Chú giải Pháp Cú · Kệ 54–55 · Dhp 54–55

Tích Đại Đức Ānanda Vấn Đạo

Ānandattherapañhāvatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 54–55 Kinh Pháp Cú, phẩm Hoa, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 54-55)

54. “Na pupphagando paṭivātam eti,
Na candanaṃ tagaramallikā vā;
Satañ ca gandho paṭivātam eti,
Sabbā disā sappuriso pavāyati.”
“Ngược lại chiều gió thổi,
Hương hoa không bay nổi,
Dầu là Đa già la,
Chiên đàn, Mạt lỵ hoa,
Chỉ có hương Giới đức,
Khắp phương trời bay xa.”

55. “Candanaṃ tagaraṃ vā’pi,
Uppalaṃ atha vassikī;
Etesaṃ gandhajātānaṃ,
Sīlagandho anuttaro.”
“Chiên đàn, Đa già la,
Thanh liên, Vũ quí hoa,
Sánh các hương hoa ấy,
Giới hương vô thượng vậy.”

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư thuyết ra khi Ngài ngự gần thành Sāvatthī, để giải đáp câu hỏi của Đại đức Ānanda.

Tương truyền rằng: Một buổi chiều nọ, Đại đức ngồi nơi thanh vắng, bỗng tự nghĩ rằng Đức Thế Tôn có nói: “Căn hương (thọ), tâm hương và hương hoa là ba thứ hương cao thượng.”. Nhưng ba thứ hương ấy chỉ bay theo chiều gió chớ không có hương nào mà bay ngược gió cả. Không biết có loại hương nào mà bay xuôi gió, bay ngược gió cũng được, hay bay cả hai chiều gió đều được cả chăng?

Rồi Đại đức lại tính thầm: “Ta cần gì suy nghĩ tìm tòi cho mất công, để về hỏi Đức Bổn Sư là hơn.”

Thế rồi, Đại đức về nơi cư ngụ của Đức Bổn Sư và bạch hỏi Ngài. Đoạn nầy trong kinh có ghi chép rằng: Khi ấy trong buổi chiều, Đại đức Ānanda từ chỗ tịnh cư đứng dậy, về gần Đức Thế Tôn. Sau khi đến gần bèn bạch với Đức Thế Tôn :

Bạch Ngài, có ba thứ hương, mà hương của nó chỉ bay thuận theo chiều gió, chớ không bay nghịch chiều gió. Thế nào là ba? Hương của rễ, hương của lõi và hương của hoa là ba giống có hương, mà hương nó chỉ bay thuận theo chiều gió, chớ không bay nghịch chiều gió. Bạch Ngài, chẳng hay có giống hương nào mà hương của nó bay thuận chiều gió, nghịch chiều gió, hay bay thuận và nghịch theo chiều gió được chăng?

Khi ấy, Đức Thế Tôn đáp rằng:

- Nầy Ānanda! Có giống hương mà hương của nó dầu gặp gió xuôi, gió ngược cũng đều bay được cả.

- Bạch Ngài! Thế nào là có giống hương mà hương của nó dầu gặp gió xuôi, gió ngược hay cả gió xuôi gió ngược đều được cả.

- Nầy Ānanda! Ở đây nơi thôn quê hay thành thị nào có một nữ nhân hay nam nhân quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, tránh xa sự sát sanh, tránh xa sự trộm cắp, tránh xa sự tà dâm, tránh xa sự nói dối, tránh xa sự uống rượu và các chất say, là người có Giới đức là người có thiện pháp. Tâm đã dứt bỏ sự bỏn xẻn, sự nhiễm ô. Tuy còn tại gia mà có tâm dứt bỏ, xả thí, thỏa thích trong sự bố thí không nhơ bợn, biết thông cảm đến người xin, hoan hỷ chia sớt vật thí đến tất cả mọi người. Thì từ nơi thôn quê hay thành thị đó, cho đến các phương hướng, chư Sa môn và Bà la môn hằng ca tụng rằng: “Nơi chốn thôn quê hay thành thị nọ, có nữ nhân ấy hoặc nam nhân ấy là người quy y Phật… hoan hỷ chia sớt vật thí đến tất cả mọi người.”. Chư Thiên và nhân loại cũng hằng ca tụng rằng: “Nơi chốn thôn quê hoặc thành thị đó, có nữ nhân ấy, có nam nhân ấy là người quy y Phật… hoan hỷ chia sớt vật thí đến tất cả mọi người.”. Nầy Ānanda, đó là giống hương mà hương của nó bay xuôi chiều gió, bay ngược chiều gió, bay xuôi lẫn ngược chiều gió vậy.

