Nhân vật, nơi chốn

Ngài A-nan là ai: người thị giả hiền hậu và trí nhớ của Tăng đoàn

Trong những người gần Đức Phật nhất, Ngài A-nan là người có nhiều cảm xúc nhất: biết lo, biết buồn, biết khóc. Chính vì thế, câu chuyện của Ngài rất gần với chúng ta.

Tóm lại: Ngài A-nan (Ānanda) là thị giả của Đức Phật suốt hai mươi lăm năm, là bậc nhất về đa văn và trí nhớ (AN 1.219–223). Ngài không phải bậc hoàn hảo ngay từ đầu: Ngài từng khóc khi Thầy sắp nhập diệt (DN 16). Nhưng chính sự tận tụy và lòng thương người của Ngài mà lời Phật được gìn giữ đến hôm nay.

Như cái bóng không rời

Trong Trưởng Lão Tăng Kệ, Ngài A-nan tự kể: “Hai mươi lăm năm tôi hầu hạ Đức Thế Tôn, bằng thân nghiệp có tâm từ, như cái bóng không rời” (Thag 17.3, kệ 28). Hai câu kệ kế tiếp lặp lại với lời nói có tâm từ và ý nghĩ có tâm từ (kệ 29–30).

Tăng Chi Bộ ghi năm điều “bậc nhất” liền nhau đều thuộc về một người: trong các đệ tử Tỷ-kheo, bậc nhất về đa văn, về trí nhớ, về sự hiểu biết, về sự kiên trì, và bậc nhất trong hạnh thị giả, đều là Ānanda (AN 1.219–223, đoạn 1.1). Theo chú giải, Ngài là em họ của Đức Phật, con của vương tử Amitodana; các bài kinh dẫn trong bài này không nêu chi tiết ấy.

Bạn lành là toàn bộ đời sống phạm hạnh

Một lần, Ngài A-nan đến thưa với Đức Phật một điều mình tâm đắc: “Bạch Thế Tôn, có bạn lành, có bạn đồng hành tốt, có người thân cận tốt, là một nửa đời sống phạm hạnh.” Đức Phật đáp:

—Chớ có nói vậy, này Ānanda! Chớ có nói vậy, này Ānanda! Toàn bộ Phạm hạnh này, này Ānanda, là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình.

Tương Ưng Bộ 45.2, đoạn 2.1–2.2

Ngài giải thích: người có bạn lành sẽ tu tập Bát chánh đạo; và chính nhờ nương Như Lai làm bạn lành mà chúng sinh vốn phải sinh, già, chết được giải thoát khỏi sinh, già, chết (SN 45.2, đoạn 2.3, 4.2). Ngài A-nan suốt đời làm đúng điều ấy: là bạn lành của Tăng chúng, của các cư sĩ, và của cả những người phụ nữ muốn xuất gia.

Người nói giúp cho người khác

Luật tạng, Tiểu Phẩm, kể rằng bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề (Mahāpajāpatī), người dì đã nuôi Đức Phật, tự cạo tóc, đắp y, rồi cùng nhiều phụ nữ Sakya đi đến Tỳ-xá-ly, chân sưng, người phủ bụi, đứng khóc ngoài cổng. Ngài A-nan thấy và đi xin Đức Phật cho phụ nữ được xuất gia (Tiểu Phẩm, Kd 20, đoạn 1.2.6–1.3.5). Khi chưa được chấp thuận, Ngài hỏi theo cách khác: nếu xuất gia, phụ nữ có thể chứng các quả Thánh không? Đức Phật đáp có thể (đoạn 1.3.15–1.3.16). Từ đó Ni đoàn được thành lập.

Đức Phật cũng khen Ngài biết lúc nào nên đưa ai đến gặp Thầy, và các hội chúng đến gặp Ngài đều hoan hỉ khi thấy Ngài, hoan hỉ khi nghe Ngài nói, và khi Ngài im lặng thì vẫn chưa thấy đủ (DN 16, đoạn 5.15.6, 5.16.3–5.16.5).

