Chú giải Pháp Cú · Kệ 163 · Dhp 163

Tích Cố Ý Chia Rẽ Tăng

Saṅghabhedaparisakkanavatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 163 Kinh Pháp Cú, phẩm Tự Ngã, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 163)

“Sukarāni asādhūni,
Attano ahitāni ca;
Yaṃ ve hitañca sādhuñca,
Taṃ ve paramadukkaraṃ.”

“Dễ làm các điều ác,
Dễ làm tự hại mình,
Còn việc lành, việc tốt,
Thật tối thượng khó làm.”
(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)

Kệ Pháp Cú nầy được Đức Bổn Sư thuyết khi ngự tại Veḷuvana (Trúc Lâm), đề cập đến Devadatta (Đề Bà Đạt Đa) cố ý chia rẽ Tăng. Câu chuyện chi tiết về Devadatta cố ý chia rẽ Tăng như vầy:

Một hôm, Devadatta trông thấy Trưởng lão Ānanda đang trì bình khất thực, đã nói lên ý định của mình rằng:

- Nầy đạo hữu Ānanda! Tôi sẽ hành lễ Phát lồ cùng các Tăng sự riêng, không hành Tăng sự chung với Đức Thế Tôn nữa.

Trưởng lão Ānanda im lặng không hoan hỷ cũng không chỉ trích, sau khi khất thực xong, Trưởng lão trở về bạch trình lên Đức Thế Tôn:

- Bạch Đức Thế Tôn! Vào sáng nay khi con đang trì bình khất thực, Devadatta trông thấy con đang đi khất thực trong thành Rājagaha (Vương Xá), vị ấy đi đến nói với con rằng: “Nầy đạo hữu Ānanda! Kể từ hôm nay trở đi tôi sẽ hành lễ Phát lồ và các Tăng sự riêng, không hành chung với Đức Thế Tôn và Tăng chúng nữa.”. Bạch Đức Thế Tôn, hôm nay Devadatta sẽ chia rẽ Tăng, tức là sẽ hành lễ Phát lồ và Tăng sự riêng.

Được nghe Trưởng lão Ānanda bạch trình câu chuyện ấy, Bậc Đạo Sư đã thốt lên cảm hứng ngữ rằng:

Sukaraṃ sādhunā sādhu,
Sādhu pāpena dukkaraṃ;
Pāpamariyehi dukkaranti.
Thiện nhân hành thiện dễ dàng thay!
Ác nhân hành thiện khó chi tày!
Ác nhân hành ác không gì khó!
Thánh nhân hành ác chẳng quen tay!

Sau khi thốt lời cảm khái nầy, Đức Bổn Sư bảo:

- Nầy Ānanda! Việc làm đáng gọi là vô ích cho mình thì dễ làm, còn trái lại, việc làm hữu ích cho mình thì khó làm.

Nói rồi, Ngài ngâm kệ rằng:
“Sukarāni asādhūni,
Attano ahitāni ca;
Yaṃ ve hitañca sādhuñca,
Taṃ ve paramadukkaraṃ.”

Việc hung ác thì dễ làm, nhưng chẳng lợi gì cho ta, trái lại việc từ thiện có lợi cho ta thì lại rất khó làm.

(Bản dịch của T.K. Trí Đức)

CHÚ GIẢI:

Ý nghĩa của Kệ ngôn nầy là:

Những việc nào là bất thiện, đáng chê trách và xoay chuyển trong vòng bốn ác đạo và khi làm xong chẳng có lợi ích cho mình, những việc ấy lại dễ làm. Trái lại, việc nào làm xong có lợi cho mình, không có gì đáng chê trách, xoay chuyển trong vòng Thiên giới và giải thoát Níp Bàn, việc làm ấy thật rất khó làm, giống như việc kéo mặt trời đã mọc ở phương đông, từ dưới chỗ thấp của con sông, cho nó đi thụt lùi, lấy phía sau làm phía trước vậy.

Cuối thời Pháp, nhiều vị Tỳ khưu chứng đắc Thánh quả , nhất là Tu Đà Hườn quả.

