahāpāla vẫn giữ oai nghi ngồi như trước, lấy thuốc nhỏ lên mũi, rồi đi vào làng khất thực. Vị y sĩ trông thấy Ngài bèn hỏi:

- Bạch Đại đức! Hôm nay Đại đức có nhỏ thuốc lên mũi không?

- Có rồi! Ông thiện nam.

- Vậy bây giờ Đại đức thấy hai mắt thế nào?

- Vẫn còn đau nhức như cũ, ông thiện nam.

- Sao thế? Đại đức nằm xuống hay cũng vẫn ngồi mà nhỏ thuốc?

Đến đây, Đại đức Mahāpāla làm thinh, dầu cho vị y sĩ có hỏi đi hỏi lại nhiều lần, Ngài cũng chẳng thốt ra một lời để đối đáp. Khi ấy vị y sĩ nói:

- Đại đức đã không cần làm cho mình được tiện nghi thoải mái thì thôi, nhưng tôi yêu cầu Đại đức từ nay về sau đừng nói với ai là: “Có ông thầy đó đã chế thuốc trị bệnh cho ta và tôi cũng chẳng nhìn nhận là đã chế thuốc trị bệnh cho Đại đức”.

Đại đức bèn đáp:
- Ta sẽ không nói thế đâu.

Bị vị y sĩ chạy bịnh không chịu cứu chữa, Đại đức trở về Tịnh xá, lòng tự nhủ rằng: “Nầy ông Sa môn ơi! Thầy thuốc đó bỏ rơi ông thì bỏ, chứ ông đừng bỏ rơi hạnh nguyện của mình đa nhé”.

Ngài lại xướng lên bốn câu kệ:
“Paṭikkhitto tikicchāya,
Vejjenāpi vivajjito;
Niyato maccurājassa,
Kiṃ pālita pamajjasi?”
“Diệu dược vô phương chữa trị rồi,
Lương y bất lực cũng đành lui,
Giờ đây có nước chờ Diêm Chúa,
Hộ hỡi làm sao dám dễ duôi?”

Sau bài kệ tự huấn ấy, Đại đức thu thúc hành Sa môn pháp một cách rốt ráo. Đến cuối canh giữa đêm ấy không trước không sau, thì hai mắt của Ngài vĩnh biệt ánh sáng, nhưng đồng thời tâm của Ngài cũng đoạn ly tất cả tiềm miên phiền não. Ngài hưởng thụ nguồn an vui tự tại trong sự giác ngộ nội tâm của quả vị A La Hán, rồi vào ngồi trong tịnh thất.

Đến giờ đi bát, chư Tăng đến thỉnh:
- Bạch Ngài! Đã đến giờ đi khất thực.
- Tới giờ rồi sao chư hiền hữu?
- Dạ, bạch Ngài đã tới giờ rồi.

- Nếu vậy chư hiền hữu hãy đi đi.

- Dạ! Còn Ngài thì sao? Bạch Ngài.

- Mắt ta (hỏng mất) hết thấy đường rồi chư hiền hữu.

Các Tỳ khưu sau khi nhìn thấy đôi mắt mù của Đại đức Mahāpāla, cả thảy đều động lòng, quanh tròng lệ ứa, đồng tỏ lời an ủi rằng: “Bạch Ngài! Xin Ngài đừng bận tâm lo nghĩ chi nhiều, đã có chúng tôi chăm lo cho Ngài đàng hoàng tử tế”.

Kế đó, sau khi thi hành mọi việc cần thiết thuộc về phận sự của mình, chư Tăng vào làng đi bát, không trông thấy vị Đại đức nhiều người bèn hỏi chư Tăng: “Bạch chư Đại đức! Ngài Cả của chúng tôi đâu? Không thấy đi đây?”.

Khi được nghe câu chuyện rõ ràng, họ gởi cháo nhờ chư Tăng đem về trước dâng lên Đại đức điểm tâm. Phần họ đích thân dự bị cơm nước đem theo để bát. Đến Tịnh xá họ đảnh lễ Đại đức, rồi nằm lăn xuống đất bên chân Ngài mà khóc lóc thở than.

Một lát sau, trước khi từ tạ ra về, họ an ủi Đại đức rằng: “Chúng tôi hứa chắc chắn sẽ chu cấp, phụng dưỡng Đại đức tới cùng, xin Đại đức cứ an tâm đừng lo nghĩ”.

Từ đó trở đi, mỗi ngày họ mỗi gởi cháo, cơm vật thực đến Tịnh xá đều đều không khi nào ngớt.

Đại đức Mahāpāla vẫn thường khuyên bảo nhắc nhở các bạn đồng đạo và chư Tỳ khưu cũng biết phục thiện, tinh tấn thực hành theo lời chỉ dạy của vị trưởng đoàn một cách rốt ráo, cho đến kỳ Tự Tứ sau đó, tất cả sáu mươi vị Thiền Sư cũng đều đắc quả A La Hán với Tuệ phân tích.

Sau lễ ra hạ, chư Tỳ khưu muốn về hội kiến với Đức Bổn Sư, nên bạch xin với Đại đức:

- Bạch Ngài! Chúng tôi muốn về yết kiến Đức Thế Tôn.

Khi nghe chư Tăng ngỏ ý như vậy, Đại đức Mahāpāla suy nghĩ: “Ta nay mù lòa yếu đuối, đường xa lại trắc trở gian nan, phải xuyên qua truông rậm rừng hoang đầy rẫy phi nhơn ác quỉ. Nếu Ta đi chung với chư Tăng thì cả đoàn đều khó mỏi, còn e một nỗi không thể đi bát kiếm được món ăn. Chi bằng Ta hãy để cho chư Tăng đi về trước là hơn”.

Đại đức ứng tiếng bảo chư Tỳ khưu:
- Nầy chư hiền hữu, các bạn hãy về trước đi.
- Còn phần Ngài thì sao? Bạch Ngài.

- Ta nay yếu đuối, mù lòa, đường sá lại gian nan nguy hiểm, phải vượt qua truông rậm rừng hoang có nhiều phi nhơn trấn thủ, nếu ta cùng đi với chư hiền hữu thì càng gây thêm trở ngại và làm chậm trễ cuộc hành trình, thôi chư hiền hữu cứ tự tiện về trước đi.

- Bạch Ngài! Xin Ngài đừng làm vậy, dầu sao chúng tôi cũng quyết sẽ về một lượt với Ngài mà thôi.

- Nầy chư hiền hữu! Không nên cố nài ép làm như thế thật Ta chẳng hài lòng. Khi nào gặp mặt chư hiền hữu, đứa em trai của Ta có hỏi về Ta thì xin quí vị hãy hoan hỷ báo tin cho chú nó biết là Ta đã bị mù đôi mắt, chắc chắn chú nó sẽ cho người đến đón Ta về. Chư hiền hữu cho Ta gởi lời đảnh lễ Đức Thập Lực (Đức Phật) với tám mươi vị Đại đức Trưởng lão Chưởng quản Giáo Hội Tăng Già.

Sau khi dặn dò, Đại đức thốt lời tiễn biệt, chư Tỳ khưu đồng thanh sám hối vì đã nài ép Ngài, rồi cùng nhau đi vào làng.

Chư thiện tín thỉnh chư Tăng an tọa, cúng dường cơm nước như thường lệ, rồi mới hỏi rằng:

- Bạch Đại đức Tăng! Hôm nay quí Ngài sửa soạn đi đâu? Có thể cho chúng tôi biết được chăng?

- Nầy chư thiện tín! Chư Tăng chúng tôi sắp về yết kiến Đức Bổn Sư.

Nhóm thiện tín lúc ấy nài nỉ cầm cọng nhiều phen, đến khi biết rõ chư Tăng nhất định ra đi, thì cầm lòng không đậu, khóc lóc bịn rịn, theo tiễn chân chư Tăng hai dặm đường mới chịu trở lại.

Chư Tăng đi bộ lần hồi về đến Jetavana vào ra mắt Đức Bổn Sư và Bát thập đại Trưởng lão để đảnh lễ và chuyển lời xin đảnh lễ của vị Đại đức Mahāpāla.

Hôm sau, lúc đi bát chư Tỳ khưu nhắm ngay con đường có ngôi nhà của vị em trai Đại đức mà đi tới.

Trưởng giả Cullapāla nhận ra các vị Tỳ khưu quen thuộc thì niềm nở chào mừng, trải chiếu mời thỉnh chư Tăng an tọa, xong mới hỏi rằng:

- Sư huynh của đệ tử hiện giờ ở đâu?

Khi ấy chư Tăng tường thuật mọi điều khúc chiết, khiến cho Trưởng giả Cullapāla nghe qua, nhào lăn bên chân các Sư mà khóc lóc thở than, giây lâu mới hỏi tiếp rằng: “Bạch quí Sư huynh! Bây giờ đệ tử phải làm sao đây?”.

- Đại đức mong ước ông gởi đến cho Ngài một người, để Ngài theo chân người ấy trở về.

- Bạch quí Sư huynh! Đây là thằng Tế Hộ, đứa cháu ruột kêu đệ tử bằng cậu. Quí Sư huynh hãy sai nó đi đi.

- Cho đi như thế không được đâu? Vì lộ trình nguy khổ lắm, phải cho nó xuất gia trước rồi hãy sai nó đi.

- Bạch quí Sư huynh! Xin quí Sư huynh hãy làm như vậy rồi sai nó đi.

Khi ấy, chư Tăng làm lễ Sa di cho Tế hộ, giữ ông lại trong nửa tháng để kềm tập những oai nghi thường thức, nhất là tập cách đắp y cho đàng hoàng, xong rồi chỉ vẽ đường đi nước bước và cầu chúc cho vị tu sĩ thiếu niên thượng lộ bình an.

Sa di Tế Hộ ra đi một mình, lần hồi đến nơi thị trấn nhỏ ở sát biên giới. Tại cổng làng, Tế Hộ gặp một vị bô lão, bèn đón lại hỏi thăm:

- Kính thưa lão trượng! Gần thôn trang nầy có ngôi Thiền lâm Tịnh xá nào chăng?

- Bạch Sư có.

- Vị Đại sư nào trụ trì nơi đó, thưa lão trượng?

- Có một vị Đại đức tên là Mahāpāla hiện trụ nơi đó, bạch Sư.

- Xin lão trượng hoan hỷ chỉ đường cho tôi đến đó.

- Bạch Sư, Sư là ai?

- Thưa lão trượng! Tôi là cháu ruột kêu vị Đại đức đó bằng cậu.

Khi ấy vị bô lão dẫn đường đưa vị Sư trẻ đến nơi Tịnh xá.

Sau khi đảnh lễ vấn an Đại đức Mahāpāla, Sa di Tế Hộ ở luôn nơi Tịnh xá nửa tháng, chăm lo quán xuyến các việc lớn nhỏ, giúp đỡ tay chân cho vị Sư mù, hết lòng phụng dưỡng người cậu tật nguyền của mình một cách chu đáo, sau đó ông bạch với Đại đức: “Bạch Sư cửu. Cậu Cullapāla ở nhà, hiện đang mong chờ Sư cửu! Xin thỉnh Sư cửu đi về với con”.

- Thế thì con hãy cầm gậy dắt ta đi.

Vị Sư trẻ nắm lấy một đầu gậy, cùng vị Đại đức đi vào trung tâm thị trấn nhỏ, nhóm thiện tín đón rước, mời ngồi đoạn hỏi Đại đức: “Bạch Đại đức! Đại đức sửa soạn đi đâu, có thể cho chúng tôi biết được chăng?”.

- Được lắm. Nầy chư thiện tín, Ta hôm nay đi về đảnh lễ Đức Tôn Sư.

Chư thiện tín thỉnh cầu Đại đức ở lại, đến năm lần bảy lượt cũng không được. Họ bèn theo tiễn chân, đưa một đỗi đường, đến lúc cáo từ lui gót, họ còn ngậm ngùi lưu luyến, mắt lệ chứa chan.

Vị Sa di tay vẫn không rời gậy, dắt vị Đại đức tiếp tục cuộc hành trình. Đi đến một thôn trang ở ven rừng, tên là Katthanagara (Mộc Thanh), gần nơi đó Ngài có tịnh cư một lúc trước.

Vừa ra khỏi làng, bỗng nghe trong rừng vọng ra tiếng hát của một người đàn bà (itthī) đang mót củi vị Sư trẻ phát động tình xuân, luyến ái tiếng hát của người phụ nữ.

(Nói về năng lực làm cho toàn thân của người nam xao xuyến mê ly thì không có thứ âm thanh nào mãnh liệt cho bằng tiếng hát ru hồn của người phụ nữ). Cho nên Đức Thế Tôn đã có lần khuyến cáo:

“Nāhaṃ, bhikkhave, aññaṃ ekasaddampi samanupassāmi yaṃ evaṃ purisassa cittaṃ pariyādāya tiṭṭhati, yathayidaṃ, bhikkhave, itthisaddo’ti1”

“Nầy các Tỳ khưu! Như Lai biết chắc là không hề có một thứ thinh âm nào khác có năng lực chiếm đoạt trọn vẹn quả tim của một người nam, ngoài thứ thinh âm nầy: Đó là âm thinh (tiếng nói) của người nữ vậy”

Mê mẩn vì giọng hò tiếng hát ấy. Vị Sa di buông rơi đầu gậy vừa bạch với vị Đại đức rằng: “Xin Sư cứ đứng đấy chờ, con đi có chút việc…”. Nói đoạn ông ta đi ngay đến chỗ người nữ, cô này ngưng ngang tiếng hát khi thấy ông Sa di và ông ta phá giới, làm hư phạm hạnh (Sīlavipatti) với người phụ nữ ấy.

