Tích Công Tử Kàla
Anāthapiṇḍakaputtakālavatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 178 Kinh Pháp Cú, phẩm Thế Gian, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 178)
“Pathabyā ekarajjena,
Saggassa gamanena vā;
Sabbalokādhipaccena,
Sotāpattiphalaṃ varaṃ.”
“Hơn thống lãnh cõi đất,
Hơn được sanh cõi trờì,
Hơn chủ trì vũ trụ,
Quả Dự Lưu tối thắng.”
(Ngài HT Minh Châu)
Kệ ngôn Pháp Cú nầy được Đức Bổn Sư thuyết lên, khi Ngài ngự tại Jetavana, đề cập đến Công Tử Kāla, là con của Trưởng giả Anāthapindika.
Tương truyền rằng: Trưởng giả Anāthapindika là người viên mãn đức tin trong ân đức Tam Bảo, nhưng con trai ông là Công Tử Kāla lại không có niềm tin nơi Bậc Đạo Sư. Cậu không muốn gần gũi Đức Thế Tôn cũng như không muốn nghe Pháp nơi Ngài. Cậu không hài lòng khi thấy Bậc Đạo Sư ngự đến nhà, không muốn phục vụ Tăng chúng. Mặc dù Trưởng giả Anāthapindika nhiều phen khuyến dụ:
- Nầy Kāla! Con chớ nên như thế, hãy cung kính phục vụ Tăng đi. Nhưng chàng vẫn cứ lơ là, Trưởng giả suy nghĩ:
- Con ta là Kāla nầy, mãi chấp giữ thành kiến sai lạc ấy, nó sẽ rơi vào địa ngục A Tỳ về sau thôi. Ta thấy con mình rơi vào khổ cảnh như thế, lại làm ngơ đi thì đó là điều không phải cho ta. Lẽ thường, chúng sanh là người không hoan hỷ với tài sản, không thỏa thích với tài sản, điều nầy không hề có đâu. Ta sẽ cải huấn lại tư kiến sai lạc của Kāla, cho nó trở lại chánh kiến bằng cách phủ dụ nó bằng tài vật.
Trưởng giả Anāthapindika nói với Công Tử Kāla rằng:
- Nầy con thân! Con hãy thọ trì Trai giới đi, hãy đến Tịnh xá nghe Pháp trọn đêm. Cha sẽ cho con 100 đồng vàng.
- Có thật thế chứ? Thưa cha.
- Nếu con làm được như thế, cha sẽ cho con ngay.
Công Tử Kāla nhận lời, vào ngày Trai giới, chàng đi đến Tịnh Xá, thọ trì trai giới. Nhưng chàng chẳng màng nghe Pháp, chỉ tìm chỗ ngủ cho thỏa thích, thoải mái, rồi khi trời rựng sáng, chàng từ Tịnh xá trở về nhà. Trưởng giả hoan hỷ nói với chàng rằng:
- Con của ta đã thọ trì Giới hạnh trọn cả ngày đêm rồi, các ngươi hãy dọn những vật thực thượng vị cho con ta dùng nhanh đi.
Trưởng giả sai gia nhân dọn vật thực ngon ngọt thượng vị, gọi người mời Công Tử Kāla dùng sáng. Nhưng khi ngồi vào bàn, Công Tử không chịu dùng ngay, mà bảo với cha rằng:
- Thưa cha! Cha hứa cho con 100 đồng vàng, nếu con thọ trì Trai giới và nghe pháp trong Tịnh xá của Đức Thế Tôn. Vậy cha hãy ban thưởng cho con đi.
- Nầy con! Con hãy dùng vật thực đi, cha sẽ cho con ngay món tiền ấy.
- Thưa cha! Nếu chưa được tiền thì con sẽ không dùng vật thực.
Thấy Công Tử kèo nài như thế, Trưởng giả cho mang tiền ra, bảo rằng:
“Nầy Kāla con! Vậy là 100 đồng vàng của con đấy”
Sau khi nhận được tiền rồi, Công Tử mới dùng vật thực. Hôm sau, Trưởng giả bảo với Công Tử rằng:
- Nầy Kāla con! Cha sẽ cho con ngàn đồng vàng, nếu con thuộc được một câu kệ của Đức Thế Tôn thuyết giảng, nếu con nghe Pháp từ nơi chính Ngài.
