Tích Con Gái Ma Vương
Māradhītaravatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 179–180 Kinh Pháp Cú, phẩm Phật, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 179-180 )
179. “Yassa jitaṃ nāvajīyati,
Jitaṃ yassa, no yāti koci loke.
Taṃ buddhamanantagocaraṃ,
Apadaṃ kena padena nessatha.”
“Vị chiến thắng không bại,
Vị bước đi trên đời,
Không dấu tích chiến thắng,
Phật giới rộng mênh mông,
Ai dùng chân theo dõi
Bậc không để dấu tích?”
180. “Yassa jālinī visattikā,
Taṇhā natthi kuhiñci netave;
Taṃ buddhamanantagocaraṃ,
Apadaṃ kena padena nessatha.”
“Ai giải tỏa lưới tham,
Ái phược hết dắt dẫn,
Phật giới rộng mênh mông,
Ai dùng chân theo dõi
Bậc không để dấu tích?”
(Ngài HT Minh Châu)
Kệ Pháp Cú nầy Đức Thế Tôn thuyết lên khi Ngài vừa chứng ngộ Đạo Quả, Ngài ngồi dưới cội Bồ Đề, đề cập đến ba nàng Ma nữ là con gái của Ma Vương.
Được biết rằng: Trong kinh thành xứ Kuru, có Bà la môn tên là Māgandiyā. Ông có được một nàng con gái xinh đẹp, tên là Māgandiyā, với sắc đẹp kiêu sa lộng lẫy của nàng, rất nhiều Vương Tôn Công Tử, đã cho người đến cầu hôn nàng, nhưng Bà la môn Māgandiyā khước từ tất cả, với lời nói rằng:
- Các vị không xứng đáng với nhan sắc xinh đẹp của con gái tôi.
Một hôm, theo phong tục của Bà la môn, Māgandiyā đi đến đền thờ thần của mình. Bây giờ, theo thông lệ của chư Phật, vào khi trời hửng sáng, Đức Thế Tôn dùng Phật Tụê quán sát thế gian, nhìn thấy hình ảnh Bà la môn Māgandiyā trong Phật trí. Ngài quán xét: “Đây là do nhân nào?”. Ngài thấy được duyên lành quả vị A La Hán của hai vợ chồng Māgandiyā.
Khi trời sáng, Đúc Thế Tôn vận mặc y phục, tay cầm y bát ngự đến đền thờ thần lửa để tế độ vợ chồng Bà la môn Māgandiyā.
Bấy giờ, khi Bà la môn Māgandiyā vừa đến đền thờ thần lửa, ông nhìn thấy Phật tướng trang nghiêm, vô cùng xinh đẹp của với 32 Đại Nhân tướng hiển lộ, ông khởi lên sự suy nghĩ rằng:
- Trong thế gian, ta chưa từng thấy được ai có sắc diện thanh tú xinh đẹp như vị Sa môn nầy. Vị nầy quả thật xứng đáng với sắc đẹp diễm kiều của con gái ta.Vậy ta hãy gã con gái của ta cho vị ấy vậy.
Thế rồi, ông Māgandiyā đi đến gần Đức Thế Tôn, nói rằng:
- Thưa ông Sa môn xinh đẹp, tôi có được đứa con gái, tên là Māgandiyā, nó rất tuyệt mỹ, rất xứng đáng làm vợ Ngài. Tôi sẽ gã nó cho Ngài để nó được phụng sự Ngài. Ngài hãy đợi tôi nơi nầy, tôi sẽ dẫn nó đến nơi nầy.
Nghe y nói như thế, Bậc Đạo Sư không tán thán cũng không ngăn cản. Bà la môn Māgandiyā trở về nhà với vợ rằng:
- Nầy Bà ơi! Nay tôi trông thấy một người rất xứng đáng với con gái của mình. Chúng ta sẽ gã Māgandiyā cho người ấy.
Vợ chồng Bà la môn Māgandiyā bảo rằng: Māgandiyā trang điểm cực kỳ diễm lệ, rồi cùng nhau đi đến nơi ngự của Đức Đạo Sư, đại chúng hiếu kỳ cũng rũ nhau đến xem người mà Māgandiyā vừa tán tụng.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn không đứng tại nơi ấy, Ngài để lại dấu chân để tế độ hai ông bà Bà la môn, rồi đi đến một nơi gần đó không xa mấy. Tương truyền rằng: Dấu chân chư Phật chỉ xuất hiện nơi mà Ngài chú nguyện rằng: “Người nầy hãy nhìn thấy dấu chân Như Lai tại nơi nầy”. Rồi Ngài đạp xuống sẽ lưu lại dấu chân, ngoài ra thì không hề lưu lại dấu chân Phật.
Khi hai vợ chồng Māgandiyā đi đến, không thấy Bậc Đạo Sư, người vợ hỏi chồng rằng:
- Nầy ông, người ấy đâu rồi?