Vị Đại đức đứng một mình suy nghĩ: “Ta vừa mới nghe tiếng hát véo von rõ ràng là tiếng phụ nữ, sao bây giờ im bặt lặng thinh. Chắc ông Sa di nầy đã làm hư hỏng phạm hạnh”.

Sau khi rồi việc tư riêng, Tế Hộ trở lại bạch với Đại đức:

- Bây giờ mình lên đường đi Sư cửu.

Khi ấy Đại đức mới hỏi: “Nầy ông Sa di, ông đã làm chuyện tội lỗi rồi phải không?”.

Vị Sa di nín thinh, dầu bị cật vấn nhiều lần vẫn không đáp lời chi cả. Vị Đại đức bèn nói:

- Kẻ phạm tội như ông, không bao giờ Ta cho nắm giữ gậy của Ta.

Vị Sa di trẻ kinh hoàng hối hận, liền cởi xả bộ y vàng, mặc lại bộ đồ của hàng cư sĩ. Rồi ông nói:

- Bạch Sư cửu! Khi trước con là một Sa di, nhưng bây giờ con đã xả giới hoàn tục (gihījāto), con chỉ miễn cưỡng xuất gia vì đã e ngại đường xá hiểm trở, chớ thật lòng con không có ý muốn đi tu luôn. Thôi bây giờ cậu cháu mình hãy đi ra khỏi chốn này.

- Ông bạn (āvuso) cứ đi, Đại đức nói: Hễ kẻ nào làm tội thì đã là kẻ phạm tội, dù là cư sĩ hay bậc xuất gia cũng vậy. Khi còn là Sa di ông đã không giữ tròn phạm hạnh, bây giờ hoàn tục ông sẽ làm được việc thiện gì sao? Một kẻ tội phạm như ông, không bao giờ Ta cho nắm giữ gậy của Ta.

- Bạch Sư cửu! Đoạn đường nầy có nhiều phi nhơn khuấy nhiễu mà Sư cửu lại mù lòa, làm sao ở lại nơi đây một mình cho được.

Khi ấy Đại đức đáp:

- Nầy ông bạn, ông chớ lo chi điều ấy. Ta sẽ nằm đây chờ chết, hoặc đi lang thang một mình đây đó cũng mặc kệ ta, còn đi chung với ông nữa, chuyện ấy chắc chắn không thể đâu đừng hòng…

Ngẫu hứng Đại đức tiếp ngâm luôn mấy câu kệ rằng:

“Handāhaṃ hatacakkhusmi,
Kantāraddhānamāgato;
Seyyamāno na gacchāmi,
Natthi bāle sahāyatā”
Handāhaṃ hatacakkhusmi,
Kantāraddhānamāgato;
Marissāmi no gamissāmi,
Natthi bāle sahāyatā”
“Than ôi mắt đã bị mù!
Đường còn xa vắng âm u lạnh lùng.
Thà nằm giữa chốn mông lung,
Quyết không kết bạn, đi cùng đứa ngu”
Than ôi mắt đã bị mù!
Đường còn xa vắng, âm u lạnh lùng.
Đành liều thân, chịu mạng chung,
Quyết không kết bạn, đi cùng đứa ngu”

Nghe qua bài kệ, Tế Hộ càng thêm kinh hoàng, hối hận kêu lớn mấy tiếng: “Hỡi ơi! Việc quấy rầy của ta làm, quả thật nặng nề ác liệt”. Rồi tự ôm chầm lấy hai vai, chàng khóc than rên rỉ và đi tuốt vô rừng biệt dạng.

Khi ấy, trên cung trời Đao lợi, Đức Thiên Vương Đế Thích (Sakka) đang ngự trên chiếc ngai bằng thạch anh vàng, có màu tươi như hoa hồng nhung (jayasumana), có thể tự động hạ xuống hay vươn lên tùy lúc đức vua Trời ngồi hay đứng. Chiếc ngai ấy bị ảnh hưởng oai lực giới đức cao độ của Đại đức nên bỗng nhiên phát nhiệt. Đức Đế Thích nói thầm: “Kẻ nào muốn truất ngôi của ta đây kìa”. Đoạn Ngài dùng Thiên nhãn (Dibbacakkhu) quan sát thấy vị Đại đức.

Người xưa (Porāṇā) có bài thơ vịnh rằng:
“Sahassanetto devindo,
Dibbacakkhuṃ visodhayi;
Pāpagarahī ayaṃ Pālo,
Ājīvaṃ parisodhayi”
Sahassanetto devindo,
Dibbacakkhuṃ visodhayi;
Dhammagaruko ayaṃ Pālo,
Nisinno sāsane ratoti”
“Vua Trời ngàn con mắt,
Giữ “mắt thần” trong sạch.
Thánh Hộ lánh tội tình,
Sống đời tu khiết bạch”
Chúa Trời ngàn con mắt,
Gìn Thiên nhãn trong sạch.
Sư Hộ trong giáo điều,
Vui đạo ngồi tự đắc”.

Khi ấy, Đức Đế Thích nghĩ thầm: “Nếu ta bỏ qua không tiếp độ một người có tâm trong sạch, biết ghê sợ tội lỗi, tôn trọng giới luật như vị Sư nầy, chắc có lẽ đầu ta nứt bể thành bảy mảnh. Ta phải xuống đó giúp người mới được”. Thế rồi:

“Sahassanetto devindo,
Devarajjasirindharo;
Taṅkhaṇena āgantvāna,
Cakkhupālaṃ upāgami”
“Ngọc Đế ngàn con mắt,
Cao sang nhất cõi trời.
Phút chốc đến tận nơi,
Sư Hộ mù đôi mắt”

Khi đáp xuống cách chỗ Đại đức Mahāpāla không xa, Đức Đế Thích nhấn mạnh bước chân cho nghe tiếng xào xạc. Đại đức bèn hỏi: “Ai đó?”.

- Bạch Ngài! Tôi đây, tôi là một khách lữ hành.

- Ông thiện nam! Ông đi đâu vậy?

- Bạch Ngài! Tôi về thành Sāvatthi.

- À thôi! Ông bạn đi đi.

- Bạch Ngài! Còn Ngài đi đâu?

- Ta cũng sẽ về nơi đó.

- Nếu vậy thì tiện quá. Bạch Ngài, ta hãy cùng đi một lượt cho vui.

- Ta yếu đuối, đi chung với Ta sẽ trở ngại, phiền phức cho hiền hữu lắm.

- Bạch Ngài! Không sao, tôi đi đây không có chuyện gì cần kíp. Vả lại, cùng đi với Ngài tôi có thể thực thi phần nào trong mười việc thiện để bòn chút phước báu, thôi ta hãy cùng nhau lên đường.

Đại đức Mahāpāla tự nghĩ: “Ông nầy chắc là là một nhà hảo tâm quân tử chẳng sai”. Rồi Ngài nói:

- Vậy thì, ông thiện nam, hãy cầm lấy một đầu gậy của Ta.

Đức Đế Thích vâng lời vị Đại đức, rồi dùng phép thu đất, rút ngắn con đường, cho nên sáng hôm sau hai khách lữ hành đã đến Đại Tự Jetavana. Khi nghe tiếng cồng, tiếng sáo rộn rã, Đại đức hỏi Đế Thích:

- Đây là đâu mà nghe tiếng tiêu thiều nhạc trổi vậy?

- Bạch Ngài! Đây đã tới thành Sāvatthi.

- Ủa! Sao lúc trước Ta đi với chư Tỳ khưu lâu lắm mới tới đây mà.

- Dạ! Tại vì tôi biết một lối đi tắt đó, bạch Ngài.

Ngay lúc ấy, hốt nhiên Đại đức tự hiểu biết rằng: “Ông nầy không phải là người ta, chắc có lẽ là một vị Chư Thiên”.

Quả thật:
“Sahassanetto devindo,
Devarajjasirindharo;
Saṅkhipitvāna taṃ maggaṃ,
Khippaṃ Sāvatthimāgami”
“Ngọc Đế ngàn con mắt,
Cao sang nhất cõi Trời.
Thâu đường ngàn dặm khơi,
Đến Vệ Thành tức khắc”

Đức vua Trời dẫn vị Đại đức đến cái cốc lá của Trưởng giả Cullapāla đã cất riêng cho anh mình về ở tịnh. Dìu Đại đức ngồi xuống một cái đôn, rồi biến hình hóa ra một người bạn thân thiết của Trưởng giả Cullapāla, đến trước và ông kêu lớn:

- Bạn Cullapāla ơi!

- Chuyện chi đó bạn?

- Bạn có biết tin Đại đức đã về đây chưa?

- Chưa biết, nhưng có phải thật Đại đức đã về đây không?

- Thật mà! Chính tôi vừa đến Tịnh xá, thấy Đại đức ngồi ngoài cái cốc lá mà bạn cất cho Ngài, kế về qua đây.

Nói rồi, Đức Đế Thích đi luôn.

Trưởng giả Cullapāla đi đến Tịnh xá, gặp mặt Đại đức Mahāpāla thì nửa mừng nửa tủi, nằm lăn xuống đất bên chân Đại đức mà khóc nức nở và nói:

- Trước kia em đã hết sức cầm cản mà Ngài không nghe, để bây giờ chịu khổ như vậy.

Sau những lời hàn huyên an ủi của người anh bất hạnh của mình, Trưởng giả về nhà chọn lựa hai đứa tiểu đồng, đưa đến cho xuất gia Sa di làm đệ tử của Đại đức, rồi giao phó cho chúng phận sự trông nom, phục dịch thầy Tế Độ và dặn thêm rằng:

- Hai Sư mỗi ngày đi bát, thọ lãnh cháo cơm vật thực đem về dâng lên Đại đức nghe!

Hai vị Sa di nhỏ vâng lời, chăm lo tất cả mọi việc trong tịnh thất và hộ độ Đại đức rất chu đáo.

Một ngày kia, có nhóm Tỳ khưu ở phương xa về Jetavana để yết kiến Đức Bổn Sư về đến nơi đảnh lễ Đức Thầy và ra mắt tám mươi vị Đại Trưởng lão xong, chư Tăng cùng nhau đi tản bộ trong vòng Tịnh xá, gần đến tịnh thất của Đại đức Mahāpāla, chư Tăng rủ nhau: “Chiều nay ta cũng nên đến thăm Đại đức một chút”.

Nhưng chiều tối, lúc chư Tăng sắp sửa đi thăm Đại đức thì trời vần vũ, mưa to gió lơn nổi lên khiến chư Tăng phải quay trở lại và hẹn nhau: “Bây giờ trời đã tối, mà mưa bão tới nơi rồi, thôi để mai sáng ta hãy đi thăm Đại đức”.

Mưa tuôn xối xả từ canh đầu đến canh giữa mới tạnh.

Đại đức Mahāpāla bản tánh chuyên cần tinh tấn, năng đi kinh hành nên đến canh cuối đã xuống chỗ kinh hành, không ngờ lúc ấy từ dưới lòng đất ướt lạnh vì trận mưa đầu hôm, mấy con mối cánh chúng lên cả đàn cả lũ vị Đại đức đi đi lại lại đạp chết rất nhiều. Hai ông Sa di chưa kịp quét dọn chỗ Đại đức kinh hành ấy. Khi các khách Tăng đến viếng chỗ ngụ, thấy xác mối mới chết còn nằm la liệt trên đường kinh hành, bèn hỏi:

- Ai vừa mới đi trên đường nầy vậy?

- Bạch chư Đại đức, đó là Đại đức thầy của chúng tôi.

– Hai vị Sa di đáp.

Chư Tăng bất mãn, buông lời phiền trách rằng: “Chư hiền hữu hãy coi! Hành vi của ông Sa môn nầy, khi còn sáng mắt ông ta cứ nằm mãi không làm chi hết, để bây giờ với đôi mắt mù, ông ta lại tính “Ta đi kinh hành”, rồi sát hại bấy nhiêu chúng sanh đó. Miệng ông ta nói: “Ta sẽ hành động đúng đắn, lợi ích”, nhưng việc làm của ông ta thì không đúng đắn, lợi ích chút nào!”.

Thế rồi, chư Tăng đem chuyện nầy bạch Đức Như Lai:

- Bạch Ngài! Đại đức Mahāpāla tính thầm: “Ta sẽ đi kinh hành”, rồi giết rất nhiều chúng sanh.

- Chính mắt các ông có thấy ông ta giết chết những chúng sanh ấy hay không?

- Bạch Ngài! Chúng con không thấy.

- Các ông không thấy ông ta như thế nào, thì ông ta cũng không trông thấy những chúng sanh kia như thế ấy. Nầy các Tỳ khưu, các bậc đã dứt trừ lậu hoặc không còn tác ý sát sanh.

- Bạch Ngài! Đại đức Mahāpāla có đầy đủ căn lành để đắc quả A La Hán như thế, tại sao còn phải chịu mù?

- Nầy các Tỳ khưu! Đó là tiền nghiệp bất thiện của ông ta vậy!

- Bạch Ngài! Chẳng hay Đại đức đã tạo nghiệp gì?

- Nầy các Tỳ khưu! Các ông hãy lắng nghe đây:

Thời quá khứ, dưới triều của quốc vương Bārāṇasī (Ba La Nại) đang trị vì tại thành Bārāṇasī, có một ông y sĩ du phương, trải đi khắp nơi trong xứ, từ thành thị đến thôn quê, để hành nghề nuôi mạng, khi gặp một phụ nữ đau mắt, ông ta hỏi:

- Bà chị có bệnh phải không?

- Dạ! Mắt tôi đau không thấy đường.

- Đâu đưa tôi xem thử.

- Dạ đây! Thầy coi liệu chữa trị được không?