Công Tử nghe vậy, chàng nhận lời đi đến Tịnh xá Jetavana nghe Pháp với chủ ý rằng: “Ta chỉ cần học thuộc một câu kệ ngôn từ nơi Đức Thế Tôn rồi ta sẽ trở về”. Bậc Đạo Sư quán xét, thấy được duyên lành đạo quả của Kāla đã chín muồi, Ngài liền dùng Phật Lực khiến cho Công Tử thuộc được câu kệ ngôn, khi vừa ra khỏi Tịnh xá thì chàng lại quên ngay. Chàng trở vào lại Tịnh xá nghe Pháp để học thuộc câu kệ ngôn khác, rồi ra về, nhưng khi ra khỏi Tịnh xá thì lại quên mất. Lần thứ ba, chàng quyết tâm rằng:
“Ta sẽ trở lại nghe Pháp, lần nầy ta cố nhớ cho thật kỹ, học thuộc rõ ràng câu Phật Ngôn rồi mới ra về”.
Nhưng chàng đâu có hiểu rằng: Nghe Pháp với tâm như thế gọi là nghe Pháp với sự tôn kính. Lẽ thường sự nghe Pháp với tâm tôn kính, tâm an tịnh như thế sẽ nhận được nhiều lợi ích, là tài sản của Bậc Thánh như Đạo Quả Dự Lưu…
Duyên lành của Kāla đã đến thời rực rỡ, trí tuệ của chàng được Pháp Bảo khai thông, nghe Pháp xong chàng chứng đắc Dự Lưu Quả.
Cháng trú lại Tịnh xá suốt đêm, vào khi trời rạng sáng, chàng cung thỉnh Đức Thế Tôn và chư Tăng đến thọ trai tại nhà của mình.
Trưởng giả Anāthapindika trông thấy con mình trở về từ đằng xa, có Đức Phật và chư Tỳ Khưu ngự đến đang dẫn đầu. Ông vô cùng hoan hỷ, nghĩ rằng:
“Hôm nay con ta đã làm một việc khiến ta rất hài lòng. Cử chỉ con ta hôm nay thật khác hẳn ngày thường.”
Trưởng giả thân hành ra rước bát và cung thỉnh Đức Phật cùng chư Tăng ngự vào chỗ ngồi đã được soạn sẵn. Công Tử thưa với cha rằng:
- Thưa cha! Hôm nay con cung thỉnh Đức Thế Tôn và chư Tăng đến thọ thực tại nhà chúng ta. Xin cha hãy hoan hỷ phước cùng con.
- Lành thay! Lành thay, nầy con.
Nhưng rồi chàng lại có sự hổ thẹn trong tâm rằng:
- Mong rằng cha ta đừng nhắc lại việc cho tiền ta trước mặt Đức Thế Tôn và chư Tăng. Mong cha ta giữ kín việc ta thọ giới Bát Quan chỉ vì 100 đồng vàng, và đi nghe Pháp chỉ vì món tiền 1000 đồng vàng.
Nhưng mọi việc ấy, Đức Thế Tôn đã thấu rõ ngọn ngành. Khi Trưởng giả cúng dường cháo đến Đức Thế Tôn cùng chư Tỳ Khưu xong, ông bảo với Công Tử Kāla rằng:
- Nầy con! Con hãy dùng vật thực sáng đi. Món tiền 1000 đồng đang đặt trên bàn cho con đấy. Cha có hứa với con rằng: Khi con nghe Pháp từ Đức Thế Tôn, thuộc được một câu kệ ngôn của Ngài cha sẽ cho con ngàn đồng vàng. Đây là số tiền đó, nó đã thuộc.
Công Tử Kāla nghe cha nói như thế trước mặt Đức Thế Tôn, chàng hổ thẹn nói rằng:
- Thưa cha, giờ đây con không còn mong được tiền như thế nữa.
Mặc cho Trưởng giả nài ép nhiều lần, chàng cương quyết không nhận ngàn đồng vàng. Ngạc nhiên trước thái độ hy hữu ấy, Trưởng giả bạch với Đức Thế Tôn rằng:
- Bạch Thế Tôn! Hôm nay con rất hài lòng về tư cách của Kāla.
- Nầy Trưởng giả, chuyện chi thế?
- Bạch Thế Tôn! Hôm qua khi Kāla thọ trì giới Bát quan, trọn đêm trú trong Tịnh xá, sáng trở về nhà, nếu chưa nhận được 100 đồng thì không chịu dùng vật thực. Nhưng hôm nay, cả ngàn đồng vàng Kāla lại cương quyết khước từ.