- Tôi có dặn rằng: Ông hãy đứng chờ đợi nơi đây mà.
Bà la môn Māgandiyā nhìn quanh quất, chợt ông nhìn thấy dấu chân được lưu lại của Đức Thế Tôn, nên rao lên rằng:
- Đây rồi, dấu chân nầy của y, y đã để dấu lại cho chúng ta đây.
Vợ Māgandiyā là người tinh tường về khoa chiêm tướng, quan sát dấu chân Phật rồi, bà nói với chồng rằng:
- Ông ơi! Việc mà ông định gã Māgandiyā cho người nầy, không có được đâu, vì đây là dấu chân của người không còn thọ hưởng dục.
- Nầy bà, sự hiểu biết về khoa chiêm tướng của bà, ví như cá lội trong lu nước mà thôi. Chính tôi đã nói với vị Sa môn ấy rằng: Tôi sẽ đem con gái mình mà gã đến Ngài. Vị ấy đã im lặng nhận lời rồi kia mà.
- Thưa ông! Tuy ông đã nói như thế, nhưng đây chính là dấu chân của Bậc đã đoạn lìa phiền não rồi.
Bà ngâm tiếp kệ ngôn rằng:
“Người ái dục với nhiều phiền não thì dấu chân lõm vào giữa. Người nhiều sân hận thì dấu chân nặng về gót. Người tham ái thì dấu chân thiên nặng về đầu ngón chân. Người có bàn chân bằng phẳng như thế nầy, là người đã chấm dứt phiền não rồi”
- Thôi bà đi, bà chớ có ồn ào như thế. Chúng ta sẽ tìm thấy vị Sa môn xinh đẹp kia thôi.
Hai vợ chồng Bà la môn Māgandiyā đi tìm, thấy được Bậc Đạo Sư ông liền chỉ cho vợ thấy rằng:
- Nầy bà, đây chính là vị Sa môn mà tôi đã nói đấy.
Ông đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn xong rồi, thưa rằng:
- Thưa vị Đại Sa môn! Tôi sẽ gã con gái chúng tôi cho Ngài. Đây là con gái tôi, có tên là Māgandiyā.
Khi ấy, Đấng Như Lai không nói rằng: “Như Lai đâu có cần đến con gái ngươi”. Ngài lại phán dạy Bà la môn ấy như vậy:
- Nầy ông Bà la môn! Như Lai sẽ nói với ông điều như vầy, ông có chịu nghe chăng?”
- Vâng, thưa ông Đại Sa môn.
Đức Thế Tôn liền thuật lại câu chuyện từ khi Ngài rời Hoàng Cung Kapilavatthu ra đi tìm đạo giải thoát, cho đến khi Ngài thắng phục được Ma nữ, tóm tắt câu chuyện như sau:
“Đức Đại Bồ Tát từ bỏ Vương vị, lên ngựa Kanthaka có chàng hầu cận trung tín là Channa làm bạn đồng hành, Ngài ra đi xuất gia tìm đạo giải thoát khổ. Bấy giờ, Ma Vương đứng tại cổng Hoàng Thành khuyến dụ Đấng Đại Hùng rằng:”
- Nầy Siddhattha! Ngươi hãy quay trở lại đi, kể từ hôm nay trở đi, sau 7 ngày nữa ngươi sẽ là vị Vua Chuyển Luân Vương, những Bảo vật của Đức Vua Chuyển Luân như Thiên báu luân, Tượng báu, Mã báu, Ngọc báu, Nữ báu, Cư sĩ báu và Tướng quân báu sẽ xuất hiện cho ngươi đây.
- Nầy Ma Vương! Ta cũng vẫn rõ biết sẽ có những báu vật ấy, nhưng ta có cần chi những báu vật ấy. Ta cần đạo giải thoát mà thôi.
- Nếu vậy, ngươi ra đi xuất gia như thế, có ích lợi gì cho ngươi?
- Ta xuất gia để trở thành bậc Toàn Giác Vô Thượng, nhằm cứu vớt chúng sanh khỏi khổ.
- Nếu vậy, từ hôm nay trở đi, ta sẽ theo dõi ngươi. Nếu ngươi khởi lên tầm cầu một trong ba loại tầm cầu như dục tầm… Ta sẽ có cách đối phó với ngươi vậy.
Kể từ hôm ấy, Ma Vương luôn theo dõi tâm Bồ Tát để tìm sơ hở của Ngài, hòng bắt lỗi Đấng Đại Hùng. Trọn cả 6 năm dài như thế, y không thể tìm được lỗi lầm dù chỉ là chút ít của Ngài. Sau 6 năm tinh cần khổ hạnh, Ngài đã ép xác quá mức trong trong khổ hạnh, nhưng không thể chứng đạt Đạo Quả Giải thoát. Thế rồi, nhân nghe được tiếng thiên cầm ba dây: Căng quá dây đàn sẽ đứt, chùn quá thì âm thanh không thể du dương đúng điệu hòa âm thù diệu hòa hợp với nhau. Ngài từ bỏ hai cực đoạn là khổ hạnh và lợi dưỡng, thực hành theo Trung đạo.