Trong thành Vương Xá, gặp A Nan,
Đại đức Đề Bà thố lộ rằng:
“Ta sẽ Phát lồ riêng chỗ khác,
Không hành Tăng sự với chư Tăng.”.
Phật dạy: Việc hung ác dễ làm,
Nhưng mà bất lợi, chớ nên ham!
Việc lành, trái lại, tuy là lợi,
Nhưng khó làm nên, ít kẻ cam!

DỨT TÍCH CỐ Ý CHIA RẼ TĂNG

Saṅghabhedaparisakkanavatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Sukarānīti imaṃ dhammadesanaṃ satthā veḷuvane viharanto saṅghabhedaparisakkanaṃ ārabbha kathesi.

Ekadivasañhi devadatto saṅghabhedāya parisakkanto āyasmantaṃ ānandaṃ piṇḍāya carantaṃ disvā attano adhippāyaṃ ārocesi. Taṃ sutvā thero satthu santikaṃ gantvā bhagavantaṃ etadavoca – “idhāhaṃ, bhante, pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahaṃ piṇḍāya pāvisiṃ. Addasā kho maṃ, bhante, devadatto rājagahe piṇḍāya carantaṃ. Disvā yenāhaṃ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā maṃ etadavoca – ‘ajjatagge dānāhaṃ, āvuso ānanda, aññatreva bhagavatā aññatra bhikkhusaṅghena uposathaṃ karissāmi saṅghakammañcā’ti. Ajja bhagavā devadatto saṅghaṃ bhindissati, uposathañca karissati saṅghakammāni cā”ti. Evaṃ vutte satthā –

“Sukaraṃ sādhunā sādhu, sādhu pāpena dukkaraṃ;
Pāpaṃ pāpena sukaraṃ, pāpamariyehi dukkara”nti. (udā. 48) –

Imaṃ udānaṃ udānetvā, “ānanda, attano ahitakammaṃ nāma sukaraṃ, hitakammameva dukkara”nti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Sukarāni asādhūni, attano ahitāni ca;
Yaṃ ve hitañca sādhuñca, taṃ ve paramadukkara”nti.

Tassattho – yāni kammāni asādhūni sāvajjāni apāyasaṃvattanikattāyeva attano ahitāni ca honti, tāni sukarāni. Yaṃ pana sugatisaṃvattanikattā attano hitañca anavajjatthena sādhuñca sugatisaṃvattanikañceva nibbānasaṃvattanikañca kammaṃ, taṃ pācīnaninnāya gaṅgāya ubbattetvā pacchāmukhakaraṇaṃ viya atidukkaranti.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.

Saṅghabhedaparisakkanavatthu sattamaṃ.

XII. 7. Devadatta seeks to cause a Schism in the Order

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

163. Easy to do...

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Veḷuvana with reference to Devadatta’s going about for the purpose of causing a schism in the Order.

For on a certain day Devadatta went about to cause a schism in the Order, and seeing Venerable Ānanda going his round for alms, informed him of his intention. When the Elder heard what Devadatta said, he went to the Teacher and said this to the Exalted One: “Reverend Sir, this very morning I put on my undergarment, and taking bowl and robe, entered Rājagaha for alms. And, Reverend Sir, as I was going about Rājagaha for alms, Devadatta saw me. And seeing me, he drew near to where I was, and having drawn near to where I was, said this to me, ‘From this day forth, brother Ānanda, I shall keep Fast-day and carry on the business of the Order apart from the Exalted One, apart from the Order of Monks.’ To-day, Exalted One, Devadatta will rend the Order asunder, and will by himself keep Fast-day and carry on the business of the Order.” Thereupon the Teacher breathed forth the following Solemn Utterance,

Easy to do for the good is the good; the good is hard for the evil to do;
Evil is easy for the evil to do; evil is hard for the noble to do.

Then said the Teacher, “Ānanda, what is not good for one, is easy to do; what is good for one, is hard to do.” So saying, he pronounced the following Stanza,

163. Easy to do are those things which are not good, and those things which are hurtful to oneself;
But that which is salutary and good is exceedingly hard to do.

  1. This story is derived from the Vinaya, Culla Vagga, vii. 3. 17: ii. 19817-35. Cf. also Udāna, v. 8: 60-61. Text: N iii. 154-155.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp có dẫn kệ này