- Thật vậy, nầy Trưởng giả! Hôm nay chính quả vị Dự Lưu mà Kāla chứng đạt được còn cao quí hơn ngôi Vua Chuyển Luân, hơn cả tài sản Chư Thiên, Phạm Thiên sản nữa.
Rồi Ngài nói lên kệ ngôn rằng:
“Pathabyā ekarajjena,
“Hơn thống lãnh cõi đất,
Saggassa gamanena vā; Hơn được sanh cõi trờì,
Sabbalokādhipaccena,
Hơn chủ trì vũ trụ,
Sotāpattiphalaṃ varaṃ.” Quả Dự Lưu tối thắng.”
(Ngài HT Minh Châu)
178. Hơn quyền bá chủ trên quả địa cầu, hơn tài sản nơi Thiên giới, hơn quyền chúa tể của toàn thể vũ trụ, là quả bậc Nhập Lưu.
CHÚ GIẢI:
Pathabyā ekarajjena: Tức là cao quí hơn ngôi Vua Chuyển Luân
Saggassa gamanena vā: Nghĩa là cao quý hơn 26 cõi trời.
Sabbalokādhipaccena: Nghĩa là cao quý hơn sự làm chúa tể trong thế gian, kể cả Long Vương, Kim Sí Điểu Vương…
Sotāpattiphalaṃ varaṃ: Nghĩa là dù cho Đức Vua tối thượng, thọ hưởng nhân sản như thế nào, cũng không thể thoát khỏi địa ngục.
Còn Bậc Tu Đà Hườn sát trừ được ba kiết sử, thì đoạn tận được bốn cảnh khổ. Dù có dễ duôi mấy, bậc Tu Đà Hườn cũng chẳng thọ sanh quá 7 kiếp. Vì thế quả Tu Đà Hườn cao tột hơn tất cả mọi tài sản thế gian nầy.
Dứt Pháp thoại, nhiều người chứng đạt quả như Tu Đà Hườn…
Muốn con thọ giới, phải chgo tiền,
Để dụ con mình tạo phước duyên.
Công tử ham vàng, chăm thính pháp,
Đắc ngay sơ quả, được vui yên,
Từ nay, công tử hết ham vàng
Cha cứ đem cho, thấy ngỡ ngàng!
Tài sản thánh nhân còn qui trọng
Hơn bao sự nghiệp của trần gian!
Phật dạy: làm Vua cõi thượng thiên
Hoặc trên mặt đất nắm Vương quyền
Hoặc làm bá chủ trên tam giới,
Thì cũng không bằng quả tối tiên.
DỨT TÍCH CÔNG TỬ KÀLA
Anāthapiṇḍakaputtakālavatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Pathabyā ekarajjenāti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto kālaṃ nāma anāthapiṇḍikassa puttaṃ ārabbha kathesi.
So kira tathāvidhassa saddhāsampannassa seṭṭhino putto hutvā neva satthu santikaṃ gantuṃ, na gehaṃ āgatakāle daṭṭhuṃ, na dhammaṃ sotuṃ, na saṅghassa veyyāvaccaṃ kātuṃ icchati. Pitarā “mā evaṃ, tāta, karī”ti vuttopi tassa vacanaṃ na suṇāti. Athassa pitā cintesi – “ayaṃ evarūpaṃ diṭṭhiṃ gahetvā vicaranto avīciparāyaṇo bhavissati, na kho panetaṃ patirūpaṃ, yaṃ mayi passante mama putto nirayaṃ gaccheyya. Imasmiṃ kho pana loke dhanadānena abhijjanakasatto nāma natthi, dhanena naṃ bhindissāmī”ti. Atha naṃ āha – “tāta, uposathiko hutvā vihāraṃ gantvā dhammaṃ sutvā ehi, kahāpaṇasataṃ te dassāmī”ti. Dassatha, tātāti. Dassāmi, puttāti. So yāvatatiyaṃ paṭiññaṃ gahetvā uposathiko hutvā vihāraṃ agamāsi. Dhammassavanena panassa kiccaṃ natthi, yathāphāsukaṭṭhāne sayitvā pātova gehaṃ agamāsi. Athassa pitā “putto me uposathiko ahosi, sīghamassa yāguādīni āharathā”ti vatvā dāpesi. So “kahāpaṇe aggahetvā na bhuñjissāmī”ti āhaṭāhaṭaṃ paṭikkhipi. Athassa pitā pīḷaṃ asahanto kahāpaṇabhaṇḍaṃ dāpesi. So taṃ hatthena gahetvāva āhāraṃ paribhuñji.