Dưới cội Bồ Đề, sau khi chiến thắng Ma Vương cùng binh tướng, trong đêm rằm tháng Vesak, Ngày chứng đạt Vô Thượng Chánh Đẳng Giác quả vị. Ngồi dưới cội Bồ Đề an hưởng hạnh phúc giải thoát.
Vào tuần lễ thứ năm, Ngài ngự đến cội cây Ajapālanigrodha, khi ấy Ma Vương đang sầu khổ ngồi ven đường, vạch lên 16 vạch so sánh sự thua kém của mình với Đức Đại Giác. Ma Vương suy nghĩ:
- Bấy lâu nay, ta hằng theo dõi Siddhattha để tìm lỗi y, nhưng không tìm được lỗi lầm nào cả. Nay y đã thoát ra khỏi quyền lực của ta rồi.
Bấy giờ, ba nàng Thiên Nữ là con gái của Ma Vương, thấy vắng cha, các cô tìm gặp Ma Vương, suy nghĩ rằng:
- Vương Phụ của Ta đang trú nơi nào nhỉ?
Ba Thiên Nữ thấy cha mình đang ngồi bên vệ đường, đi đến bạch hỏi rằng:
“Thưa cha! Vì sao cha lại sầu não như thế?”
Ma Vương tường thuật lại câu chuyện cho ba nàng Thiên Nữ ấy nghe. Các nàng nói với Ma Vương rằng:
- Thưa cha! Cha chớ nên sầu não nữa, chúng con sẽ làm cho Siddhattha ở trong quyền lực của chúng con, rồi sẽ dẫn về cho cha.
- Nầy các con! Không một ai trong thế gian nầy còn có thể làm cho vị ấy rơi vào quyền lực được nữa đâu.
- Thưa cha! Chúng con là nữ nhân, chúng con sẽ quyến rũ y rơi vào cạm bẫy ái dục, luyến ái… Rồi chúng con sẽ dẫn y về cho cha. Xin cha đừng bận lòng, khi cha có được các người con đầy quyền lực như chúng con.
Ba nàng Thiên Nữ ấy có tên là Tanha, Aratī và Hāgā. Sau khi từ giả Ma Vương, ba nàng đi đến cội cây Ajapalanigrodha, đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi thưa rằng:
- Kính bạch Bậc Đại Sĩ! Chúng em sẽ phục vụ Ngài.
Đức Thế Tôn lặng yên, nhắm mắt, Ngài chẳng màng đoái hoài gì đến các Thiên Ma Nữ ấy. Các Ma nữ suy nghĩ: “Nam nhân thường có sự yêu thích sai biệt, một số ái luyến những nữ nhân mới lớn, một số thì thương yêu những góa phụ một con, trung niên, còn số khác thì ưa chuộng những sương phụ lớn tuổi. Thế thì, chúng ta sẽ quyến rũ y bằng nhiều hình tướng nữ nhân, bằng nhiều cách khêu gợi dục cảm nơi y”.
Ba nàng Thiên Ma nữ ấy hóa thân thành hàng ngàng cách, từ những thiếu nữ còn xuân, sương phụ một con, hai con, cho đến hạng tuổi trung niên… đi đến yết kiến Đức Thế Tôn, thưa rằng:
- Kính thưa bậc Đại Sĩ! Chúng tôi đến phục vụ Ngài đây.
Cả sáu lần như thế, nhưng Đức Thế Tôn chẳng màng đến lời của ba Thiên Nữ, tâm Ngài đang hướng đến pháp tận diệt mọi phiền não ái vi tế tiềm hiện. Rồi Ngài phán với các Ma Nữ rằng:
- Các ngươi hãy đi đi, các ngươi tìm được lợi ích gì mà cố gắng làm như thế chứ. Việc làm của các ngươi chỉ có thể quyến rũ được người còn ái dục thôi. Như Lai đã tận diệt mọi tham ái phiền não rồi. Các ngươi mong Như Lai rơi vào quyền lực của các ngươi do nhân nào được chứ.
Rồi Ngài thuyết lên kệ ngôn rằng:
179. “Yassa jitaṃ nāvajīyati,
Jitaṃ yassa, no yāti koci loke.
Taṃ buddhamanantagocaraṃ,
Apadaṃ kena padena nessatha.”
“Vị chiến thắng không bại,
Vị bước đi trên đời,
Không dấu tích chiến thắng,
Phật giới rộng mênh mông,
Ai dùng chân theo dõi
Bậc không để dấu tích?”
180. “Yassa jālinī visattikā,
Taṇhā natthi kuhiñci netave;
Taṃ buddhamanantagocaraṃ,
Apadaṃ kena padena nessatha.”
