Tích Đề Bà Đạt Đa Gây Tội Ác
Devadattavatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 162 Kinh Pháp Cú, phẩm Tự Ngã, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 162)
“Yassa accantadussīlyaṃ,
Māluvā sālamivotthataṃ;
Karoti so tathattānaṃ,
Yathā naṃ icchatī diso.”
“Phá giới quá trầm trọng,
Như dây leo bám cây,
Gieo hại cho tự thân,
Như kẻ thù mong ước.”
(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư thuyết khi ngự tại Veḷuvana (Trúc Lâm), gần thành Rājagaha (Vương Xá) , đề cập đến Devadatta (Đề Bà Đạt Đa).
Tương truyền rằng: Một hôm, các Tỳ khưu cùng nhau hội họp tại Giảng đường, bàn luận cùng nhau rằng:
- Nầy chư đạo hữu! Devadatta là người phá giới, là người hành theo ác pháp, đã khuyến dụ Thái tử Ajātasattu (A Xà Thế) làm phát sanh lợi lộc đến ông một cách phi pháp, rồi xúi giục Thái tử giết cha là Vua Bimbisāra (Bình Sa Vương), ông ta lại còn mưu hại Đức Thế Tôn nhiều phen nữa chứ. Do ông làm cho ái dục cùng tăng trưởng với ác giới nên ông trở nên người ác hạnh vậy.
Với Thiên nhĩ thuần tịnh siêu nhân, Đức Thế Tôn nghe được sự bàn luận ấy, Ngài ngự đến nơi, hỏi rằng:
- Nầy các Tỳ khưu! Các ngươi đang bàn luận về vấn đề gì thế?
- Bạch Ngài, chuyện nầy…
Ngài phán dạy rằng:
- Nầy các Tỳ khưu! Chẳng phải chỉ trong kiếp nầy Devadatta đã âm mưu sát hại cho được Ta đâu, mà trong quá khứ cũng đã từng như thế rồi. Theo lời thỉnh cầu của các Tỳ khưu , Ngài thuyết giảng về các Bổn sanh như con nai Kuruṅga… rồi Ngài kết luận rằng:
- Nầy các Tỳ khưu, giống như cây chùm gởi quấn siết làm nứt chết cây Long thọ (Tala), ái dục phát sanh từ sự phá giới, thúc đẩy kẻ phá giới sa vào khổ cảnh, nhất là các Địa ngục.
Nói rồi, Đức Bổn Sư ngâm kệ rằng:
“Yassa accantadussīlyaṃ,
Māluvā2 sālamivotthataṃ;
Karoti so tathattānaṃ,
Yathā naṃ icchatī diso.”
Sự phá giới làm hại mình như dây Mang la bao
quanh cây Ta la làm cho cây nầy khô héo. Người phá giới chỉ là người làm điều mà kẻ thù muốn làm cho mình.
(Bản dịch của T.K. Trí Đức)
CHÚ GIẢI:
Accantadussīlyaṃ: người đáng gọi là Phá giới thật sự, là người cư sĩ tại gia, từ lúc mới sanh trở đi cứ hành động theo lộ trình của mười nghiệp bất thiện, hoặc là người xuất gia, từ ngày thọ Cụ túc giới về sau, lúc phạm các tội nặng.
Ở đây, ai là người Phá giới trong hai, ba kiếp rồi, bây giờ chính là sự Phá giới trong kiếp thứ ba được nói đến. Bổn sanh Kuruṅga (Jāt. 173), số 21, trang 85. Kuruṅga là một giống
sơn dương.
2 Một loại dây bìm leo.
Dussīlabhāvo: trạng thái Phá giới, ở đây nên giải là ái dục nương theo Lục căn mà khởi lên.
Māluvā sālam iv’otthataṃ: cái gọi là ái dục của kẻ Phá giới cũng bao trùm, quấn chặt tự thân kẻ ấy, giống như dây bìm, dây chùm gởi bao trùm cây Ta la Long thọ, trong lúc trời mưa có nước rơi xuống từ các lá cây, khiến cho nó phát triển bao vây khắp cả tàn cây vậy. Cũng như cây Ta la bị dây chùm gởi siết chặt đang ngã xuống đất, kẻ Phá giới bị cái gọi là ái dục siết chặt đang sa đọa xuống bốn ác đạo. Kẻ thù muốn cho kẻ ấy bị thiệt hại thế nào thì chính kẻ ấy tự làm cho mình bị thiệt hại thế ấy vậy.
Cuối thời Pháp, nhiều vị Tỳ khưu chứng đắc Thánh quả, nhất là Tu Đà Hườn quả.
Rẽ Tăng, phản Phật, có Đề Bà,
Phá giới, làm nên nghiệp xấu xa!