Atha naṃ punadivase seṭṭhi, “tāta, kahāpaṇasahassaṃ te dassāmi, satthu purato ṭhatvā ekaṃ dhammapadaṃ uggaṇhitvā āgaccheyyāsī”ti pesesi. Sopi vihāraṃ gantvā satthu purato ṭhatvāva ekameva padaṃ uggaṇhitvā palāyitukāmo ahosi. Athassa satthā asallakkhaṇākāraṃ akāsi. So taṃ padaṃ asallakkhetvā uparipadaṃ uggaṇhissāmīti ṭhatvā assosiyeva. Uggaṇhissāmīti suṇantova kira sakkaccaṃ suṇāti nāma. Evañca kira suṇantānaṃ dhammo sotāpattimaggādayo deti. Sopi uggaṇhissāmīti suṇāti, satthāpissa asallakkhaṇākāraṃ karoti. So “uparipadaṃ uggaṇhissāmī”ti ṭhatvā suṇantova sotāpattiphale patiṭṭhāsi.
So punadivase buddhappamukhena bhikkhusaṅghena saddhiṃyeva sāvatthiṃ pāvisi. Mahāseṭṭhi taṃ disvā “ajja mama puttassa ākāro ruccatī”ti cintesi. Tassapi etadahosi – “aho vata me pitā ajja satthu santike kahāpaṇe na dadeyya, kahāpaṇakāraṇā mayhaṃ uposathikabhāvaṃ paṭicchādeyyā”ti. Satthā panassa hiyyova kahāpaṇassa kāraṇā uposathikabhāvaṃ aññāsi. Mahāseṭṭhi, buddhappamukhassa bhikkhusaṅghassa yāguṃ dāpetvā puttassapi dāpesi. So nisīditvā tuṇhībhūtova yāguṃ pivi, khādanīyaṃ khādi, bhattaṃ bhuñji. Mahāseṭṭhi satthu bhattakiccāvasāne puttassa purato sahassabhaṇḍikaṃ ṭhapāpetvā, “tāta, mayā te ‘sahassaṃ dassāmī’ti vatvā uposathaṃ samādāpetvā vihāraṃ pahito. Idaṃ te sahassa”nti āha. So satthu purato kahāpaṇe diyyamāne disvā lajjanto “alaṃ me kahāpaṇehī”ti vatvā, “gaṇha, tātā”ti vuccamānopi na gaṇhi. Athassa pitā satthāraṃ vanditvā, “bhante, ajja me puttassa ākāro ruccatī”ti vatvā “kiṃ, mahāseṭṭhī”ti vutte “mayā esa purimadivase ‘kahāpaṇasataṃ te dassāmī’ti vatvā vihāraṃ pesito. Punadivase kahāpaṇe aggahetvā bhuñjituṃ na icchi, ajja pana diyyamānepi kahāpaṇe na icchatī”ti āha. Satthā “āma, mahāseṭṭhi, ajja tava puttassa cakkavattisampattitopi devalokabrahmalokasampattīhipi sotāpattiphalameva vara”nti vatvā imaṃ gāthamāha –
“Pathabyā ekarajjena, saggassa gamanena vā;
Sabbalokādhipaccena, sotāpattiphalaṃ vara”nti.
Tattha pathabyā ekarajjenāti cakkavattirajjena. Saggassa gamanena vāti chabbīsatividhassa saggassa adhigamanena. Sabbalokādhipaccenāti na ekasmiṃ ettake loke nāgasupaṇṇavemānikapetehi saddhiṃ, sabbasmiṃ loke ādhipaccena. Sotāpattiphalaṃ varanti yasmā ettake ṭhāne rajjaṃ kāretvāpi nirayādīhi amuttova hoti, sotāpanno pana pihitāpāyadvāro hutvā sabbadubbalopi aṭṭhame bhave na nibbattati, tasmā sotāpattiphalameva varaṃ uttamanti attho.
Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.
Anāthapiṇḍakaputtakālavatthu ekādasamaṃ.
Lokavaggavaṇṇanā niṭṭhitā.
Terasamo vaggo.