“Ai giải tỏa lưới tham,
Ái phược hết dắt dẫn,
Phật giới rộng mênh mông,
Ai dùng chân theo dõi
Bậc không để dấu tích?” (Ngài HT Minh Châu)
179. Người mà cuộc chinh phục (dục vọng) không thể thất bại trên thế gian nầy, không (dục vọng nào) đã bị khắc phục còn theo người ấy. Oai lực của vị Phật không dấu vết ấy thật vô cùng tận. Ngươi sẽ dẫn dắt Ngài bằng đường lối nào?
180. Người không còn bị ái dục, hỗn tạp và rối ren dẫn dắt đến kiếp sống nào. Oai lực của vị Phật không dấu vết ấy thực vô cùng tận. Ngươi sẽ dẫn dắt Ngài bằng đường lối nào?
CHÚ GIẢI:
Yassa jitaṃ nāvajīyati: Nghĩa là bản chất phiền não như ái…mà Đức Chánh Đẳng Giác đã chinh phục bằng Đạo Tuệ rồi, Ngài không còn trở lui lại, tức là đã chinh phục rồi thì không còn điều ác nào khởi lên được do nương vào phóng dật.
No yāti (tách thành: No + uyyàti) là không theo đuổi.
Giải rằng: Các phiền não như ái… dù là chút ít trong đời, cũng không hề có được ở phía sau, tức là phiền não mà bậc Chánh Đẳng Giác đã diệt trừ rồi, sẽ không còn được bậc ấy theo đuổi nữa.
Anantagocaraṃ: Nghĩa là bậc có cảnh giới vô tận bằng khả năng của bậc Toàn Giác, có cảnh giới vô tận.
Hai câu: Kena padena…nghĩa là: Các dấu vết như ái… dù chỉ là chút ít cũng không hề có đối với vị Chánh Đẳng Giác. Các ngươi sẽ dùng dấu vết gì để quyến rũ vị ấy được?
Phân tích kệ ngôn thứ hai: Gọi là ái, tức là jālinī (lưới dệt) vì nhận thấy rằng: Ái được so sánh như tấm lưới, bởi ý nghĩa bao trùm, cột, trói chặt. Gọi là Visattikā vì có đặc tánh là thường dẫn đi trong các cảnh như sắc, thinh, vị, hương…Được so sánh như vật thực độc, như hoa độc, như trái cây độc, như vật dụng tẩm chất độc.
Giải rằng: ái như thế không thể có đối với vị Phật, để có thể đưa Ngài đi vào cảnh giới nào khác được cả. Các ngươi sẽ dùng dấu vết, vết tích nào đối với vị Phật ấy được?
Dứt kệ ngôn, nhiều vị Chư Thiên giác ngộ Pháp nhãn. Ba nàng Thiên Ma Nữ biến mất tại chỗ.
Sau khi thuyết lên Pháp thoại nầy xong, Bậc Đạo Sư phán dạy Bà la môn Māgandiyā rằng:
- Nầy Māgandiyā! Thời trước Như Lai đã trông thấy thân của Ba Ma Nữ như vàng rồng tinh anh sáng ngời, không có sự uế nhiễm như mật, đàm, mủ… dù là như thế, trong thời ấy Như Lai cũng không hề có sự thỏa thích trong dâm pháp, huống hồ chi thân xác của con người đầy dẫy 32 thể trược, như túi da chứa đựng những trược chất phân, nước tiểu…được trang điểm xinh đẹp bên ngoài. Con người dù có nằm trước ngưỡng cửa, chân Ta dù có bẩn chăng nữa, Ta cũng không hề có ý muốn dẫm chân lên, đụng vào người của nàng ấy.
Nói rồi, Ngài thuyết lên kệ ngôn:
“Sự thỏa thích trong dâm pháp không hề có, cho dù đó là nàng Tanhā, nàng Aratī, nàng Rāgā. Còn xác thân con ngươi chứa đựng đầy phân và nước tiểu. Làm thế nào ta có sự thỏa thích trong dâm pháp được. Thậm chí chân của ta còn chẳng hề muốn đụng vào thân nàng ta nữa là.”
Dứt kệ ngôn, hai ông bà Māgandiyā đắc quả A Na Hàm.
Vào thất thứ năm, đức Phật đà,
Đang ngồi tịnh tọa gốc cây đa,
Bổng nhiên ma nữ, ba nàng, đến,
Quyết bắt Ngài về nạp mạng cha.
Không ngờ ái dục Phật trừ rồi,
Nữ sắc đâu còn sức cuốn lôi,
Ma quái chỉ toàn là ảo ảnh,
Đàn bà cũng xác chưa tanh hôi!
Nghe pháp, vợ chồng đắc Bất lai,
Nhưng cô gái đẹp bị chê bai,
Tức mình, từ đó sanh thù hận
Sau gặp dịp thuê kẻ mắng Ngài.