Lăn đá, khiến chân Phật chảy máu,
Xúi A Xà Thế giết Vua cha.
Phật rằng: Phá giới tợ dây leo,
Siết chết Ta la, rất hiểm nghèo!
Kẻ nghịch mong điều gì tai hại,
Cho ta, ta lại tự mình gieo.
DỨT TÍCH DEVADATTA GÂY TỘI ÁC
Devadattavatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Yassa accantadussīlyanti imaṃ dhammadesanaṃ satthā veḷuvane viharanto devadattaṃ ārabbha kathesi.
Ekasmiñhi divase bhikkhū dhammasabhāyaṃ kathaṃ samuṭṭhāpesuṃ – “āvuso, devadatto dussīlo pāpadhammo dussīlyakāraṇena vaḍḍhitāya taṇhāya ajātasattuṃ saṅgaṇhitvā mahantaṃ lābhasakkāraṃ nibbattetvā ajātasattuṃ pituvadhe samādapetvā tena saddhiṃ ekato hutvā nānappakārena tathāgatassa vadhāya parisakkatī”ti. Satthā āgantvā “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā”ti pucchitvā “imāya nāmā”ti vutte “na, bhikkhave, idāneva, pubbepi devadatto nānappakārena mayhaṃ vadhāya parisakkatī”ti vatvā kuruṅgamigajātakādīni (jā. 1.2.111-2) kathetvā, “bhikkhave, accantadussīlapuggalaṃ nāma dussīlyakāraṇā uppannā taṇhā māluvā viya sālaṃ pariyonandhitvā sambhañjamānā nirayādīsu pakkhipatī”ti vatvā imaṃ gāthāmāha –
“Yassa accantadussīlyaṃ, māluvā sālamivotthataṃ;
Karoti so tathattānaṃ, yathā naṃ icchatī diso”ti.
Tattha accantadussīlyanti ekantadussīlabhāvo. Gihī vā jātito paṭṭhāya dasa akusalakammapathe karonto, pabbajito vā upasampannadivasato paṭṭhāya garukāpattiṃ āpajjamāno accantadussīlo nāma. Idha pana yo dvīsu tīsu attabhāvesu dussīlo, etassa gatiyā āgataṃ dussīlabhāvaṃ sandhāyetaṃ vuttaṃ. Dussīlabhāvoti cettha dussīlassa cha dvārāni nissāya uppannā taṇhā veditabbā. Māluvā sālamivotthatanti yassa puggalassa taṃ taṇhāsaṅkhātaṃ dussīlyaṃ yathā nāma māluvā sālaṃ ottharantī deve vassante pattehi udakaṃ sampaṭicchitvā sambhañjanavasena sabbatthakameva pariyonandhati, evaṃ attabhāvaṃ otthataṃ pariyonandhitvā ṭhitaṃ. So māluvāya sambhañjitvā bhūmiyaṃ pātiyamāno rukkho viya tāya dussīlyasaṅkhātāya taṇhāya sambhañjitvā apāyesu pātiyamāno, yathā naṃ anatthakāmo diso icchati, tathā attānaṃ karoti nāmāti attho.
Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.
Devadattavatthu chaṭṭhaṃ.
XII. 6. Devadatta seeks to slay the Tathāgata
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
162. He whose wickedness has passed all bounds...
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Veḷuvana with reference to Devadatta.
For on a certain day the monks began a discussion in the Hall of Truth: “Brethren, Devadatta, whose habit is wickedness, whose nature is evil, as evil desire waxed strong in him, solely because of his wicked nature, wormed himself into the favor of Ajātasattu, bestowed rich gain and high honor upon him, incited him to the murder of his father, and afterwards, conspiring with him, went about seeking by some means or other to slay the Tathāgata.”
At that moment the Teacher drew near and asked them, “Monks, what are you discussing now as you sit here all gathered together?” When they told him, he said, “Monks, this is not the first time Devadatta has gone about seeking by some means or other to slay me; he did the same thing in a previous state of existence also.” So saying, he related the Kuruṅga Miga and other Jātakas. Then he said, “Monks, when a man allows his wickedness to pass beyond all bounds, the evil desire which springs up because of his wickedness, like a creeper which wraps itself about a Sāl-tree and finally crushes it, flings him forth to Hell or to one of the other states of suffering.” So saying, he pronounced the following Stanza,
162. He whose wickedness has passed all bounds, even as a creeper overspreads a Sāl-tree,
Makes himself that which his enemy would wish him to be.
- Cf. story i. 12 6. Text: N iii. 152-153.
- Ed. note: Jātaka 206, Devadatta was a hunter who sought to kill the Bodhisatta in a life as an antelope.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.