XIII. 11. Virtue Bought and Paid For
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
178. In comparison with sovereignty over the earth, in comparison with going to heaven,
In comparison with supremacy over all the worlds, the Fruit of Conversion is of supreme excellence.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Kāla, son of Anāthapiṇḍika.
Tradition has it that Kāla, although the son of so distinguished a father, a treasurer endowed with faith, never showed any desire to visit the Teacher, or to see him when he came to his father’s house, or to hear the Law, or to perform services for the Order. Moreover, whenever his father said to him, “Dear son, do not do this,” he paid no attention to what he said. Now his father thought to himself, “If this son of mine adopts such an attitude as this and acts accordingly, the Avīci Hell will be his end. But it would not look well for me if my son went to Hell before my very eyes. Now there is no living being here in the world who may not be broken by gifts; I will therefore break him with gifts.” So he said to his son, “Dear son, take upon yourself the obligations of Fast-day, go to the monastery, listen to the Law, and then return. If you will do so, I will give you a hundred pieces of money.” “You will really give me this, dear father?” “That will I, dear son.”
After his father had repeated his promise three times, Kāla took upon himself the obligations of Fast-day and went to the monastery. But caring not to listen to the Law, he lay down to sleep in a pleasant place and returned home early in the morning. Thereupon his father said, “My son has performed the obligations of Fast-day; bring him rice-porridge and other food straightway.” So saying, his father caused food to be brought and given to him. But Kāla said, “Unless I receive the money, I will not eat.” So saying, he steadfastly refused whatever was brought to him. His father, who could not endure forcing him to eat, ordered that the money be presented to his son. The son took the purse of money into his hands and ate the food that was brought to him.
On the following day the treasurer sent him forth, saying to him, “Dear son, I will give you a thousand pieces of money if you will stand before the Teacher, learn a single verse of the Law, and then return to me.” Accordingly Kāla went to the monastery and took his stand before the Teacher. But no sooner had he mastered a single verse than he desired to run away. The Teacher therefore caused him to misunderstand the true meaning of the verse. Kāla, failing to understand the verse, said to himself, “I will master the following verse.” Therefore, he remained and continued to listen. (Those who listen to the Law with a firm resolution to learn, listen attentively; and to those who thus listen, the Law gives the Fruit of Conversion and the remaining Fruits.) Kāla listened to the Law with a firm resolution to learn; but the Teacher, as before, caused him to misunderstand the true meaning. “I will master the following verse,” said Kāla. So he remained and listened and was established in the Fruit of Conversion.
On the following day he accompanied the Congregation of Monks presided over by the Buddha to Sāvatthi. When the great treasurer saw him, he said to himself, “To-day the demeanor of my son pleases me.” And straightway the following thought occurred to the son, “I hope my father will not give me the money to-day in the presence of the Teacher. I hope he will conceal the fact that it was for the sake of pieces of money that I took upon myself the obligations of Fast-day.” (But the Teacher knew all the same that it was for the sake of pieces of money that Kāla took upon himself the obligations of Fast-day on the preceding day.)
The great treasurer presented rice-porridge to the Congregation of Monks presided over by the Buddha, and then presented the same to his son. Kāla sat down in silence, drank the porridge, ate the hard food, and then ate the boiled rice. When the Teacher had finished his meal, the great treasurer placed the purse containing a thousand pieces of money before his son and said, “Dear son, you will remember that I persuaded you to take upon yourself the obligations of Fast-day and to go to the monastery by promising to give you a thousand pieces of money; here are your thousand pieces of money.” When Kāla saw the thousand pieces of money presented to him in the very presence of the Teacher, he was greatly embarrassed and said, “I care naught for the money.” “Take the money, dear son,” said the father. But the son refused to touch it.
Then his father saluted the Teacher and said, “Reverend Sir, the demeanor of my son to-day pleases me.” “How is that, great treasurer?” “Day before yesterday I sent him to the monastery, saying to him, ‘I will give you a hundred pieces of money.’ Yesterday he refused to eat because I did not give him the money; but to-day, when I give him the money, he refuses to touch it.” The Teacher replied, “It is even so, great treasurer. To-day, in attaining the Fruit of Conversion, your son has attained that which surpasses the attainment of a Universal Monarch, the attainment of the World of the Gods, the attainment of the World of Brahmā.” So saying, he pronounced the following Stanza,
178. In comparison with sovereignty over the earth, in comparison with going to heaven,
In comparison with supremacy over all the worlds, the Fruit of Conversion is of supreme excellence.
- Text: N iii. 189-192.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.