DỨT TÍCH CON GÁI MA VƯƠNG
Māradhītaravatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Yassa jitanti imaṃ dhammadesanaṃ satthā bodhimaṇḍe viharanto māradhītaro ārabbha kathesi. Desanaṃ pana sāvatthiyaṃ samuṭṭhāpetvā puna kururaṭṭhe māgaṇḍiyabrāhmaṇassa kathesi.
Kururaṭṭhe kira māgaṇḍiyabrāhmaṇassa dhītā māgaṇḍiyāyeva nāma ahosi uttamarūpadharā. Taṃ patthayamānā anekabrāhmaṇamahāsālā ceva khattiyamahāsālā ca “dhītaraṃ no detū”ti māgaṇḍiyassa pahiṇiṃsu. Sopi “na tumhe mayhaṃ dhītu anucchavikā”ti sabbe paṭikkhipateva. Athekadivasaṃ satthā paccūsasamaye lokaṃ volokento attano ñāṇajālassa anto paviṭṭhaṃ māgaṇḍiyabrāhmaṇaṃ disvā “kiṃ nu kho bhavissatī”ti upadhārento brāhmaṇassa ca brāhmaṇiyā ca tiṇṇaṃ maggaphalānaṃ upanissayaṃ addasa. Brāhmaṇopi bahigāme nibaddhaṃ aggiṃ paricarati. Satthā pātova pattacīvaramādāya taṃ ṭhānaṃ agamāsi. Brāhmaṇo satthu rūpasiriṃ olokento “imasmiṃ loke iminā sadiso puriso nāma natthi, ayaṃ mayhaṃ dhītu anucchaviko, imassa me dhītaraṃ dassāmā”ti cintetvā satthāraṃ āha – “samaṇa, mama ekā dhītā atthi, ahaṃ tassā anucchavikaṃ purisaṃ apassanto taṃ na kassaci adāsiṃ, tvaṃ panassā anucchaviko, ahaṃ te dhītaraṃ pādaparicārikaṃ katvā dātukāmo, yāva naṃ ānemi, tāva idheva tiṭṭhāhī”ti. Satthā tassa kathaṃ sutvā neva abhinandi, na paṭikkosi.
Brāhmaṇopi gehaṃ gantvā brāhmaṇiṃ āha – “bhoti, ajja me dhītu anucchaviko puriso diṭṭho, tassa naṃ dassāmā”ti dhītaraṃ alaṅkārāpetvā ādāya brāhmaṇiyā saddhiṃ taṃ ṭhānaṃ agamāsi. Mahājanopi kutūhalajāto nikkhami. Satthā brāhmaṇena vuttaṭṭhāne aṭṭhatvā tattha padacetiyaṃ dassetvā aññasmiṃ ṭhāne aṭṭhāsi. Buddhānaṃ kira padacetiyaṃ “idaṃ asuko nāma passatū”ti adhiṭṭhahitvā akkantaṭṭhāneyeva paññāyati, sesaṭṭhāne taṃ passanto nāma natthi. Brāhmaṇo attanā saddhiṃ gacchamānāya brāhmaṇiyā “kahaṃ so”ti puṭṭho “imasmiṃ ṭhāne tiṭṭhāhīti taṃ avaca”nti olokento padavalañjaṃ disvā “idamassa pada”nti dassesi. Sā lakkhaṇamantakusalatāya “na idaṃ, brāhmaṇa, kāmabhogino pada”nti vatvā brāhmaṇena, “bhoti, tvaṃ udakapātimhi susumāraṃ passasi, mayā so samaṇo diṭṭho ‘dhītaraṃ te dassāmī’ti vutto, tenāpi adhivāsita”nti vutte, “brāhmaṇa, kiñcāpi tvaṃ evaṃ vadesi, idaṃ pana nikkilesasseva pada”nti vatvā imaṃ gāthamāha –
“Rattassa hi ukkuṭikaṃ padaṃ bhave,
Duṭṭhassa hoti sahasānupīḷitaṃ;
Mūḷhassa hoti avakaḍḍhitaṃ padaṃ,
Vivaṭṭacchadassa idamīdisaṃ pada”nti. (visuddhi. 1.45; a. ni. aṭṭha. 1.1.260-261; dha. pa. aṭṭha. 1.sāmāvatīvatthu);
Atha naṃ brāhmaṇo, “bhoti, mā viravi, tuṇhībhūtāva ehī”ti gacchanto satthāraṃ disvā “ayaṃ so puriso”ti tassā dassetvā satthāraṃ upasaṅkamitvā, “samaṇa, dhītaraṃ te dassāmī”ti āha. Satthā “na me tava dhītāya attho”ti avatvā, “brāhmaṇa, ekaṃ te kāraṇaṃ kathessāmi, suṇissasī”ti vatvā “kathehi, bho samaṇa, suṇissāmī”ti vutte abhinikkhamanato paṭṭhāya atītaṃ āharitvā dassesi.