Giọt nước mắt bên cánh cửa

Khi Đức Phật sắp nhập diệt ở Câu-thi-na, Ngài A-nan vào trong tịnh xá, tựa vào thanh cửa mà khóc: “Ta vẫn còn là bậc hữu học, còn việc phải làm, mà bậc Đạo Sư thương ta sắp nhập diệt” (DN 16, đoạn 5.13.1–5.13.2). Đức Phật cho gọi Ngài đến và nói:

Này Ānanda, đã lâu ngày, ngươi đối với Như Lai, với thân nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích, an lạc, có một không hai, vô lượng với khẩu nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích, an lạc, có một không hai, vô lượng với ý nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích, an lạc, có một không hai, vô lượng. Này Ānanda, ngươi là người tác thành công đức. Hãy cố gắng tinh tấn lên, ngươi sẽ chứng bậc Vô lậu, không bao lâu đâu.

Trường Bộ 16, đoạn 5.14.2, 5.14.5–5.14.6

Đức Phật không bảo Ngài đừng có cảm xúc. Ngài nhắc lại sự thật về chia lìa, rồi ghi nhận tấm lòng của học trò. Cũng như khi Ngài A-nan bàng hoàng vì tin Ngài Xá-lợi-phất (Sāriputta) mất, Đức Phật nhẹ nhàng nhắc: hãy lấy chính mình và lấy Pháp làm hòn đảo (SN 47.13, đoạn 4.5, 6.9). Nhiều người trong chúng ta, khi mất một người thầy, một người cha, cũng đứng tựa cửa như vậy. Câu trả lời của Đức Phật vừa thật vừa ấm.

“Tôi nghe như vầy”

Luật tạng, Tiểu Phẩm, kể tiếp: trước ngày kết tập, Ngài A-nan thức gần trọn đêm tu niệm thân; gần sáng, Ngài ngả lưng nằm xuống, và khi chân vừa rời đất mà đầu chưa chạm gối, tâm Ngài giải thoát (Kd 21, đoạn 1.6.3–1.6.5). Ngài vào hội chúng với tư cách một vị A-la-hán. Tôn giả Ma-ha Ca-diếp (Mahākassapa) hỏi Ngài từng bài kinh: nói ở đâu, với ai; và Ngài trả lời từng câu, cho cả năm bộ Nikāya (đoạn 1.8.7–1.8.19). Bài Kinh tạng được gìn giữ thế nào kể rõ hơn.

Một gợi ý nhỏ

Tuần này, bạn thử nghĩ đến một người bạn lành của mình và gửi cho họ một lời cảm ơn cụ thể. Rồi hỏi mình: mình có đang là bạn lành của ai không? Chỉ cần một lần lắng nghe trọn vẹn, như Ngài A-nan lắng nghe, cũng đã là bắt đầu.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 1.219–223, phẩm Bậc Nhất, AN 1.219–234 trên SuttaCentral.
  2. Tương Ưng Bộ 45.2, Kinh Một Nửa (Upaḍḍha Sutta), SN 45.2 trên SuttaCentral.
  3. Trường Bộ 16, Kinh Đại Bát Niết-bàn, DN 16 trên SuttaCentral.
  4. Tương Ưng Bộ 47.13, Kinh Cunda, SN 47.13 trên SuttaCentral.
  5. Trưởng Lão Tăng Kệ 17.3, kệ của Trưởng lão Ānanda, Thag 17.3 trên SuttaCentral.
  6. Luật tạng, Tiểu Phẩm, chương Tỷ-kheo-ni, Kd 20 trên SuttaCentral.
  7. Luật tạng, Tiểu Phẩm, chương Kết tập năm trăm vị, Kd 21 trên SuttaCentral.
  8. Gia thế của Ngài Ānanda: theo chú giải.
  9. Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  10. Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.

Tích truyện cùng chủ đề

Các tích truyện dưới đây cùng chủ đề với bài, kể theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), không phải lời kinh gốc.

Đọc nguyên văn bài kinh