Giải xong, Đức Bổn Sư thuyết lên hai bài kệ:
54. “Na pupphagando paṭivātam eti,
Na candanaṃ tagaramallikā vā;
Satañ ca gandho paṭivātam eti,
Sabbā disā sappuriso pavāyati.”
“Ngược chiều gió, các hương hoa,
Chiên đàn, Mạt lỵ, Già la bặt đường.
Ngược chiều gió chỉ có hương,
Của người Giới đức muôn phương lan tràn.”
55. “Candanaṃ tagaraṃ vā’pi,
Uppalaṃ atha vassikī;
Etesaṃ gandhajātānaṃ,
Sīlagandho anuttaro.”
“Đa già la với Chiên đàn,

Thanh liên, Vũ quí, các hàng hoa vương.
Dầu thơm cho mấy cũng nhường,
Thứ hương Giới đức là hương tuyệt trần.”

CHÚ GIẢI:

Trong bài kệ Phạn ngữ, câu đầu có nghĩa là không có hương hoa nào bay ngược chiều gió, như trên cung trời Đao Lợi có cây Pāricchattakarukkha, thân cao và tàng rộng hàng trăm do tuần, hoa của nó phát ra ánh sáng rơi xa năm mươi do tuần, hương hoa lan xa hàng trăm do tuần. Tuy nhiên nó chỉ bay theo chiều gió mà thôi, còn ngược gió thì dầu gần như nửa ngón tay nó cũng không thể bay được. Tất cả các hương hoa đều không thể bay ngược chiều gió như thế cả.

Candanaṃ: Viết cho đủ là candanagandho nghĩa là hương của Chiên đàn.

Tagaramallikā vā: Cũng đề cập đến hương của Đa già la, Mạt lỵ.

Quả thật, dầu cho hương của các thứ có tiếng là thơm nhất, như là Chiên đàn đỏ, Đa già la, Mạt lỵ hoa chẳng hạn, cũng chỉ bay xuôi chiều gió chớ không bay ngược chiều gió bao giờ cả.

Satañ ca gandho: Chỉ có hương của người Giới đức là hương của các bậc Thinh Văn đệ tử Phật Toàn Giác và Độc Giác mới bay được ngược gió. Tại sao vậy?

Sabbā disā sappuriso pavāyati: Tại vì tiếng thơm Giới đức của các bậc Thinh Văn, những người Thánh thiện lan truyền đi khắp các phương hướng, cho nên có thể nói là mùi hương Giới đức bay ngược chiều gió. Do đó, Đức Phật đã dùng từ ngữ Paṭivātameti.

Vassikī: là Vũ quí, Vũ sanh, tức là loại hoa thơm như lan, huệ.

Etesaṃ: Câu chót có nghĩa là nếu đem so sánh có giống nào mùi thơm như Chiên đàn chẳng hạn, với những bậc Thánh thiện có Giới đức là mùi thơm thì Giới hương là vô thượng, vô tỷ, vô song vậy (anuttaro asadiso appaṭibhāgo).

Khi thời pháp chấm dứt, nhiều Tỳ khưu thành đạt chánh quả, nhất là Tu Đà Hườn quả. Đại chúng cũng hưởng được sự lợi ích nhờ nghe pháp.

Đại Đức Nan Đa muốn biết rằng:
Hương bay ngược gió có cùng chăng?
Chiều tà tạm lánh nơi cô tịch,
Trở gót đi tìm Đức Vạn Năng.
Phật dạy: “Hương sanh có thứ nầy,
Ngược chiều gió thổi chẳng ngừng bay,
Là hương Giới đức cao vô tỷ,
Hương của trầm hoa chẳng sánh tày.”.

DỨT TÍCH ĐẠI ĐỨC ĀNANDA VẤN ĐẠO

Ānandattherapañhāvatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Na pupphagandho paṭivātametīti imaṃ dhammadesanaṃ satthā sāvatthiyaṃ viharanto ānandattherassa pañhaṃ vissajjento kathesi.