Tatrāyaṃ saṅkhepakathā – mahāsatto rajjasiriṃ pahāya kaṇṭakaṃ āruyha channasahāyo abhinikkhamanto nagaradvāre ṭhitena mārena “siddhattha, nivatta, ito te sattame divase cakkaratanaṃ pātubhavissatī”ti vutte, “ahametaṃ, māra, jānāmi, na me tenattho”ti āha. Atha kimatthāya nikkhamasīti? Sabbaññutaññāṇatthāyāti. “Tena hi sace ajjato paṭṭhāya kāmavitakkādīnaṃ ekampi vitakkaṃ vitakkessasi, jānissāmi te kattabba”nti āha. So tato paṭṭhāya otārāpekkho satta vassāni mahāsattaṃ anubandhi.
Satthāpi chabbassāni dukkarakārikaṃ caritvā paccattapurisakāraṃ nissāya bodhimūle sabbaññutaññāṇaṃ paṭivijjhitvā vimuttisukhaṃ paṭisaṃvedayamāno pañcamasattāhe ajapālanigrodhamūle nisīdi. Tasmiṃ samaye māro “ahaṃ ettakaṃ kālaṃ anubandhitvā otārāpekkhopi imassa kiñci khalitaṃ nāddasaṃ, atikkanto idāni esa mama visaya”nti domanassappatto mahāmagge nisīdi. Athassa taṇhā aratī ragāti imā tisso dhītaro “pitā no na paññāyati, kahaṃ nu kho etarahī”ti olokayamānā taṃ tathā nisinnaṃ disvā upasaṅkamitvā “kasmā, tāta, dukkhī dummanosī”ti pucchiṃsu. So tāsaṃ tamatthaṃ ārocesi. Atha naṃ tā āhaṃsu – “tāta, mā cintayi, mayaṃ taṃ attano vase katvā ānessāmā”ti. “Na sakkā ammā, esa kenaci vase kātunti. “Tāta, mayaṃ itthiyo nāma idāneva naṃ rāgapāsādīhi bandhitvā ānessāma, tumhe mā cintayitthā”ti satthāraṃ upasaṅkamitvā “pāde te, samaṇa, paricāremā”ti āhaṃsu. Satthā neva tāsaṃ vacanaṃ manasākāsi, na akkhīni ummīletvā olokesi.
Puna māradhītaro “uccāvacā kho purisānaṃ adhippāyā, kesañci kumārikāsu pemaṃ hoti, kesañci paṭhamavaye ṭhitāsu, kesañci majjhimavaye ṭhitāsu, kesañci pacchimavaye ṭhitāsu, nānappakārehi taṃ palobhessāmā”ti ekekā kumārikavaṇṇādivasena sataṃ sataṃ attabhāve abhinimminitvā kumāriyo, avijātā, sakiṃ vijātā, duvijātā, majjhimitthiyo, mahallakitthiyo ca hutvā chakkhattuṃ bhagavantaṃ upasaṅkamitvā “pāde te, samaṇa, paricāremā”ti āhaṃsu. Tampi bhagavā na manasākāsi yathā taṃ anuttare upadhisaṅkhaye vimuttoti. Atha satthā ettakenapi tā anugacchantiyo “apetha, kiṃ disvā evaṃ vāyamatha, evarūpaṃ nāma vītarāgānaṃ purato kātuṃ na vaṭṭati. Tathāgatassa pana rāgādayo pahīnā. Kena taṃ kāraṇena attano vasaṃ nessathā”ti vatvā imā gāthā abhāsi –
“Yassa jitaṃ nāvajīyati,
Jitaṃ yassa noyāti koci loke;
Taṃ buddhamanantagocaraṃ,
Apadaṃ kena padena nessatha.
“Yassa jālinī visattikā,
Taṇhā natthi kuhiñci netave;
Taṃ buddhamanantagocaraṃ,
Apadaṃ kena padena nessathā”ti.
Tattha yassa jitaṃ nāvajīyatīti yassa sammāsambuddhassa tena tena maggena jitaṃ rāgādikilesajātaṃ puna asamudācaraṇato nāvajīyati, dujjitaṃ nāma na hoti. Noyātīti na uyyāti, yassa jitaṃ kilesajātaṃ rāgādīsu koci eko kilesopi loke pacchato vattī nāma na hoti, nānubandhatīti attho. Anantagocaranti anantārammaṇassa sabbaññutaññāṇassa vasena apariyanta gocaraṃ. Kena padenāti yassa hi rāgapadādīsu ekapadampi atthi, taṃ tumhe tena padena nessatha. Buddhassa pana ekapadampi natthi, taṃ apadaṃ buddhaṃ tumhe kena padena nessatha.
Dutiyagāthāya taṇhā nāmesā saṃsibbitapariyonandhanaṭṭhena jālamassā atthītipi jālakārikātipi jālūpamātipi jālinī. Rūpādīsu ārammaṇesu visattatāya visattamanatāya visāharatāya visapupphatāya visaphalatāya visaparibhogatāya visattikā. Sā evarūpā taṇhā yassa kuhiñci bhave netuṃ natthi, taṃ tumhe apadaṃ buddhaṃ kena padena nessathāti attho.