- Nếu tôi trị hết bệnh, bà chị trả công thuốc cho tôi bao nhiêu?

- Dạ! Nếu thầy làm sao cho mắt tôi sáng lại như thường, tôi tình nguyện đưa cả con gái đến làm tôi mọi cho thầy suốt đời.

- Được lắm.

Nói rồi, y sĩ lo chế thuốc nhỏ mắt trao cho phụ nữ ấy, chỉ nhỏ có một lần thuốc, mắt bà ta đã thấy rõ lại như thường, nhưng bà ta suy tính ngấm ngầm: “Mình trót hứa đem cả con gái đến làm tôi đòi cho ông thầy thuốc, nhưng e rồi đây thế nào ông ta cũng nặng nhẹ khó dễ, hành hạ mẹ con mình, chi bằng kiếm lời tráo trở dối gạt ông ta là hơn”.

Vì thế, lúc y sĩ đến nhà hỏi thăm bệnh tình: “Mắt bà chị hôm nay ra sao?”. Phụ nữ ấy đáp: “Lúc trước chỉ hơi đau sơ sơ chút ít thôi, còn bây giờ thì nhức nhối quá chừng quá đỗi”.

Vị y sĩ nghĩ thầm: “Mụ nầy muốn gạt ta để quỵt số tiền công thuốc của ta đây. Ta chẳng cần đòi số tiền thù lao của mụ, nhưng ta sẽ làm cho hai mắt của mụ mù luôn cho hết nói dối”.

Ông y sĩ về nhà, có thuật câu chuyện trên đây cho vợ nghe, nhưng vợ ông ta làm thinh không phát biểu ý kiến gì cả. Ông bèn chế ra một thứ thuốc có sức công phạt rất mạnh, đi ngay đến nhà phụ nữ nói dối, giục thúc rằng: “Bà chị hãy nhỏ thứ thuốc nầy liền bây giờ đi”.

Nhỏ thuốc vừa xong, hai con mắt của phụ nữ tắt lịm ánh sáng, y như ngọn đèn hết dầu.

Ông thầy thuốc có dã tâm ấy là Tỳ khưu Cakkhupāla hiện nay vậy. Nầy các Tỳ khưu! Nghiệp ác chưa trả quả vẫn đeo đuổi con của Như Lai mãi cho đến hết kiếp nầy. Vì nghiệp ác luôn luôn theo đuổi theo kẻ làm ác, y như bánh xe theo sát gót chân con bò kéo xe vậy.

Sau khi chấm dứt câu chuyện tiền khiên, chỉ rõ mối tương quan chặt chẽ giữa nhân và quả, Đức Chánh Pháp Vương xướng lên bài kệ như sau đây, chẳng khác gì một vị Hoàng Đế đóng ấn Ngọc tỷ lên trên chỗ đất xi (patiṭṭhapitamattika) để niêm phong một bức cẩm nang từ Thánh chỉ:

“Manopubbaṅgamā dhammā,
Manoseṭṭhā manomayā;
Manasā ce paduṭṭhena,
Bhāsati vā karoti vā;
Tato naṃ dukkham anveti,
Cakkaṃ’va vahato padaṃ”
“Tâm đi trước thọ, tưởng, hành,
Tâm là chủ pháp, tâm thành nghiệp duyên.
Ai mà tâm dục (chẳng hiền),
Nói làm chi cũng lụy phiền theo sau.
Chân con vật kéo nơi nào,
Bánh xe lăn cũng theo sau đành rành”

CHÚ GIẢI:

Tâm(1) đi trước(2) các pháp(3),
Tâm chủ(4) duy tâm tác(5);
Nếu bằng tâm nhơ đục(6),
Nói năng hoặc hành vi(7),
Khổ sẽ theo người(8) như,
Bánh xe chân bò giật(9).
(1) Tâm hay ý (mano) trong kệ ngôn nầy chính là

tâm (citta) trong Thắng Pháp tập yếu (Abhidhammatthasaṅgaha), theo đó phân loại thì có Tứ địa tâm (Catubbhūmikacitta), là tâm trong bốn giới, nhất là Dục giới bất thiện tâm (Kāmāvacara-akusalacitta) nếu y cứ theo tâm của vị y sĩ, phát sanh lên trong lúc tạo nghiệp ác mà định nghĩa cho phân minh chính xác, thì chữ tâm trong câu Pháp Cú nầy là tâm Câu hữu ưu tương ưng hận (domanassasahagataṃ paṭighasampayuttacittaṃ).

(2) Đi trước (pubbaṅgamā), nghĩa là dẫn đầu và đi chung một thể.

(3) Các pháp (Dhammā), căn cứ trên đặc tánh không phải là chúng sanh (Nissatta) không có mạng sống (Nijjīva). Theo nghĩa tổng quát trong Kinh Tạng thì có bốn pháp tất cả là: Pháp (Dhamma – thiện tâm), phi pháp (Adhamma – bất thiện tâm) và hai Dị thục quả tâm (Vipākacitta). Có Phật ngôn giải về đặc tính các pháp như sau:

“Na hi dhammo adhammo ca,
Ubho samavipākino;
Adhammo nirayaṃ neti,
Dhammo pāpeti sugatin’ ti”
“Pháp cùng phi pháp chẳng đồng,
Thì Tâm dị thục cũng không ngang hàng.
Pháp đưa lên cõi thiên đàng,
Phi pháp dắt xuống suối vàng âm ti”

Ngoài ra chữ Pháp có nhiều nghĩa khác nữa, chẳng hạn như: Trong kinh có chỗ Đức Phật nói: “Nầy chư Tỳ khưu, Như Lai sắp thuyết cho các ông nghe thời pháp tuyệt diệu cả đoạn đầu…”. Thì chữ Pháp chỗ đó có nghĩa là bài thuyết pháp.

Ở một chỗ khác Đức Phật nói: “Nầy các Tỳ khưu, nơi đây có một số con nhà gia giáo (Kulaputta) đã học thuộc lòng pháp…”. Thì chữ Pháp ở đây có nghĩa là Phật ngôn, Kinh kệ, gọi chung là Pháp Bảo vậy.

Cũng có chỗ Đức Phật nói: “Có những Pháp, có những uẩn…”. Thì những pháp ấy gọi là phi chúng sanh pháp (Nissattadhammo). Những pháp vô sanh mạng (Nijjīvadhammo) cũng đồng một nghĩa lý như thế.

Giải rộng ra thêm nữa, thì những pháp có hai đặc tính trên đây gồm có ba Vô sắc uẩn là: Thọ uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn.

Tâm (tức là thức uẩn) dẫn đầu tất cả những Tâm sở kia, cho nên có tiếng nói là tâm đi trước các pháp.

Vì sao đồng đi chung với các sở hữu tâm (Cetasika), đồng một vật (Vatthu), đồng một cảnh (Ārammaṇa), đồng sanh lên trong một sát na (Ekakhaṇa) mà gọi là tâm đi trước.

Vì do tâm làm duyên sanh khởi các pháp vậy, cũng ví như có nhiều kẻ cướp đồng một lượt xông vào giết hại cướp bóc trong làng xã chẳng hạn, thì thử hỏi:

“Ai là kẻ cầm đầu bọn cướp lúc đó?”. Cố nhiên kẻ làm duyên khởi cho chúng nương theo mà tạo nghiệp cướp bóc ấy, kẻ ấy dù là bạn hay cái chi cũng có thể gọi là kẻ cầu đầu. Ta nên trả lời câu hỏi trên đây một cách đầy đủ như vậy.

Do lẽ làm duyên khởi cho các Pháp sanh lên mà gọi là tâm đi trước các Pháp. Quả thật không bao giờ có các pháp sanh lên khi tâm chưa sanh, nhưng trái lại tâm vẫn sanh lên được mặt dù có một vài nhóm sở hữu tâm chưa sanh.

(4) Tâm chủ (Manoseṭṭhā): Do vì tâm làm chúa các pháp Vô sắc nên nói là tâm chủ. Theo ví dụ trên, tên đầu đảng của bọn cướp là chúa tướng, là chủ của bọn chúng như thế nào, thì nơi đây tâm ác là chỉ các pháp (ác) cũng như thế.

(5) Duy tâm tác (Manomayā): Khi ta dùng gỗ chẳng hạn, để sản xuất các thứ đồ mộc khác nhau, nhưng tựu trung cũng chỉ là của gỗ là bản chất, ta quen nói các món đồ gỗ ấy làm bằng gỗ (dārumayā) cũng đồng một cách như thế, các pháp Vô sắc đều do tâm mà sanh ra, có tâm là bản thể, ta cũng gọi là pháp làm bằng tâm hay duy tâm tác.

(6) Nếu bằng tâm nhơ đục (Manasā ce paduṭṭhena) là tâm vừa mới bị những sở hữu tâm khách như tham, sân chẳng hạn xâm nhập, làm cho nhiều chỗ nhiễm ô, nhơ đục.

Quả nhiên, tâm bình thường (Pakatimano) tức là Hữu phần tâm (Bhavaṅgacitta), tự tánh vốn trong sạch chưa bị nhiễm ô (tánh bổn thiện), nhưng một khi đã sân hận (Dosa), nhứt là tham lam (Abhijjhā) gia nhập làm cho trở nên nhơ đục, không còn là tâm bình tịnh, nhứt là Hữu phần như trước, chẳng khác nào là một dòng nước trong bị những màu bất khiết, nhứt là màu chàm mới vừa lẫn vào làm cho biến sắc, thành ra nước sanh chàm (Nīlodaka) không còn là nước thuần chất, cũng không còn trong sạch như thuở ban đầu vậy.

Đức Thế Tôn có dạy rằng: “Pabhassaramidaṃ, bhikkhave, cittaṃ, tañca kho āgantukehi upakkilesehi upakkilitthanti”

“Nầy các Tỳ khưu! Tâm này bản chất tịnh quang sáng suốt, nhưng bị các pháp mới ô nhiễm xâm nhập, làm cho trở nên nhơ đục”. Từ ngữ “bằng tâm nhơ đục” có ý nghĩa như thế.

(7) Nói năng hoặc hành vi (Bhāsati vā karoti vā) kẻ có sẵn tâm ác, hễ mở miệng nói ra lời là phạm nhằm bốn tội về khẩu ác hạnh (Vacīduccarita), bằng như ra tay hành động thì phạm nhằm ba tội về thân ác hạnh (Kāyaduccarita) nhược bằng làm thinh không nói, không làm đi nữa cũng phạm ba tội về ý ác hạnh (Manoduccarita), tất cả các tội ác chung qui cũng đều do nơi tâm đã bị tham lam, oán thù, tà kiến làm cho nhơ đục mà ra. Lộ trình của mười nghiệp bất thiện (Dasa akusalakammapathā) trải đi tròn đủ qua ba cửa thân, khẩu, ý là như thế.

(8) Khổ sẽ theo người: (Tato naṃ, dukkhamanveti), kẻ thủ phạm tạo ba ác hạnh từ lúc nào thì sự khổ bắt đầu theo dõi kẻ ấy từ lúc đó, do năng lực của ác hạnh, kẻ ấy sẽ sa xuống bốn ác đạo (Apāya), hoặc trở lại làm người thế gian, nhưng trong đời kiếp nào, thân căn và cả các căn khác tức là những sở hữu tâm liên hệ với thân căn đã giải rành mạch trên đây của kẻ ấy cũng bị quả khổ theo sát một bên.

(9) Như bánh xe theo chân bò giật (Cakkaṃ vā vahato padaṃ). Thường thường bò tơ mới tập giật (kéo xe), thì hay tháo trút, tánh còn hung hăng, khi bị mắc cổ vào ách thì chạy vụt đi, lôi cả chiếc xe chở đồ nặng, ý muốn tự do như trước, nhưng nào có được, con bò ấy dầu cho kéo một ngày, hai ngày, năm ngày, mười ngày hay nửa tháng cũng không thể nào tách rời ra chiếc bánh xe đang lăn phía sau, mỗi khi con bò muốn vươn mình tới trước thì bị cái ách đè nặng trên cổ, không cho vượt qua, còn muốn thụt về phía sau thì bị bánh xe đụng cọ vào thịt đùi không cho lùi lại, thành thử ra do hai lẽ ấy mà con bò đành chịu để cho hai bánh xe cứ mãi theo sát hai bên chân của nó vậy.

Con người có tâm nhơ đục, đã làm tất cả ba ác hạnh rồi, nhứt định phải sa vào ác đạo như địa ngục chẳng hạn, là nơi mà vì gốc ác hạnh, cả thân tâm của người ấy đều bị tội khổ đuổi theo.

Kệ ngôn vừa dứt, nhiều vị Tỳ khưu đắc quả A La Hán với Tuệ phân tích, kỳ dư thính chúng câu hội nơi ấy đều được chứng quả, nhờ nghe thời pháp của Đức Bổn Sư.

Vì tâm niệm ác lúc chưa tu,
Thánh Hộ đời nay phải chịu mù.
Chế thuốc cho người công chẳng thí.
Dùng mưu hại chúng tội đành bù.
Nhân gieo ý chí vui vài phút.
Quả hái thân còn cực mấy thu.
Sớm biết hồi đầu lo giải thoát,
Răn lòng, chẳng trễ buổi công phu.

DỨT TÍCH TRƯỞNG LÃO CAKKHUPĀLA

  1. Aṅguttara I - Tăng Chi Bộ Kinh 1.

Cakkhupālattheravatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

“Manopubbaṅgamā dhammā, manoseṭṭhā manomayā;
Manasā ce paduṭṭhena, bhāsati vā karoti vā;
Tato naṃ dukkhamanveti, cakkaṃva vahato pada”nti. –

Ayaṃ dhammadesanā kattha bhāsitāti? Sāvatthiyaṃ. Kaṃ ārabbhāti? Cakkhupālattheraṃ.