Thero kira sāyanhasamaye paṭisallīno cintesi – “bhagavatā mūlagandho, sāragandho, pupphagandhoti tayo uttamagandhā vuttā, tesaṃ anuvātameva gandho gacchati, no paṭivātaṃ. Atthi nu kho taṃ gandhajātaṃ, yassa paṭivātampi gandho gacchatī”ti. Athassa etadahosi – “kiṃ mayhaṃ attanā vinicchitena, satthāraṃyeva pucchissāmī”ti. So satthāraṃ upasaṅkamitvā pucchi. Tena vuttaṃ –

“Atha kho āyasmā ānando sāyanhasamaye paṭisallānā vuṭṭhito yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi, ekamantaṃ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṃ etadavoca –

“Tīṇimāni, bhante, gandhajātāni, yesaṃ anuvātameva gandho gacchati, no paṭivātaṃ. Katamāni tīṇi? Mūlagandho, sāragandho, pupphagandho, imāni kho, bhante, tīṇi gandhajātāni. Yesaṃ anuvātameva gandho gacchati, no paṭivātaṃ. Atthi nu kho, bhante, kiñci gandhajātaṃ yassa anuvātampi gandho gacchati, paṭivātampi gandho gacchati, anuvātapaṭivātampi gandho gacchatī”ti? (A. ni. 3.80)

Athassa bhagavā pañhaṃ vissajjento –

“Atthānanda, kiñci gandhajātaṃ, yassa anuvātampi gandho gacchati, paṭivātampi gandho gacchati, anuvātapaṭivātampi gandho gacchatī”ti. “Katamaṃ pana taṃ, bhante, gandhajātaṃ”? “Yassa anuvātampi gandho gacchati, paṭivātampi gandho gacchati, anuvātapaṭivātampi gandho gacchatī”ti?

“Idhānanda, yasmiṃ gāme vā nigame vā itthī vā puriso vā buddhaṃ saraṇaṃ gato hoti, dhammaṃ saraṇaṃ gato hoti, saṅghaṃ saraṇaṃ gato hoti, pāṇātipātā paṭivirato hoti, adinnādānā paṭivirato hoti, kāmesumicchācārā paṭivirato hoti, musāvādā paṭivirato hoti, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭivirato hoti, sīlavā hoti kalyāṇadhammo, vigatamalamaccherena cetasā agāraṃ ajjhāvasati muttacāgo payatapāṇi vossaggarato yācayogo dānasaṃvibhāgarato.

“Tassa disāsu samaṇabrāhmaṇā vaṇṇaṃ bhāsanti, ‘amukasmiṃ nāma gāme vā nigame vā itthī vā puriso vā buddhaṃ saraṇaṃ gato hoti, dhammaṃ saraṇaṃ gato hoti, saṅghaṃ saraṇaṃ gato hoti…pe… dānasaṃvibhāgarato”’ti.

“Devatāpissa vaṇṇaṃ bhāsanti, ‘amukasmiṃ nāma gāme vā nigame vā itthī vā puriso vā buddhaṃ saraṇaṃ gato hoti, dhammaṃ saraṇaṃ gato hoti, saṅghaṃ saraṇaṃ gato hoti…pe… dānasaṃvibhāgarato”’ti. “Idaṃ kho taṃ, ānanda, gandhajātaṃ, yassa anuvātampi gandho gacchati, paṭivātampi gandho gacchati, anuvātapaṭivātampi gandho gacchatī”ti (a. ni. 3.80) vatvā imā gāthā abhāsi –

“Na pupphagandho paṭivātameti,
Na candanaṃ tagaramallikā vā;
Satañca gandho paṭivātameti,
Sabbā disā sappuriso pavāyati. (a. ni. 3.80);

“Candanaṃ tagaraṃ vāpi, uppalaṃ atha vassikī;
Etesaṃ gandhajātānaṃ, sīlagandho anuttaro”ti.