Desanāvasāne bahūnaṃ devatānaṃ dhammābhisamayo ahosi. Māradhītaropi tattheva antaradhāyiṃsu.
Satthā imaṃ dhammadesanaṃ āharitvā, “māgaṇḍiya, ahaṃ pubbe imā tisso māradhītaro addasaṃ semhādīhi apalibuddhena suvaṇṇakkhandhasadisena attabhāvena samannāgatā, tadāpi methunasmiṃ chando nāhosiyeva. Tava dhītu sarīraṃ dvattiṃsākārakuṇapaparipūraṃ bahivicitto viya asucighaṭo. Sace hi mama pādo asucimakkhito bhaveyya, ayañca ummāraṭṭhāne tiṭṭheyya, tathāpissā sarīre ahaṃ pāde na phuseyya”nti vatvā imaṃ gāthamāha –
“Disvāna taṇhaṃ aratiṃ ragañca,
Nāhosi chando api methunasmiṃ;
Kimevidaṃ muttakarīsapuṇṇaṃ,
Pādāpi naṃ samphusituṃ na icche”ti. (su. ni. 841; mahāni. 70);
Desanāvasāne ubhopi jayampatikā anāgāmiphale patiṭṭhahiṃsūti.
Māradhītaravatthu paṭhamaṃ.
XIV. 1. The Buddha has naught to do with Women
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
179. There is one whose victory cannot be turned to defeat,
Unto victory over whom no one in the world can attain,
The Buddha, unlimited in power, the trackless.
By what track can you lead him?
180. There is one in whom there is no Craving,
With its snares and poisons, to lead him whithersoever,
The Buddha, unlimited in power, the trackless.
By what track can you lead him?
This religious instruction, originally given by the Teacher while upon the Throne of Enlightenment with reference to the daughters of Māra, was repeated in the kingdom of the Kurus to the Brahman Māgandiya.
1 a. The Buddha spurns the maiden Māgandiyā
The story goes that a Brahman named Māgandiya, dwelling in the kingdom of the Kurus, had a daughter likewise named Māgandiyā, who possessed surpassing beauty. Many men of wealth and social position, both Brahmans and Khattiyas, desired her to wife and sent word to Māgandiya, saying, “Give us your daughter.” But he refused them all alike, saying, “You are not good enough for my daughter.”
Now one day, as the Teacher surveyed the world at early dawn, he perceived that Māgandiya had entered the Net of his Knowledge. Forthwith considering within himself, “What now will happen?” he perceived that both the Brahman and his wife were ripe for the Three Paths and Fruits. Now the Brahman tended the fire regularly every day without the village; accordingly the Teacher took bowl and robe early in the morning and went to that very place. The Brahman surveyed the majestic form of the Teacher and thought to himself, “There is no man in this world comparable to this man; this man is suitable for my daughter; I will give my daughter to this man.” So he said to the Teacher, “Monk, I have a single daughter, and I have looked in vain to find a man suitable to be her husband. I have not given her to any one. But you are suitable for her. I wish to give you my daughter to wife; wait right here until I fetch her.” The Teacher listened to his words, but expressed neither approval nor disapproval.
The Brahman went home and said to his wife, “Wife, to-day I saw a man suited to be the husband of our daughter; let us give her to him.” So the Brahman had his daughter arrayed in her beautiful garments, and taking daughter and wife with him, went to the place where he had talked with the Teacher. A great multitude also, agitated and excited, went forth with them. The Teacher, instead of remaining in the place mentioned by the Brahman, moved away and stood in another place, leaving a footprint where he had stood before. (It is said that when the Buddhas establish a footprint, saying, “Let So-and-so see this footprint,” the footprint appears only in a trodden place and not elsewhere; nowhere else can anyone see it.)
The Brahman’s wife, who accompanied him, asked him, “Where is this man?” The Brahman replied, “I said to him, ‘Remain in this place.’ ” Looking all about, the Brahman saw the footprint and pointed it out to his wife, saying, “This is his footprint.” Now the Brahman’s wife was familiar with the verses relating to signs and immediately said to the Brahman, “Brahman, this is no footprint of one who follows the Five Lusts.” The Brahman replied, “Wife, you are always seeing a crocodile in a drop of water. When I said to that monk, ‘I will give you my daughter,’ he accepted my proposal.” The Brahman’s wife replied, “Brahman, you may say what you like, but this is the footprint only of one who is free from lust.” So saying, she pronounced the following Stanza,
195. In the footprint of a lustful man the instep will not show;
The footprint of a wicked man will be violently pressed down;
Of one infatuate, the footprint will be shuffling.
This is the sort of footprint made by one who has rolled back the Veil of Passion.