Sāvatthiyaṃ kira mahāsuvaṇṇo nāma kuṭumbiko ahosi aḍḍho mahaddhano mahābhogo aputtako. So ekadivasaṃ nhānatitthaṃ nhatvā natvā āgacchanto antarāmagge sampannapattasākhaṃ ekaṃ vanappatiṃ disvā “ayaṃ mahesakkhāya devatāya pariggahito bhavissatī”ti tassa heṭṭhābhāgaṃ sodhāpetvā pākāraparikkhepaṃ kārāpetvā vālukaṃ okirāpetvā dhajapaṭākaṃ ussāpetvā vanappatiṃ alaṅkaritvā añjaliṃ karitvā “sace puttaṃ vā dhītaraṃ vā labheyyaṃ, tumhākaṃ mahāsakkāraṃ karissāmī”ti patthanaṃ katvā pakkāmi.

Athassa na cirasseva bhariyāya kucchiyaṃ gabbho patiṭṭhāsi. Sā gabbhassa patiṭṭhitabhāvaṃ ñatvā tassa ārocesi. So tassā gabbhassa parihāramadāsi. Sā dasamāsaccayena puttaṃ vijāyi. Taṃ nāmaggahaṇadivase seṭṭhi attanā pālitaṃ vanappatiṃ nissāya laddhattā tassa pāloti nāmaṃ akāsi. Sā aparabhāge aññampi puttaṃ labhi. Tassa cūḷapāloti nāmaṃ katvā itarassa mahāpāloti nāmaṃ akāsi. Te vayappatte gharabandhanena bandhiṃsu. Aparabhāge mātāpitaro kālamakaṃsu. Sabbampi vibhavaṃ itareyeva vicāriṃsu.

Tasmiṃ samaye satthā pavattitavaradhammacakko anupubbenāgantvā anāthapiṇḍikena mahāseṭṭhinā catupaṇṇāsakoṭidhanaṃ vissajjetvā kārite jetavanamahāvihāre viharati mahājanaṃ saggamagge ca mokkhamagge ca patiṭṭhāpayamāno. Tathāgato hi mātipakkhato asītiyā, pitipakkhato asītiyāti dveasītiñātikulasahassehi kārite nigrodhamahāvihāre ekameva vassāvāsaṃ vasi, anāthapiṇḍikena kārite jetavanamahāvihāre ekūnavīsativassāni, visākhāya sattavīsatikoṭidhanapariccāgena kārite pubbārāme chabbassānīti dvinnaṃ kulānaṃ guṇamahattataṃ paṭicca sāvatthiṃ nissāya pañcavīsativassāni vassāvāsaṃ vasi. Anāthapiṇḍikopi visākhāpi mahāupāsikā nibaddhaṃ divasassa dve vāre tathāgatassa upaṭṭhānaṃ gacchanti, gacchantā ca “daharasāmaṇerā no hatthe olokessantī”ti tucchahatthā na gatapubbā. Purebhattaṃ gacchantā khādanīyabhojanīyādīni gahetvāva gacchanti, pacchābhattaṃ gacchantā pañca bhesajjāni aṭṭha ca pānāni. Nivesanesu pana tesaṃ dvinnaṃ dvinnaṃ bhikkhusahassānaṃ niccaṃ paññattāsanāneva honti. Annapānabhesajjesu yo yaṃ icchati, tassa taṃ yathicchitameva sampajjati. Tesu anāthapiṇḍikena ekadivasampi satthā pañhaṃ na pucchitapubbo. So kira “tathāgato buddhasukhumālo khattiyasukhumālo, ‘bahūpakāro me, gahapatī’ti mayhaṃ dhammaṃ desento kilameyyā”ti satthari adhimattasinehena pañhaṃ na pucchati. Satthā pana tasmiṃ nisinnamatteyeva “ayaṃ seṭṭhi maṃ arakkhitabbaṭṭhāne rakkhati. Ahañhi kappasatasahassādhikāni cattāri asaṅkhyeyyāni alaṅkatapaṭiyattaṃ attano sīsaṃ chinditvā akkhīni uppāṭetvā hadayamaṃsaṃ uppāṭetvā pāṇasamaṃ puttadāraṃ pariccajitvā pāramiyo pūrento paresaṃ dhammadesanatthameva pūresiṃ. Esa maṃ arakkhitabbaṭṭhāne rakkhatī”ti ekaṃ dhammadesanaṃ kathetiyeva.

Tadā sāvatthiyaṃ satta manussakoṭiyo vasanti. Tesu satthu dhammakathaṃ sutvā pañcakoṭimattā manussā ariyasāvakā jātā, dvekoṭimattā manussā puthujjanā. Tesu ariyasāvakānaṃ dveyeva kiccāni ahesuṃ – purebhattaṃ dānaṃ denti, pacchābhattaṃ gandhamālādihatthā vatthabhesajjapānakādīni gāhāpetvā dhammassavanatthāya gacchanti. Athekadivasaṃ mahāpālo ariyasāvake gandhamālādihatthe vihāraṃ gacchante disvā “ayaṃ mahājano kuhiṃ gacchatī”ti pucchitvā “dhammassavanāyā”ti sutvā “ahampi gamissāmī”ti gantvā satthāraṃ vanditvā parisapariyante nisīdi.

Buddhā ca nāma dhammaṃ desentā saraṇasīlapabbajjādīnaṃ upanissayaṃ oloketvā ajjhāsayavasena dhammaṃ desenti, tasmā taṃ divasaṃ satthā tassa upanissayaṃ oloketvā dhammaṃ desento anupubbikathaṃ kathesi. Seyyathidaṃ – dānakathaṃ, sīlakathaṃ, saggakathaṃ, kāmānaṃ ādīnavaṃ, okāraṃ saṃkilesaṃ, nekkhamme ānisaṃsaṃ pakāsesi. Taṃ sutvā mahāpālo kuṭumbiko cintesi – “paralokaṃ gacchantaṃ puttadhītaro vā bhātaro vā bhogā vā nānugacchanti, sarīrampi attanā saddhiṃ na gacchati, kiṃ me gharāvāsena pabbajissāmī”ti. So desanāpariyosāne satthāraṃ upasaṅkamitvā pabbajjaṃ yāci. Atha naṃ satthā – “atthi te koci āpucchitabbayuttako ñātī”ti āha. “Kaniṭṭhabhātā me atthi, bhante”ti. “Tena hi taṃ āpucchāhī”ti. So “sādhū”ti sampaṭicchitvā satthāraṃ vanditvā gehaṃ gantvā kaniṭṭhaṃ pakkosāpetvā – “tāta, yaṃ mayhaṃ imasmiṃ gehe saviññāṇakampi aviññāṇakampi dhanaṃ kiñci atthi, sabbaṃ taṃ tava bhāro, paṭipajjāhi na”nti. “Tumhe pana kiṃ karissathā”ti āha. “Ahaṃ satthu santike pabbajissāmī”ti. “Kiṃ kathesi bhātika, tvaṃ me mātari matāya mātā viya, pitari mate pitā viya laddho, gehe te mahāvibhavo, sakkā gehaṃ ajjhāvasanteheva puññāni kātuṃ, mā evaṃ karitthā”ti. “Tāta, ahaṃ satthu dhammadesanaṃ sutvā gharāvāse vasituṃ na sakkomi. Satthārā hi atisaṇhasukhumaṃ tilakkhaṇaṃ āropetvā ādimajjhapariyosānakalyāṇo dhammo desito, na sakkā so agāramajjhe vasantena pūretuṃ, pabbajissāmi, tātā”ti. “Bhātika, taruṇāyeva tāvattha, mahallakakāle pabbajissathā”ti. “Tāta, mahallakassa hi attano hatthapādāpi anassavā honti, na attano vase vattanti, kimaṅgaṃ pana ñātakā, svāhaṃ tava kathaṃ na karomi, samaṇapaṭipattiṃyeva pūressāmi”.

“Jarājajjaritā honti, hatthapādā anassavā;
Yassa so vihatatthāmo, kathaṃ dhammaṃ carissati”. –

Pabbajissāmevāhaṃ, tātāti tassa viravantasseva satthu santikaṃ gantvā pabbajjaṃ yācitvā laddhapabbajjūpasampado ācariyupajjhāyānaṃ santike pañca vassāni vasitvā vuṭṭhavasso pavāretvā satthāramupasaṅkamitvā vanditvā pucchi – “bhante, imasmiṃ sāsane kati dhurānī”ti? “Ganthadhuraṃ, vipassanādhuranti dveyeva dhurāni bhikkhū”ti. “Katamaṃ pana, bhante, ganthadhuraṃ, katamaṃ vipassanādhura”nti? “Attano paññānurūpena ekaṃ vā dve vā nikāye sakalaṃ vā pana tepiṭakaṃ buddhavacanaṃ uggaṇhitvā tassa dhāraṇaṃ, kathanaṃ, vācananti idaṃ ganthadhuraṃ nāma, sallahukavuttino pana pantasenāsanābhiratassa attabhāve khayavayaṃ paṭṭhapetvā sātaccakiriyavasena vipassanaṃ vaḍḍhetvā arahattaggahaṇanti idaṃ vipassanādhuraṃ nāmā”ti. “Bhante, ahaṃ mahallakakāle pabbajito ganthadhuraṃ pūretuṃ na sakkhissāmi, vipassanādhuraṃ pana pūressāmi, kammaṭṭhānaṃ me kathethā”ti. Athassa satthā yāva arahattaṃ kammaṭṭhānaṃ kathesi.

So satthāraṃ vanditvā attanā sahagāmino bhikkhū pariyesanto saṭṭhi bhikkhū labhitvā tehi saddhiṃ nikkhamitvā vīsayojanasatamaggaṃ gantvā ekaṃ mahantaṃ paccantagāmaṃ patvā tattha saparivāro piṇḍāya pāvisi. Manussā vattasampanne bhikkhū disvāva pasannacittā āsanāni paññāpetvā nisīdāpetvā paṇītenāhārena parivisitvā, “bhante, kuhiṃ ayyā gacchantī”ti pucchitvā “yathāphāsukaṭṭhānaṃ upāsakā”ti vutte paṇḍitā manussā “vassāvāsaṃ senāsanaṃ pariyesanti bhadantā”ti ñatvā, “bhante, sace ayyā imaṃ temāsaṃ idha vaseyyuṃ, mayaṃ saraṇesu patiṭṭhāya sīlāni gaṇheyyāmā”ti āhaṃsu. Tepi “mayaṃ imāni kulāni nissāya bhavanissaraṇaṃ karissāmā”ti adhivāsesuṃ.

Manussā tesaṃ paṭiññaṃ gahetvā vihāraṃ paṭijaggitvā rattiṭṭhānadivāṭṭhānāni sampādetvā adaṃsu. Te nibaddhaṃ tameva gāmaṃ piṇḍāya pavisanti. Atha ne eko vejjo upasaṅkamitvā, “bhante, bahūnaṃ vasanaṭṭhāne aphāsukampi nāma hoti, tasmiṃ uppanne mayhaṃ katheyyātha, bhesajjaṃ karissāmī”ti pavāresi. Thero vassūpanāyikadivase te bhikkhū āmantetvā pucchi, “āvuso, imaṃ temāsaṃ katihi iriyāpathehi vītināmessathā”ti? “Catūhi, bhante”ti. “Kiṃ panetaṃ, āvuso, patirūpaṃ, nanu appamattehi bhavitabbaṃ”? “Mayañhi dharamānakassa buddhassa santikā kammaṭṭhānaṃ gahetvā āgatā, buddhā ca nāma na sakkā pamādena ārādhetuṃ, kalyāṇajjhāsayena te vo ārādhetabbā. Pamattassa ca nāma cattāro apāyā sakagehasadisā, appamattā hothāvuso”ti. “Kiṃ tumhe pana, bhante”ti? “Ahaṃ tīhi iriyāpathehi vītināmessāmi, piṭṭhiṃ na pasāressāmi, āvuso”ti. “Sādhu, bhante, appamattā hothā”ti.