Tattha na pupphagandhoti tāvatiṃsabhavane paricchattakarukkho āyāmato ca vitthārato ca yojanasatiko, tassa pupphānaṃ ābhā paññāsa yojanāni gacchati, gandho yojanasataṃ, sopi anuvātameva gacchati, paṭivātaṃ pana aṭṭhaṅgulamattampi gantuṃ na sakkoti, evarūpopi na pupphagandho paṭivātameti. Candananti candanagandho. Tagaramallikā vāti imesampi gandho eva adhippeto. Sāragandhānaṃ aggassa hi lohitacandanassāpi tagarassapi mallikāyapi anuvātameva vāyati, no paṭivātaṃ. Satañca gandhoti sappurisānaṃ pana buddhapaccekabuddhasāvakānaṃ sīlagandho paṭivātameti. Kiṃ kāraṇā? Sabbā disā sappuriso pavāyati yasmā pana sappuriso sīlagandhena sabbāpi disā ajjhottharitvāva gacchati, tasmā “tassa gandho na paṭivātametī”ti na vattabbo. Tena vuttaṃ “paṭivātametī”ti. Vassikīti jātisumanā. Etesanti imesaṃ candanādīnaṃ gandhajātānaṃ gandhato sīlavantānaṃ sappurisānaṃ sīlagandhova anuttaro asadiso apaṭibhāgoti.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pattā. Desanā mahājanassa sātthikā jātāti.

Ānandattherapañhāvatthu navamaṃ.

IV. 9. Elder Ānanda’s Question

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

54. The perfume of flowers goes not against the wind...

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Sāvatthi by way of reply to a question which the Elder Ānanda asked him.

We are told that one evening, absorbed in meditation, the Elder pondered the following thought: “The Exalted One possesses the three perfumes of superlative excellence; namely, the perfume of sandal, the perfume of roots, and the perfume of flowers. Each of these perfumes, however, goes only with the wind. Is there possibly a substance whose perfume goes against the wind, or is there possibly a substance whose perfume goes both with the wind and against the wind?” Then the following thought occurred to him: “What is the use of my trying to determine this question all by myself? I will ask the Teacher, and the Teacher alone.” Accordingly he approached the Teacher and put the question to him. Therefore it is said:

“Now one evening the Venerable Ānanda arose from profound meditation and drew near to the place where sat the Exalted One, and when he had drawn near, he addressed the Exalted One as follows, ‘Reverend Sir, there are these three substances whose perfume goes only with the wind and not against the wind. What are the three? The perfume of roots, the perfume of sandal, and the perfume of flowers. These, Reverend Sir, are the three substances whose perfume goes only with the wind and not against the wind. But, Reverend Sir, is there possibly a substance whose perfume goes both with the wind and against the wind, or is there possibly a substance whose perfume goes both with the wind and against the wind?’

“Said the Exalted One in answer to the question, ‘Ānanda, there is a substance whose perfume goes with the wind, a substance whose perfume goes both with the wind and against the wind.’ ‘But, Reverend Sir, what is that substance whose perfume goes with the wind, that substance whose perfume goes both with the wind and against the wind?’ ‘Ānanda, if in any village or market-town in this world any human being, whether man or woman, seeks refuge in the Buddha, seeks refuge in the Law, seeks refuge in the Order; if he refrains from taking life, from taking that which is not given, from indulgence in the sins of the flesh and from lying, and avoids occasions of heedlessness through the use of liquor or spirits or other intoxicants; if he is virtuous; if he lives the life of a householder in righteousness, with a heart free from the stain of avarice; if he is liberal and generous, if he is open-handed, if he takes delight in giving, if he is attentive to petitions, if he takes delight in the distribution of alms, in all parts of the world monks and Brahmans utter his praise. If in such and such a village or market-town either a man or a woman seeks refuge in the Buddha, ... if he takes delight in the distribution of alms, deities and spirits utter his praise. If in such and such a village or market-town either a man or a woman seeks refuge in the Buddha, ... if he takes delight in the distribution of alms, such acts as these, Ānanda, are the substance whose perfume goes both with the wind and against the wind, whose perfume goes both with and against the wind.’ ” So saying, he pronounced the following Stanzas,

54. The perfume of flowers goes not against the wind,
Nor that of sandal, nor that of Tagara or Mallikā flowers;
But the perfume of the righteous goes against the wind;
To every point a good man exhales fragrance.

55. Above and beyond all varieties of perfume,
Whether of sandal or of lotus
Or of Tagara or Vassikī flowers,
The perfume of virtue is preeminent.

  1. This story is almost word for word the same as Aṅguttara, i. 225-226. Text: N i. 420-423.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 2, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp cùng chủ đề