Then said the Brahman to his wife, “Wife, do not rattle on thus; come with me in silence.” Advancing a little way, he saw the Teacher, whereupon he pointed him out to his wife and said, “There is the man!” And approaching him, he said to him, “Monk, I will give you my daughter to wife.” The Teacher, instead of saying, “I have no need of your daughter,” said, “Brahman, I have something to say to you; listen to me.” The Brahman replied, “Say it, monk; I will listen.” Thereupon the Teacher related to the Brahman the story of his past life, beginning with the Great Retirement. The following is a synopsis of the story:
1 b. The Buddha spurns the daughters of Māra
The Great Being, having renounced the glory of dominion, mounted Kanthaka, and with Channa for companion, proceeded forth on the Great Retirement. As he approached the gate of the city, Māra, who stood near, said to him, “Siddhattha, return upon your way; seven days hence the magic wheel of a Universal Monarch will be manifested to you.” The Great Being replied, “I too know that, Māra, but I do not desire it.” “Then for what purpose are you going forth on the Great Retirement?” “That I may acquire Omniscience.” “Well then, if from this day forth you think a lustful or malevolent or cruel thought, I shall know what to do in your case.”
And from that time on, Māra pursued the Great Being for seven years, awaiting his opportunity. For six years the Teacher practiced austerities, and when, through his individual effort, he had attained Omniscience at the foot of the Bo-tree, he sat down at the foot of the Goatherd’s Banyan-tree, experiencing the bliss of emancipation. At that time Māra sat down by the highway, overwhelmed with sorrow at the thought, “All this time I have pursued him, seeking my opportunity, but have found no flaw in him; now he has escaped from my power.”
Now Māra’s three daughters. Craving, Discontent, and Lust, said to themselves, “Our father is nowhere to be seen; where can he be now?” Looking all about, they saw him sitting there, whereupon they approached him and asked him, “Dear father, why are you so downcast and depressed?” He told them what was the matter. Then they said to him, “Dear father, be not disturbed; we will bring him under our control and fetch him hither.” “Dear daughters, it is not possible for anyone to bring this man under control.” “Dear father, we are women; we will bind him fast with the fetters of lust; so will we fetch him hither. As for you, be not disturbed.” And approaching the Teacher, they said to him, “Monk, we would be your humble slaves.” The Teacher paid no attention to their words, nor did he so much as open his eyes and look at them.
Said the daughters of Māra again, “Many and various are the tastes of men. Some like maidens, others like women in the prime of life, others like women who have reached middle life, while still others like women who have passed middle life. We will tempt him in various forms.” So one after another, they assumed the forms of women of various ages, creating by supernatural power each a hundred female forms. And in the guise of maidens, women who had not yet given birth to a child, women who had given birth to one child, women who had given birth to two children, women who had reached middle life, and women who had reached old age, they approached the Exalted One six times and said to him, “Monk, we would be your humble slaves.”
But neither did the Exalted One pay any attention to that, but remained free, even as though the elements of being had been utterly destroyed. But when, after that, they did not retire, the Teacher said to them, “Depart; what do you see, that you strive thus? Such actions as these should be performed before those who have not rid themselves of the lusts and other evil passions. The Tathāgata, however, has rid himself of the lusts and other evil passions. Why will ye try to bring me into your control?” So saying, he pronounced the following Stanzas,
179. There is one whose victory cannot be turned to defeat,
Unto victory over whom no one in the world can attain,
The Buddha, unlimited in power, the trackless.
By what track can you lead him?
180. There is one in whom there is no Craving,
With its snares and poisons, to lead him whithersoever,
The Buddha, unlimited in power, the trackless.
By what track can you lead him?
At the conclusion of the lesson many divinities obtained Comprehension of the Law, and the daughters of Māra then and there disappeared.
When the Teacher had completed his religious instruction, he said, “Māgandiya, when long ago I beheld these three daughters of Māra, possessed of bodies comparable to masses of gold, free from phlegm and the other bodily impurities, even then I had no desire for the pleasures of love. But as for your daughter’s body, it is a corpse filled with the thirty-two constituents, an impure vessel, as it were, painted without. Were my foot smeared with filth, and were she to lie on my threshold, I would not touch her even with the sole of my foot.” And when he had thus spoken, he pronounced the following Stanza,
Having seen Craving, Discontent, and Lust,
I had no desire for the pleasures of love.
What is this body, filled with urine and dung?
I should not be willing to touch it, even with my foot.
- With xiv. 1 a cf. ii. 1. 5. The source of this story is Sutta Nipāta, iv. 9, or some derivative thereof, xiv. 1 b is derived from Nidānakathā, Jātaka, i. 7829-7930; translated by Rhys Davids, Buddhist Birth Stories, pp. 107-109. For close parallels to xiv. 1, see Divyāvadāna, xxxvi, Part 1, pp. 515-529; also the Sanskrit fra.gment from Eastern Turkestan described by A. F. R. Hoernle, JRAS., 1916, 709 ff. Text: N iii. 19-199.
- Ed. note: Sn 4.1, vs. 835.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.