Atha therassa niddaṃ anokkamantassa paṭhamamāse atikkante majjhimamāse sampatte akkhirogo uppajji. Chiddaghaṭato udakadhārā viya akkhīhi assudhārā paggharanti. So sabbarattiṃ samaṇadhammaṃ katvā aruṇuggamane gabbhaṃ pavisitvā nisīdi. Bhikkhū bhikkhācāravelāya therassa santikaṃ gantvā, “bhikkhācāravelā, bhante”ti āhaṃsu. “Tena hi, āvuso, gaṇhatha pattacīvara”nti. Attano pattacīvaraṃ gāhāpetvā nikkhami. Bhikkhū tassa akkhīhi assūni paggharante disvā, “kimetaṃ, bhante”ti pucchiṃsu. “Akkhīni me, āvuso, vātā vijjhantī”ti. “Nanu, bhante, vejjena pavāritamhā, tassa kathemā”ti. “Sādhāvuso”ti te vejjassa kathayiṃsu. So telaṃ pacitvā pesesi. Thero nāsāya telaṃ āsiñcanto nisinnakova āsiñcitvā antogāmaṃ pāvisi. Vejjo taṃ disvā āha – “bhante, ayyassa kira akkhīni vāto vijjhatī”ti? “Āma, upāsakā”ti. “Bhante, mayā telaṃ pacitvā pesitaṃ, nāsāya vo telaṃ āsitta”nti? “Āma, upāsakā”ti. “Idāni kīdisa”nti? “Rujjateva upāsakā”ti. Vejjo “mayā ekavāreneva vūpasamanasamatthaṃ telaṃ pahitaṃ, kiṃ nu kho rogo na vūpasanto”ti cintetvā, “bhante, nisīditvā vo telaṃ āsittaṃ, nipajjitvā”ti pucchi. Thero tuṇhī ahosi, punappunaṃ pucchiyamānopi na kathesi. So “vihāraṃ gantvā therassa vasanaṭṭhānaṃ olokessāmī”ti cintetvā – “tena hi, bhante, gacchathā”ti theraṃ vissajjetvā vihāraṃ gantvā therassa vasanaṭṭhānaṃ olokento caṅkamananisīdanaṭṭhānameva disvā sayanaṭṭhānaṃ adisvā, “bhante, nisinnehi vo āsittaṃ, nipannehī”ti pucchi. Thero tuṇhī ahosi. “Mā, bhante, evaṃ karittha, samaṇadhammo nāma sarīraṃ yāpentena sakkā kātuṃ, nipajjitvā āsiñcathā”ti punappunaṃ yāci. “Gaccha tvaṃ tāvāvuso, mantetvā jānissāmī”ti vejjaṃ uyyojesi. Therassa ca tattha neva ñātī, na sālohitā atthi, tena saddhiṃ manteyya? Karajakāyena pana saddhiṃ mantento “vadehi tāva, āvuso pālita, tvaṃ kiṃ akkhīni olokessasi, udāhu buddhasāsanaṃ? Anamataggasmiñhi saṃsāravaṭṭe tava akkhikāṇassa gaṇanā nāma natthi, anekāni pana buddhasatāni buddhasahassāni atītāni. Tesu te ekabuddhopi na pariciṇṇo, idāni imaṃ antovassaṃ tayo māse na nipajjissāmīti temāsaṃ nibaddhavīriyaṃ karissāmi. Tasmā te cakkhūni nassantu vā bhijjantu vā, buddhasāsanameva dhārehi, mā cakkhūnī”ti bhūtakāyaṃ ovadanto imā gāthāyo abhāsi –

“Cakkhūni hāyantu mamāyitāni,
Sotāni hāyantu tatheva kāyo;
Sabbampidaṃ hāyatu dehanissitaṃ,
Kiṃ kāraṇā pālita tvaṃ pamajjasi.

“Cakkhūni jīrantu mamāyitāni,
Sotāni jīrantu tatheva kāyo;
Sabbampidaṃ jīratu dehanissitaṃ,
Kiṃ kāraṇā pālita tvaṃ pamajjasi.

“Cakkhūni bhijjantu mamāyitāni,
Sotāni bhijjantu tatheva kāyo;
Sabbampidaṃ bhijjatu dehanissitaṃ,
Kiṃ kāraṇā pālita tvaṃ pamajjasī”ti.

Evaṃ tīhi gāthāhi attano ovādaṃ datvā nisinnakova natthukammaṃ katvā gāmaṃ piṇḍāya pāvisi. Vejjo taṃ disvā “kiṃ, bhante, natthukammaṃ kata”nti pucchi. “Āma, upāsakā”ti. “Kīdisaṃ, bhante”ti? “Rujjateva upāsakā”ti. “Nisīditvā vo, bhante, natthukammaṃ kataṃ, nipajjitvā”ti. Thero tuṇhī ahosi, punappunaṃ pucchiyamānopi na kiñci kathesi. Atha naṃ vejjo, “bhante, tumhe sappāyaṃ na karotha, ajjato paṭṭhāya ‘asukena me telaṃ pakka’nti mā vadittha, ahampi ‘mayā vo telaṃ pakka’nti na vakkhāmī”ti āha. So vejjena paccakkhāto vihāraṃ gantvā tvaṃ vejjenāpi paccakkhātosi, iriyāpathaṃ mā vissajji samaṇāti.

“Paṭikkhitto tikicchāya, vejjenāpi vivajjito;
Niyato maccurājassa, kiṃ pālita pamajjasī”ti. –

Imāya gāthāya attānaṃ ovaditvā samaṇadhammaṃ akāsi. Athassa majjhimayāme atikkante apubbaṃ acarimaṃ akkhīni ceva kilesā ca bhijjiṃsu. So sukkhavipassako arahā hutvā gabbhaṃ pavisitvā nisīdi.

Bhikkhū bhikkhācāravelāya āgantvā “bhikkhācārakālo, bhante”ti āhaṃsu. “Kālo, āvuso”ti? “Āma, bhante”ti. “Tena hi gacchathā”ti. “Kiṃ tumhe pana, bhante”ti? “Akkhīni me, āvuso, parihīnānī”ti. Te tassa akkhīni oloketvā assupuṇṇanettā hutvā, “bhante, mā cintayittha, mayaṃ vo paṭijaggissāmā”ti theraṃ samassāsetvā kattabbayuttakaṃ vattapaṭivattaṃ katvā gāmaṃ piṇḍāya pavisiṃsu. Manussā theraṃ adisvā, “bhante, amhākaṃ ayyo kuhi”nti pucchitvā taṃ pavattiṃ sutvā yāguṃ pesetvā sayaṃ piṇḍapātamādāya gantvā theraṃ vanditvā pādamūle parivattamānā roditvā, “bhante, mayaṃ vo paṭijaggissāma, tumhe mā cintayitthā”ti samassāsetvā pakkamiṃsu.

Tato paṭṭhāya nibaddhaṃ yāgubhattaṃ vihārameva pesenti. Theropi itare saṭṭhi bhikkhū nirantaraṃ ovadati. Te tassovāde ṭhatvā upakaṭṭhāya pavāraṇāya sabbeva saha paṭisambhidāhi arahattaṃ pāpuṇiṃsu. Te vuṭṭhavassā ca pana satthāraṃ daṭṭhukāmā hutvā theramāhaṃsu, “bhante, satthāraṃ daṭṭhukāmamhā”ti. Thero tesaṃ vacanaṃ sutvā cintesi – “ahaṃ dubbalo, antarāmagge ca amanussapariggahitā aṭavī atthi, mayi etehi saddhiṃ gacchante sabbe kilamissanti, bhikkhampi labhituṃ na sakkhissanti, ime puretarameva pesessāmī”ti. Atha ne āha – “āvuso, tumhe purato gacchathā”ti. “Tumhe pana bhante”ti? “Ahaṃ dubbalo, antarāmagge ca amanussapariggahitā aṭavī atthi, mayi tumhehi saddhiṃ gacchante sabbe kilamissatha, tumhe purato gacchathā”ti. “Mā, bhante, evaṃ karittha, mayaṃ tumhehi saddhiṃyeva gamissāmā”ti. “Mā vo, āvuso, evaṃ ruccittha, evaṃ sante mayhaṃ aphāsukaṃ bhavissati, mayhaṃ kaniṭṭho pana tumhe disvā pucchissati, athassa mama cakkhūnaṃ parihīnabhāvaṃ āroceyyātha, so mayhaṃ santikaṃ kañcideva pahiṇissati, tena saddhiṃ āgacchissāmi, tumhe mama vacanena dasabalañca asītimahāthere ca vandathā”ti te uyyojesi.

Te theraṃ khamāpetvā antogāmaṃ pavisiṃsu. Manussā te disvā nisīdāpetvā bhikkhaṃ datvā “kiṃ, bhante, ayyānaṃ gamanākāro paññāyatī”ti? “Āma, upāsakā, satthāraṃ daṭṭhukāmamhā”ti. Te punappunaṃ yācitvā tesaṃ gamanachandameva ñatvā anugantvā paridevitvā nivattiṃsu. Tepi anupubbena jetavanaṃ gantvā satthārañca asītimahāthere ca therassa vacanena vanditvā punadivase yattha therassa kaniṭṭho vasati, taṃ vīthiṃ piṇḍāya pavisiṃsu. Kuṭumbiko te sañjānitvā nisīdāpetvā katapaṭisanthāro “bhātikatthero me, bhante, kuhi”nti pucchi. Athassa te taṃ pavattiṃ ārocesuṃ. So taṃ sutvāva tesaṃ pādamūle parivattento roditvā pucchi – “idāni, bhante, kiṃ kātabba”nti? “Thero ito kassaci āgamanaṃ paccāsīsati, tassa gatakāle tena saddhiṃ āgamissatī”ti. “Ayaṃ me, bhante, bhāgineyyo pālito nāma, etaṃ pesethā”ti. “Evaṃ pesetuṃ na sakkā, magge paripantho atthi, taṃ pabbājetvā pesetuṃ vaṭṭatī”ti. “Evaṃ katvā pesetha, bhante”ti. Atha naṃ pabbājetvā aḍḍhamāsamattaṃ pattacīvaraggahaṇādīni sikkhāpetvā maggaṃ ācikkhitvā pahiṇiṃsu.

So anupubbena taṃ gāmaṃ patvā gāmadvāre ekaṃ mahallakaṃ disvā, “imaṃ gāmaṃ nissāya koci āraññako vihāro atthī”ti pucchi. “Atthi, bhante”ti. “Ko nāma tattha vasatī”ti? “Pālitatthero nāma, bhante”ti. “Maggaṃ me ācikkhathā”ti. “Kosi tvaṃ, bhante”ti? “Therassa bhāgineyyomhī”ti. Atha naṃ gahetvā vihāraṃ nesi. So theraṃ vanditvā aḍḍhamāsamattaṃ vattapaṭivattaṃ katvā theraṃ sammā paṭijaggitvā, “bhante, mātulakuṭumbiko me tumhākaṃ āgamanaṃ paccāsīsati, etha, gacchāmā”ti āha. “Tena hi imaṃ me yaṭṭhikoṭiṃ gaṇhāhī”ti. So yaṭṭhikoṭiṃ gahetvā therena saddhiṃ antogāmaṃ pāvisi. Manussā theraṃ nisīdāpetvā “kiṃ, bhante, gamanākāro vo paññāyatī”ti pucchiṃsu. “Āma, upāsakā, gantvā satthāraṃ vandissāmī”ti. Te nānappakārena yācitvā alabhantā theraṃ uyyojetvā upaḍḍhapathaṃ gantvā roditvā nivattiṃsu. Sāmaṇero theraṃ yaṭṭhikoṭiyā ādāya gacchanto antarāmagge aṭaviyaṃ kaṭṭhanagaraṃ nāma therena upanissāya vuṭṭhapubbaṃ gāmaṃ sampāpuṇi, so gāmato nikkhamitvā araññe gītaṃ gāyitvā dārūni uddharantiyā ekissā itthiyā gītasaddaṃ sutvā sare nimittaṃ gaṇhi. Itthisaddo viya hi añño saddo purisānaṃ sakalasarīraṃ pharitvā ṭhātuṃ samattho nāma natthi. Tenāha bhagavā –

“Nāhaṃ, bhikkhave, aññaṃ ekasaddampi samanupassāmi, yaṃ evaṃ purisassa cittaṃ pariyādāya tiṭṭhati, yathayidaṃ, bhikkhave, itthisaddo”ti (a. ni. 1.2).

Sāmaṇero tattha nimittaṃ gahetvā yaṭṭhikoṭiṃ vissajjetvā “tiṭṭhatha tāva, bhante, kiccaṃ me atthī”ti tassā santikaṃ gato. Sā taṃ disvā tuṇhī ahosi. So tāya saddhiṃ sīlavipattiṃ pāpuṇi. Thero cintesi – “idāneva eko gītasaddo suyyittha. So ca kho itthiyā saddo chijji, sāmaṇeropi cirāyati, so tāya saddhiṃ sīlavipattiṃ patto bhavissatī”ti. Sopi attano kiccaṃ niṭṭhāpetvā āgantvā “gacchāma, bhante”ti āha. Atha naṃ thero pucchi – “pāpojātosi sāmaṇerā”ti. So tuṇhī hutvā therena punappunaṃ puṭṭhopi na kiñci kathesi. Atha naṃ thero āha – “tādisena pāpena mama yaṭṭhikoṭiggahaṇakiccaṃ natthī”ti. So saṃvegappatto kāsāyāni apanetvā gihiniyāmena paridahitvā, “bhante, ahaṃ pubbe sāmaṇero, idāni panamhi gihī jāto, pabbajantopi ca svāhaṃ na saddhāya pabbajito, maggaparipanthabhayena pabbajito, etha gacchāmā”ti āha. “Āvuso, gihipāpopi samaṇapāpopi pāpoyeva, tvaṃ samaṇabhāve ṭhatvāpi sīlamattaṃ pūretuṃ nāsakkhi, gihī hutvā kiṃ nāma kalyāṇaṃ karissasi, tādisena pāpena mama yaṭṭhikoṭiggahaṇakiccaṃ natthī”ti āha. “Bhante, amanussupaddavo maggo, tumhe ca andhā apariṇāyakā, kathaṃ idha vasissathā”ti? Atha naṃ thero, “āvuso, tvaṃ mā evaṃ cintayi, idheva me nipajjitvā marantassāpi aparāparaṃ parivattantassāpi tayā saddhiṃ gamanaṃ nāma natthī”ti vatvā imā gāthā abhāsi –

“Handāhaṃ hatacakkhusmi, kantāraddhānamāgato;
Seyyamāno na gacchāmi, natthi bāle sahāyatā.

“Handāhaṃ hatacakkhusmi, kantāraddhānamāgato;
Marissāmi no gamissāmi, natthi bāle sahāyatā”ti.

Taṃ sutvā itaro saṃvegajāto “bhāriyaṃ vata me sāhasikaṃ ananucchavikaṃ kammaṃ kata”nti bāhā paggayha kandanto vanasaṇḍaṃ pakkhanditvā tathā pakkantova ahosi. Therassāpi sīlatejena saṭṭhiyojanāyāmaṃ paññāsayojanavitthataṃ pannarasayojanabahalaṃ jayasumanapupphavaṇṇaṃ nisīdanuṭṭhahanakālesu onamanunnamanapakatikaṃ sakkassa devarañño paṇḍukambalasilāsanaṃ uṇhākāraṃ dassesi. Sakko “ko nu kho maṃ ṭhānā cāvetukāmo”ti olokento dibbena cakkhunā theraṃ addasa. Tenāhu porāṇā –

“Sahassanetto devindo, dibbacakkhuṃ visodhayi;
Pāpagarahī ayaṃ pālo, ājīvaṃ parisodhayi.

“Sahassanetto devindo, dibbacakkhuṃ visodhayi;
Dhammagaruko ayaṃ pālo, nisinno sāsane rato”ti.

Athassa etadahosi – “sacāhaṃ evarūpassa pāpagarahino dhammagarukassa ayyassa santikaṃ na gamissāmi, muddhā me sattadhā phaleyya, gamissāmi tassa santika”nti. Tato –

“Sahassanetto devindo, devarajjasirindharo;
Taṅkhaṇena āgantvāna, cakkhupālamupāgami”. –

Upagantvā ca pana therassa avidūre padasaddamakāsi. Atha naṃ thero pucchi – “ko eso”ti? “Ahaṃ, bhante, addhiko”ti. “Kuhiṃ yāsi upāsakā”ti? “Sāvatthiyaṃ, bhante”ti. “Yāhi, āvuso”ti. “Ayyo pana, bhante, kuhiṃ gamissatī”ti? “Ahampi tattheva gamissāmī”ti. “Tena hi ekatova gacchāma, bhante”ti. “Ahaṃ, āvuso, dubbalo, mayā saddhiṃ gacchantassa tava papañco bhavissatī”ti. “Mayhaṃ accāyikaṃ natthi, ahampi ayyena saddhiṃ gacchanto dasasu puññakiriyavatthūsu ekaṃ labhissāmi, ekatova gacchāma, bhante”ti. Thero “eso sappuriso bhavissatī”ti cintetvā – “tena hi saddhiṃ gamissāmi, yaṭṭhikoṭiṃ gaṇha upāsakā”ti āha. Sakko tathā katvā pathaviṃ saṅkhipanto sāyanhasamaye jetavanaṃ sampāpesi. Thero saṅkhapaṇavādisaddaṃ sutvā “kattheso saddo”ti pucchi. “Sāvatthiyaṃ, bhante”ti? “Pubbe mayaṃ gamanakāle cirena gamimhā”ti. “Ahaṃ ujumaggaṃ jānāmi, bhante”ti. Tasmiṃ khaṇe thero “nāyaṃ manusso, devatā bhavissatī”ti sallakkhesi.

“Sahassanetto devindo, devarajjasirindharo;
Saṅkhipitvāna taṃ maggaṃ, khippaṃ sāvatthimāgamī”ti.

So theraṃ netvā therassevatthāya kaniṭṭhakuṭumbikena kāritaṃ paṇṇasālaṃ netvā phalake nisīdāpetvā piyasahāyakavaṇṇena tassa santikaṃ gantvā, “samma, cūḷapālā”ti pakkosi. “Kiṃ, sammā”ti? “Therassāgatabhāvaṃ jānāsī”ti? “Na jānāmi, kiṃ pana thero āgato”ti? “Āma, samma, idāni ahaṃ vihāraṃ gantvā theraṃ tayā kāritapaṇṇasālāya nisinnakaṃ disvā āgatomhī”ti vatvā pakkāmi. Kuṭumbikopi vihāraṃ gantvā theraṃ disvā pādamūle parivattanto roditvā “idaṃ disvā ahaṃ, bhante, tumhākaṃ pabbajituṃ nādāsi”ntiādīni vatvā dve dāsadārake bhujisse katvā therassa santike pabbājetvā “antogāmato yāgubhattādīni āharitvā theraṃ upaṭṭhahathā”ti paṭiyādesi. Sāmaṇerā vattapaṭivattaṃ katvā theraṃ upaṭṭhahiṃsu.

Athekadivasaṃ disāvāsino bhikkhū “satthāraṃ passissāmā”ti jetavanaṃ āgantvā tathāgataṃ vanditvā asītimahāthere ca, vanditvā vihāracārikaṃ carantā cakkhupālattherassa vasanaṭṭhānaṃ patvā “idampi passissāmā”ti sāyaṃ tadabhimukhā ahesuṃ. Tasmiṃ khaṇe mahāmegho uṭṭhahi. Te “idāni atisāyanho, megho ca uṭṭhito, pātova gantvā passissāmā”ti nivattiṃsu. Devo paṭhamayāmaṃ vassitvā majjhimayāme vigato. Thero āraddhavīriyo āciṇṇacaṅkamano, tasmā pacchimayāme caṅkamanaṃ otari. Tadā ca pana navavuṭṭhāya bhūmiyā bahū indagopakā uṭṭhahiṃsu. Te there caṅkamante yebhuyyena vipajjiṃsu. Antevāsikā therassa caṅkamanaṭṭhānaṃ kālasseva na sammajjiṃsu. Itare bhikkhū “therassa vasanaṭṭhānaṃ passissāmā”ti āgantvā caṅkamane matapāṇake disvā “ko imasmiṃ caṅkamatī”ti pucchiṃsu. “Amhākaṃ upajjhāyo, bhante”ti. Te ujjhāyiṃsu “passathāvuso, samaṇassa kammaṃ, sacakkhukakāle nipajjitvā niddāyanto kiñci akatvā idāni cakkhuvikalakāle ‘caṅkamāmī’ti ettake pāṇake māresi ‘atthaṃ karissāmī’ti anatthaṃ karotī”ti.

Atha kho te gantvā tathāgatassa ārocesuṃ, “bhante, cakkhupālatthero ‘caṅkamāmī’ti bahū pāṇake māresī”ti. “Kiṃ pana so tumhehi mārento diṭṭho”ti? “Na diṭṭho, bhante”ti. “Yatheva tumhe taṃ na passatha, tatheva sopi te pāṇe na passati. Khīṇāsavānaṃ maraṇacetanā nāma natthi, bhikkhave”ti. “Bhante, arahattassa upanissaye sati kasmā andho jāto”ti? “Attano katakammavasena, bhikkhave”ti. “Kiṃ pana, bhante, tena kata”nti? Tena hi, bhikkhave, suṇātha –

Atīte bārāṇasiyaṃ kāsiraññe rajjaṃ kārente eko vejjo gāmanigamesu caritvā vejjakammaṃ karonto ekaṃ cakkhudubbalaṃ itthiṃ disvā pucchi – “kiṃ te aphāsuka”nti? “Akkhīhi na passāmī”ti. “Bhesajjaṃ te karissāmī”ti? “Karohi, sāmī”ti. “Kiṃ me dassasī”ti? “Sace me akkhīni pākatikāni kātuṃ sakkhissasi, ahaṃ te saddhiṃ puttadhītāhi dāsī bhavissāmī”ti. So “sādhū”ti bhesajjaṃ saṃvidahi, ekabhesajjeneva akkhīni pākatikāni ahesuṃ. Sā cintesi – “ahametassa saputtadhītā dāsī bhavissāmī”ti paṭijāniṃ, “na kho pana maṃ saṇhena sammācārena samudācarissati, vañcessāmi na”nti. Sā vejjenāgantvā “kīdisaṃ, bhadde”ti puṭṭhā “pubbe me akkhīni thokaṃ rujjiṃsu, idāni pana atirekataraṃ rujjantī”ti āha. Vejjo “ayaṃ maṃ vañcetvā kiñci adātukāmā, na me etāya dinnāya bhatiyā attho, idāneva naṃ andhaṃ karissāmī”ti cintetvā gehaṃ gantvā bhariyāya etamatthaṃ ācikkhi. Sā tuṇhī ahosi. So ekaṃ bhesajjaṃ yojetvā tassā santikaṃ gantvā “bhadde, imaṃ bhesajjaṃ añjehī”ti añjāpesi. Athassā dve akkhīni dīpasikhā viya vijjhāyiṃsu. So vejjo cakkhupālo ahosi.

Bhikkhave, tadā mama puttena katakammaṃ pacchato pacchato anubandhi. Pāpakammañhi nāmetaṃ dhuraṃ vahato balibaddassa padaṃ cakkaṃ viya anugacchatīti idaṃ vatthuṃ kathetvā anusandhiṃ ghaṭetvā patiṭṭhāpitamattikaṃ sāsanaṃ rājamuddāya lañchanto viya dhammarājā imaṃ gāthamāha –

“Manopubbaṅgamā dhammā, manoseṭṭhā manomayā;
Manasā ce paduṭṭhena, bhāsati vā karoti vā;
Tato naṃ dukkhamanveti, cakkaṃva vahato pada”nti.

Tattha manoti kāmāvacarakusalādibhedaṃ sabbampi catubhūmikacittaṃ. Imasmiṃ pana pade tadā tassa vejjassa uppannacittavasena niyamiyamānaṃ vavatthāpiyamānaṃ paricchijjiyamānaṃ domanassasahagataṃ paṭighasampayuttacittameva labbhati. Pubbaṅgamāti tena paṭhamagāminā hutvā samannāgatā. Dhammāti guṇadesanāpariyattinissattanijjīvavasena cattāro dhammā nāma. Tesu –

“Na hi dhammo adhammo ca, ubho samavipākino;
Adhammo nirayaṃ neti, dhammo pāpeti suggati”nti. (theragā. 304; jā. 1.15.386) –

Ayaṃ guṇadhammo nāma. “Dhammaṃ vo, bhikkhave, desessāmi ādikalyāṇa”nti (ma. ni. 3.420) ayaṃ desanādhammo nāma. “Idha pana, bhikkhave, ekacce kulaputtā dhammaṃ pariyāpuṇanti suttaṃ geyya”nti (ma. ni. 1.239) ayaṃ pariyattidhammo nāma. “Tasmiṃ kho pana samaye dhammā honti, khandhā hontī”ti (dha. sa. 121) ayaṃ nissattadhammo nāma, nijjīvadhammotipi eso eva. Tesu imasmiṃ ṭhāne nissattanijjīvadhammo adhippeto. So atthato tayo arūpino khandhā vedanākkhandho saññākkhandho saṅkhārakkhandhoti. Ete hi mano pubbaṅgamo etesanti manopubbaṅgamā nāma.

Kathaṃ panetehi saddhiṃ ekavatthuko ekārammaṇo apubbaṃ acarimaṃ ekakkhaṇe uppajjamāno mano pubbaṅgamo nāma hotīti? Uppādapaccayaṭṭhena. Yathā hi bahūsu ekato gāmaghātādīni kammāni karontesu “ko etesaṃ pubbaṅgamo”ti vutte yo nesaṃ paccayo hoti, yaṃ nissāya te taṃ kammaṃ karonti, so datto vā mitto vā tesaṃ pubbaṅgamoti vuccati, evaṃsampadamidaṃ veditabbaṃ. Iti uppādapaccayaṭṭhena mano pubbaṅgamo etesanti manopubbaṅgamā. Na hi te mane anuppajjante uppajjituṃ sakkonti, mano pana ekaccesu cetasikesu anupajjantesupi uppajjatiyeva. Adhipativasena pana mano seṭṭho etesanti manoseṭṭho. Yathā hi corādīnaṃ corajeṭṭhakādayo adhipatino seṭṭhā. Tathā tesampi mano adhipati manova seṭṭhā. Yathā pana dāruādīhi nipphannāni tāni tāni bhaṇḍāni dārumayādīni nāma honti, tathā tepi manato nipphannattā manomayā nāma.

Paduṭṭhenāti āgantukehi abhijjhādīhi dosehi paduṭṭhena. Pakatimano hi bhavaṅgacittaṃ, taṃ apaduṭṭhaṃ. Yathā hi pasannaṃ udakaṃ āgantukehi nīlādīhi upakkiliṭṭhaṃ nīlodakādibhedaṃ hoti, na ca navaṃ udakaṃ, nāpi purimaṃ pasannaudakameva, tathā tampi āgantukehi abhijjhādīhi dosehi paduṭṭhaṃ hoti, na ca navaṃ cittaṃ, nāpi purimaṃ bhavaṅgacittameva, tenāha bhagavā – “pabhassaramidaṃ, bhikkhave, cittaṃ, tañca kho āgantukehi upakkilesehi upakkiliṭṭha”nti (a. ni. 1.49). Evaṃ manasā ce paduṭṭhena, bhāsati vā karoti vā so bhāsamāno catubbidhaṃ vacīduccaritameva bhāsati, karonto tividhaṃ kāyaduccaritameva karoti, abhāsanto akaronto tāya abhijjhādīhi paduṭṭhamānasatāya tividhaṃ manoduccaritaṃ pūreti. Evamassa dasa akusalakammapathā pāripūriṃ gacchanti.

Tato naṃ dukkhamanvetīti tato tividhaduccaritato taṃ puggalaṃ dukkhaṃ anveti, duccaritānubhāvena catūsu apāyesu, manussesu vā tamattabhāvaṃ gacchantaṃ kāyavatthukampi itarampīti iminā pariyāyena kāyikacetasikaṃ vipākadukkhaṃ anugacchati. Yathā kiṃ? Cakkaṃva vahato padanti dhure yuttassa dhuraṃ vahato balibaddassa padaṃ cakkaṃ viya. Yathā hi so ekampi divasaṃ dvepi pañcapi dasapi aḍḍhamāsampi māsampi vahanto cakkaṃ nivattetuṃ jahituṃ na sakkoti, atha khvassa purato abhikkamantassa yugaṃ gīvaṃ bādhati, pacchato paṭikkamantassa cakkaṃ ūrumaṃsaṃ paṭihanati. Imehi dvīhi ākārehi bādhantaṃ cakkaṃ tassa padānupadikaṃ hoti; tatheva manasā paduṭṭhena tīṇi duccaritāni pūretvā ṭhitaṃ puggalaṃ nirayādīsu tattha tattha gatagataṭṭhāne duccaritamūlakaṃ kāyikampi cetasikampi dukkhamanubandhatīti.

Gāthāpariyosāne tiṃsasahassā bhikkhū saha paṭisambhidāhi arahattaṃ pāpuṇiṃsu. Sampattaparibhāyapi desanā sātthikā saphalā ahosīti.

Cakkhupālattheravatthu paṭhamaṃ

I. 1. “If Thine Eye Offend Thee, Pluck It Out”

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

1. Thought is of all things first, thought is of all things foremost, of thought are all things made.
If with thought corrupt a man speak or act,
Suffering follows him, even as a wheel follows the hoof of the beast of burden.

Where was this religious instruction given? At Sāvatthi. With reference to whom? Cakkhupāla the Elder.

At Sāvatthi, we are told, lived a householder named Great-Wealth, Mahā-Suvaṇṇa. He was rich, possessed of great wealth, possessed of ample means of enjoyment, but at the same time he was childless. One day, as he was on his way home from bathing at a ghat, he saw by the roadside a large forest tree with spreading branches. Thought he, “This tree must be tenanted by a powerful tree-spirit.” So he caused the ground under the tree to be cleared, the tree itself to be inclosed with a wall, and sand to be spread within the inclosure. And having decked the tree with flags and banners, he made the following vow: “Should I obtain a son or a daughter, I will pay you great honor.” Having so done, he went on his way.

Now in no long time his wife conceived a child in her womb. So soon as his wife knew that she was with child, she informed her husband, and he performed the Protection of the Embryo for her. On the expiration of ten lunar months she gave birth to a son. Since the merchant obtained a son by protecting the tree, he named his son Protector, Pāla. After a time he obtained a second son. The younger son he named Protector junior, Culla Pāla, calling the older Protector senior, Mahā Pāla. When they reached manhood, their parents obtained wives for them. After a time the mother and father died, leaving the entire estate to be administered by the two sons.

At this time the Teacher, having set in motion the glorious Wheel of the Law, after journeying from place to place, took up his residence at Jetavana, a monastery erected by the wealthy merchant Anāthapiṇḍika at a cost of fifty-four crores of treasure. While in residence at Jetavana, he established the multitude in the Way to Heaven and the Way to Deliverance. (For the Tathāgata kept residence during but a single rainy season at the monastery erected by twice eighty thousand families of kinsmen, eighty on his mother’s side, eighty on his father’s. At Jetavana monastery, erected by Anāthapiṇḍika, he kept residence during nineteen rainy seasons; at Pubbārāma, erected by Visākhā at a cost of twenty-seven crores, he kept residence during six rainy seasons. Thus, by reason of the great merit of these two families, he kept residence near Sāvatthi during twenty-five rainy seasons.)

Anāthapiṇḍika and Visākhā, the eminent female lay disciple, went regularly twice every day to wait upon the Tathāgata. Knowing that the young novices would expect alms from them, they never went empty-handed. Before breakfast they took food, both hard and soft; after breakfast they took the five medicaments and the eight beverages. Moreover, in their residences seats were always prepared for two thousand monks. Whoever wished food or drink or medicine was immediately provided with just what he wished.

Not a single day had Anāthapiṇḍika asked the Teacher a question. Anāthapiṇḍika, we are told, refrained from asking questions by reason of his excessive love for the Teacher. He thought to himself, “The Tathāgata is a delicate Buddha, a delicate prince. Were the Teacher, because of the thought, ‘This householder is my supporter,’ to preach the Law to me, he would grow weary.” Therefore he asked the Teacher no questions. But so soon as Anāthapiṇḍika took his seat, the Teacher thought to himself, “This merchant protects me where I have no need to be protected. For I spent four Incalculables and a hundred thousand cycles of time in addition fulfilling the Perfections. My own gloriously adorned head have I cut off; my eyes have I torn out; my heart’s flesh have I uprooted; both son and wife, dear to me as life, have I renounced, solely that I might preach the Law to others. This man protects me where I have no need to be protected.” And straightway he preached a sermon on the Law.

At this time seventy million people dwelt in Sāvatthi. Of these, fifty million became Noble Disciples after hearing the discourse of the Teacher, but twenty million remained unconverted. The Noble Disciples had two duties: before breakfast they gave alms; after breakfast, bearing perfumes and garlands in their hands, with servants bearing garments, medicaments, and beverages, they went to hear the Law.

Now one day Mahā Pāla saw the Noble Disciples going to the monastery with perfumes and garlands in their hands. When he saw them, he asked, “Where is this great throng going?” “To hear the Law.” “I will go too,” said he. So he went, paid obeisance to the Teacher, and sat down in the outer circle of the congregation.

Now when the Buddhas preach the Law, they have regard to the predispositions of their hearers for the Refuges, the Moral Precepts, and Retirement from the World. Thus they always preach the Law with reference to the disposition of mind of each individual. When, therefore, the Teacher preached the Law on that day, he had regard to Mahā Pāla’s predispositions. And he preached in orderly sequence, expounding one subject after another; to wit, Almsgiving, the Moral Precepts, Heaven, the evil consequences and folly and defilement of Sensual Pleasures, and the blessings of Retirement from the World.

Mahā Pāla the householder listened. Thought he, “When a man goes to the next world, neither sons nor daughters nor riches follow him; nay, even his own body goes not with him. Of what profit is it for me to live the house-life? I will become a monk.” So at the end of the discourse he approached the Teacher and asked to be received into the Order. The Teacher asked him, “Have you no kinsman of whom it is proper that you should ask leave?” “Why yes, Reverend Sir, I have a younger brother.” “Well then, ask him.” To this Mahā Pāla agreed, and said, “Very well.” So he paid obeisance to the Teacher and went home. Summoning his younger brother, he said to him,

“Dear brother, whatever wealth is in this house, whether animate or inanimate, all this I give into your hands; take possession thereof.” “But you, master?” “I shall enter the Order under the Teacher.” “What say you, dear brother? When my mother died, I gained in you as it were a mother; when my father died, as it were a father. Your house contains great wealth. Surely you can do works of merit even though you live the house-life. Do not so.” “Dear brother, after hearing the Teacher preach the Law, I can no longer live the life of a householder. For the Teacher preached a Law lovely in its beginning, its middle, and its end, and established precisely and exactly the Three Characteristics of existing things: Impermanence, Suffering, and Absence of Individuality. I cannot fulfill the Law amid the cares of the household life; I must enter the Order, dear brother.” “Dear brother, now you are young. Wait until you are old, and then enter the Order.” “Dear brother, in the case of an old man, even hands and feet are disobedient and answer not to his will; how much more so his kinsmen? No, I will not do as you say; I will fulfill the duties of a monk.

Hands and feet weakened by old age are disobedient;
How shall he whose strength is impaired fulfill the Law?

Dear brother, I shall enter the Order despite all considerations to the contrary.”

In spite of his brother’s lamentations Mahā Pāla went to the Teacher and asked to be admitted to the Order. He was admitted and professed and spent five rainy seasons in residence with teachers and preceptors. When he had completed his fifth residence and celebrated the terminal festival, he approached the Teacher, paid obeisance to him, and asked, “Reverend Sir, how many Duties are there in this religion?” “Two Duties only, monk: the Duty of Study and the Duty of Contemplation.” “Reverend Sir, what is meant by the Duty of Study, and what is meant by the Duty of Contemplation?” “The Duty of Study necessitates gaining a knowledge of the Word of the Buddha in a manner conformable to one’s understanding, the mastery of one or two Nikāyas, or indeed of the whole Tipiṭaka, bearing it in mind, reciting it, teaching it. On the other hand the Duty of Contemplation, which leads to Arahatship, involves frugal living, satisfaction with a remote lodging, fixing firmly in one’s mind the idea of decay and death, and the development of Spiritual Insight by persistent effort.” “Reverend Sir, since I became a monk in old age, I shall not be able to fulfill the Duty of Study. But I can fulfill the Duty of Contemplation; teach me a Formula of Meditation.”

So the Teacher taught him a Formula of Meditation leading to Arahatship. Then he paid obeisance to the Teacher, sought monks to accompany him, and having obtained sixty, departed with them. When he had proceeded a distance of twenty leagues, he arrived at a larger border-village, and accompanied by his retinue, entered the village for alms. The inhabitants, observing that the monks were faithful in the performance of their duties, were favorably disposed to them, provided them with seats, and served them with savory food. Then they inquired, “Reverend Sirs, whither go the noble monks?” “Lay brethren, to a suitable retreat.” Then the wise villagers knew within themselves, “The reverend monks seek lodgings wherein to spend the rainy season.”

Said they, “If the noble monks would reside here during these three months, we would abide steadfast in the Refuges and receive the Moral Precepts.” The monks, thinking to themselves, “Through these families we shall effect escape from the round of existences,” gave their consent. The villagers, having obtained the consent of the monks, proceeded to erect a monastery, building night-quarters and day-quarters, and when it was finished, presented it to the monks. The monks resorted regularly to that village only for alms. And a certain physician came to them and offered his services, saying, “Reverend Sirs, where many reside, disease is inevitable. Should sickness arise, pray send me word, and I will prescribe remedies for you.”

When the monks entered upon residence on the first day of the rainy season, the Elder, addressing them, asked this question, “Brethren, in how many Postures will you spend these three months?” “In all Four Postures, Reverend Sir.” “But, brethren, is this proper? Assuredly we must be heedful, for it was from the living Buddha that we received our Formula of Meditation on coming hither; and the favor of the Buddhas may not be won by double-dealing, but only by the manifestation of upright intent. Four States of Suffering await whoso is heedless, that he may enter therein as into his own habitation. Therefore, brethren, be heedful.” “But you, Reverend Sir?” “I shall spend the time in the Three Postures; I shall not stretch out my back, brethren.” “Very well, Reverend Sir. Be heedful.”

At the end of the first month the Elder, who allowed himself no sleep, began to suffer from an affection of the eyes. Streams of tears trickled from his eyes, as streams of water from a broken jar. All night long he devoted himself to meditation, and with the coming of dawn entered his cell and sat down. When it was time for the monks to go the rounds for alms, they came to the Elder and said to him, “Reverend Sir, it is time for us to go the rounds for alms.” “Very well, brethren; take bowl and robe.” Having thus directed them to take their own bowls and robes, he himself set out. The monks observed that his eyes were running and asked him, “What is the matter, Reverend Sir?” “The wind cuts my eyes, brethren.” “Were we not offered the services of a physician, Reverend Sir? We will inform him.” “Very well, brethren.”

They informed the physician, who prepared an ointment and sent it to the Elder. The Elder applied the ointment to his nose, remaining seated as he did so, and then entered the village. The physician, seeing him, said to him, “Reverend Sir, I am informed that the wind hurts your reverence’s eyes.” “That is true, lay disciple.” “Reverend Sir, did you apply to your nose an ointment which I prepared and sent you?” “Yes, lay disciple.” “How do you feel now?” “The pain continues just the same, lay disciple.” The physician thought to himself, “The ointment which I sent him should have cured him with only one application. How is it that he is not cured?” So he asked the Elder, “Were you seated when you applied the ointment, or were you lying down?” The Elder remained silent. Though the physician repeated the question several times, he answered not a word. The physician thought to himself, “I will go to the monastery and have a look at his cell.” So he dismissed the Elder, saying to him, “That will do, Reverend Sir.” And going to the monastery, he inspected the Elder’s cell. Seeing only a place to walk and a place to sit down, but no place to lie down, he asked the Elder, “Reverend Sir, were you seated when you applied the ointment, or were you lying down?” The Elder remained silent. “Reverend Sir, do not act in this way; the duties of a religious can be performed only so long as the body is properly cared for. Were you lying down when you applied the ointment?” After the physician had repeated the question several times, the Elder replied, “Go your way, brother; I will take counsel and decide the matter for myself.”

Now the Elder had no kinsmen or blood-relatives there. With whom, therefore, was he to take counsel? Therefore he took counsel with his own person, saying, “Come now, brother Pālita, tell me this. Will you regard your eyes or the Religion of the Buddha? For in the round of existences without conceivable beginning, there is no counting the number of times you have been without eyes. But while unnumbered hundreds of Buddhas and thousands of Buddhas have passed, your experience does not cover the period of even a single Buddha. Now in this rainy season you resolved not to lie down for three months. Therefore let your eyes perish or decay. Keep only the Law of the Buddha, not your eyes.” And admonishing his own physical body, he uttered the following Stanzas,

My eyes perish, my ears perish, so also my body,
All that has to do with my body perishes;
Why, Pālita, continue heedless?

My eyes wear out, my ears wear out, so also my body,
All that has to do with my body wears out;
Why, Pālita, continue heedless?

My eyes decay, my ears decay, so also my body,
All that has to do with my body decays;
Why, Pālita, continue heedless?

Having thus admonished himself in three Stanzas, he applied the ointment to his nose, remaining seated as before, and then entered the village for alms. The physician, seeing him, asked him, “Reverend Sir, have you applied the ointment to your nose?” “Yes, lay disciple.” “How do you feel?” “The pain continues just the same, lay disciple.” “Reverend Sir, were you seated when you applied the ointment, or were you lying down?” The Elder remained silent. The physician repeated the question several times, but the Elder answered never a word. Then the physician said to him, “You are not doing as you ought for your own good. Henceforth do not say, ‘So and So prepared ointment for me’ and I will not say, ‘I prepared ointment for you.’ ”

Given up by the physician, the Elder went to the monastery. Said he, “Monk, though you have been given up by the physician, do not give up your Posture.”

You are given up as incurable, you are abandoned by your physician.
Destined to the King of Death, why, Pālita, are you heedless?

Having admonished himself in this Stanza, he resumed his meditations. At the end of the middle watch his eyes and his Depravities were blotted out simultaneously, and he became an Arahat dwelling in the bliss of Spiritual Insight. He entered his cell and sat down. When the time came for the monks to go the rounds for alms, they came to the Elder and said to him, “Reverend Sir, it is time for us to go the rounds for alms.” “Is it time, brethren?” “Yes, Reverend Sir.” “Well then, go your way.” “But you, Reverend Sir?” “The sight of my eyes is gone, brethren.” They looked at his eyes, and their own eyes filled with tears. “Do not worry, Reverend Sir; we will look after you,” said they to the Elder, comforting him. And having performed the various duties required of them, they entered the village for alms.

Not seeing the Elder, people asked the monks, “Brethren, where is our noble Elder?” When they learned what had happened, they sent rice-porridge to him. Afterwards, taking food, they went in person, paid obeisance to the Elder, and rolling on the ground before his feet, poured out their lamentations. Then they comforted him, saying, “We will care for you, Reverend Sir; do not worry,” and went their way. From that time on they sent rice-porridge regularly to the monastery.

The Elder constantly admonished the other sixty monks, and they carried out his admonitions so faithfully that at the next Pavāraṇā all of them became Arahats possessed of the Supernatural Faculties. At the end of the rainy season, desiring to see the Teacher, they said to the Elder, “Reverend Sir, we desire to see the Teacher.” When the Elder heard their request, he thought to himself, “I am weak, and on the way is a forest haunted by evil spirits. If I go with them, all will become weary and will be unable to obtain alms. I will send them on ahead.”

So he said to them, “Brethren, you go on ahead.” “But you, Reverend Sir?” “I am weak, and on the way is a forest haunted by evil spirits. If I go with you, you will all become weary; therefore you go on ahead.” “Do not so, Reverend Sir; we will go only with you.” “Brethren, please do not do so; if you do so, it will displease me. When my younger brother sees you and asks after me, tell him that I have lost the sight of my eyes, and he will send someone to guide my steps. Greet in my name the Possessor of the Ten Forces and the eighty Chief Elders.” So saying, he dismissed them.

They begged the Elder to pardon them for their insistence, and entered the village for alms. The villagers provided them with seats, presented them with alms, and asked them, “Reverend Sirs, may we know why the noble monks are leaving?” “Yes, lay disciples, we desire to see the Teacher.” The villagers repeatedly begged the monks to remain, but finding that they were firm in their determination to go, accompanied them on their way weeping, and then turned back.

After journeying from place to place, the monks arrived at Jetavana and greeted the Teacher and the eighty Chief Elders in the name of the Elder. Having so done, they entered for alms the street where lived the Elder’s younger brother. The householder recognized them, received them cordially, provided them with seats, and asked them, “Where is my dear brother the Elder?’ ” They told him what had happened. Flinging himself at their feet, he rolled on the ground and wept.

Then he asked them, “Now, brethren, what is to be done?” “The Elder wishes to have someone come from here, that he may return with him.” “Brethren, here is my sister’s son Pālita. Send him.” “It will never do to send him, for there is danger by the way. We might, however, send him, after first receiving him into the Order.” “Do so and send him, brethren.” So they received him into the Order and for a fortnight instructed him in such matters as the proper manner of putting on the robe. Then, showing him the way, they sent him forth.

After journeying from place to place, he arrived at the village. Seeing an old man at the village gate, he asked him, “Is there a forest hermitage near this village?” “There is, Reverend Sir.” “Who lives there?” “An Elder named Pālita, Reverend Sir.” “Show me the way there.” “Who are you, Reverend Sir?” “I am the son of the Elder’s sister.” So the old man took him and led him to the hermitage. He paid obeisance to the Elder and for a fortnight performed the major and minor duties for him, ministering to him faithfully. Then he said to him, “Reverend Sir, the householder my mother’s brother desires to have you come to him. Let us go thither.” “Very well, take hold of my staff.” Taking hold of the staff by the tip, he entered the village with the Elder. The villagers provided the Elder with a seat and asked him, “Reverend Sir, may we know your purpose in going?” “Yes, lay disciples, I am going to pay my respects to the Teacher.” The villagers sought by all means in their power to persuade them to remain, but failing in their efforts, escorted them part of the way, and then turned back weeping.

When the novice had gone part of the way with the Elder, holding the tip of the Elder’s staff, he arrived at a forest village named Kaṭṭhanagara, near which the Elder formerly resided. As the novice came out of the village, he heard in the forest the voice of a woman singing away as she gathered firewood. As he listened to her song, he fell in love with her voice. (There is no sound to be compared with a woman’s voice for power to thrill man’s whole frame. Therefore said the Exalted One, “Monks, I know of no other single sound which so completely takes possession of the heart of a man as this, monks; namely, a woman’s voice.” )

The novice, fascinated by her voice, let go his hold of the Elder’s staff. Said he, “Wait just a moment, Reverend Sir; I have some business.” So saying, he went in the direction of the woman. When she saw him, she became silent. The novice violated the law of chastity with her. The Elder thought to himself, “Just now I heard the sound of someone singing, and it was none other than a woman’s voice. The novice tarries; he must have violated the law of chastity.” When the novice had finished his business, he returned to the Elder and said, “Come, Reverend Sir, let us be off.” But the Elder asked him, “Novice, have you committed sin?” The novice remained silent, and though questioned repeatedly, answered never a word. Then said the Elder to him, “A sinner like you can never hold the tip of my staff.”

The novice, overwhelmed with remorse, removed his yellow robes, clothed himself in the garb of a householder, and said, “Reverend Sir, before I was a novice; now I have become a layman again. It was not through faith that I became a monk, but because I feared the dangers of the journey. Come, let us be off.” The Elder replied, “An evildoer is an evildoer, be he layman or be he novice. While you were a novice, you were unable to keep the law of chastity. Will you be a better man for having become a layman? A sinner like you can never hold the tip of my staff.” “Reverend Sir, the road is infested with evil spirits and you are blind. How can you remain here?” The Elder answered, “Brother, don’t worry about that. No matter whether I lie down right here and die, or wander hither and thither, with you I will never go.” So saying, he pronounced the following Stanzas,

Alas! I have lost the sight of my eyes; a weary way have I come;
I will lie down and go no farther; with a simpleton no fellowship may be.

Alas! I have lost the sight of my eyes; a weary way have I come;
I shall die; I will go no farther; with a simpleton no fellowship may be.

When the novice heard this, he was overwhelmed with remorse. And he cried out, “A grievous sin indeed have I committed, a deed of violence and impropriety!” And wringing his hands and weeping, he plunged into the forest and made off.

By the power of the Elder’s virtue the Yellowstone Throne of Sakka king of gods, sixty leagues long, fifty leagues wide, fifteen leagues thick, of the color of the Jayasumana flower, which has a way of lowering itself when Sakka sits down and of rising again when he stands up, manifested signs of heat. “Who, pray, can be seeking to thrust me from my seat?” thought Sakka. Surveying the world with Supernatural Vision, he saw the Elder. Therefore said those of old time,

The king of gods, possessing a thousand eyes, purified the Divine Eye;
This sin-abhorring Pāla purified his life.

The king of the gods, possessing a thousand eyes, purified the Divine Eye;
This Pāla, reverer of the Law, sat delighting in Religion.

Then this thought occurred to him, “Should I fail to go to the assistance of such a sin-abhorring, Law-revering Elder, my head is likely to split into seven pieces. I will go to him.” And so

The king of the gods, possessed of a thousand eyes, bearing majestic sway over the gods,
In a single instant approaching, approached Cakkhupāla.

Accordingly Sakka approached the Elder. When he was quite near him, he shuffled his feet. “Who is there?” asked the Elder. “It is I, Reverend Sir, a traveler.” “Where are you going, lay disciple?” “To Sāvatthi, Reverend Sir.” “Continue your journey, brother.” “But, Reverend Sir, where is your reverence going?” “I am going there too.” “Well then, let us go together, Reverend Sir.” “I am weak, brother. If you go with me, you will be delayed.” “I have no urgent business. Besides, if I go with you, I can avail myself of one of the ten ways and means of acquiring merit. Let us go together, Reverend Sir.”

The Elder thought to himself, “This is without doubt some pious man.” So he said to him, “Very well, take hold of the tip of my staff, lay brother.” Sakka did so. And Sakka shortened the distance so that they arrived at Jetavana at eventide. The Elder, hearing the noise of trumpets, drums, and other instruments of music, asked, “Where is that noise?” “At Sāvatthi, Reverend Sir.” “Lay brother, when I came here before, we were a long time in coming.” “I know a short cut, Reverend Sir.” At that moment the Elder perceived within himself, “This is no human being; it must be a divinity.”

The king of gods, possessing a thousand eyes, bearing majestic sway over the gods,
Shortening the distance, came quickly to Sāvatthi.

Sakka conducted the Elder to a hut of leaves and grass which his younger brother had made for his express use, seated him on a couch, and then, disguising himself as a dear friend of the younger brother, went to summon him. “Friend Pāla!” he called out. “What is it, friend?” “Do you know that the Elder has arrived?” “No; is it true that the Elder has arrived?” “Yes, friend, I have just returned from the hermitage, and saw the Elder seated in the hut of leaves and grass you built for him.” So saying, he departed.

The householder went to the hermitage. When he saw the Elder, he flung himself at his feet, rolled on the ground, and wept. Then he said, “I knew this would happen, Reverend Sir. It was for this reason that I withheld from you my permission to become a monk.” After talking with him for some time, he freed two slave-boys, had the Elder receive them into the Order, and committed him to their care, saying, “Bring rice-porridge and other kinds of food from the village and minister to the Elder.” The novices ministered to the Elder, performing the major and minor duties faithfully.

Now one day a party of monks residing in foreign parts came to Jetavana to see the Teacher, After paying their respects to the Teacher and seeing the eighty Chief Elders, they made the rounds of the monastery. Coming to Cakkhupāla’s retreat, they said to each other, “Let us see him too.” So when evening came, they set out to visit him. Just at that moment a severe storm arose. So they turned back, saying, “It is now evening, and a storm has arisen. Therefore we will go and see him in the morning.” The rain continued during the first watch, but ceased in the second. The Elder, a man of great energy, accustomed to walking, came down into the cloister in the last watch. Now at that time many insects had come out of the newly wet earth, and as the Elder walked up and down, they perished in great numbers. The resident monks did not sweep betimes where the Elder walked. When the visiting monks arrived, saying, “We would see the place where the Elder resides,” and saw the insects in the cloister, they asked, “Who was it that walked in this cloister?” “Our master. Reverend Sirs.” They were offended and said, “See what the monk has done. When he had the sight of his eyes, he lay down and slept and did no sin. But now that he has lost his eyesight, saying to himself, ‘I will take a walk,’ he has destroyed these insects. ‘That which is right I will do,’ said he; but that which was not right he has done.” So they went and reported the matter to the Tathāgata, saying, “Reverend Sir, the Elder Cakkhupāla, saying to himself, ‘I will take a walk,’ has destroyed many insects.” “But did you see him killing them?” “We did not, Reverend Sir.” “Precisely as you did not see him, so also did he not see these insects. Monks, they that are freed from the Depravities have no thought of killing.” “Reverend Sir, seeing that he was destined to become an Arahat, how was it that he became blind?” “Monks, it was by reason of his misdeed in a former existence.” “Why, Reverend Sir, what did he do?” “Well then, monks, listen.”

1 a. Story of the Past: The wicked physician and the woman

In times long past, when the king of Kāsi reigned at Benāres, a certain physician went through towns and villages practicing his profession. Seeing a certain woman with weak eyes, he asked her, “What is the matter with you?” “My eyesight has failed.” “I will prescribe for you.” “Do so, master.” “What will you give me?” “If you succeed in making my eyes well and strong again, I will become your slave, and my sons and daughters too.” “Very well,” said he. So he prescribed a remedy for her, and with a single application of the remedy her eyes became well and strong again.

Upon this she thought, “I promised to become his slave, and my sons and daughters too. But he will not treat me kindly. Therefore I will deceive him.” So when the physician came and asked her how she was getting on, she answered, “Before, my eyes pained me a little; but now they hurt me worse than ever.” The physician thought, “This woman is deceiving me because she is unwilling to give me anything. I don’t want her fee; now I will make her blind.” So he went home and told his wife about the matter. His wife said nothing. Then he compounded an ointment, went to the woman’s house, and directed her to rub it into her eyes. She did so, and her eyes went out like the flame of a lamp. That physician was Cakkhupāla. End of Story of the Past.

“Monks, the evil deed then committed by my son followed him ever after; for an evil deed follows the evildoer even as a wheel follows the hoof of the ox that bears the yoke.” After relating this story, the King of Righteousness joined the connection, even as a king seals an edict with the royal seal after the clay has been affixed, and pronounced the following Stanza,

1. Thought is of all things first, thought is of all things foremost, of thought are all things made.
If with thought corrupt a man speak or act.
Suffering follows him, even as a wheel follows the hoof of the beast of burden.

  1. Derived from this story are Thera-Gāthā Commentary, xcv, and Rogers, Buddhaghosha’s Parables, i, pp. 1-11. Text: N i. 3-24.
  2. Ed. note: i.e. the pavāraṇa, or invitation to other monastics to point out faults seen heard or suspected.
  3. Ed. note: Dasabala, i.e. the Buddha.
  4. Aṅguttara, i. 1.
  5. Cf. Story ix. 9 a. Physician, boys, and snake.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 1, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp có dẫn kệ này