Chú giải Pháp Cú · Kệ 241 · Dhp 241

Tích Đại Đức Loḷudāyi Đốt Pháp

Lāludāyittheravatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 241 Kinh Pháp Cú, phẩm Cấu Uế, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 241)

“Asajjhāyamalā mantā,
Anuṭṭhānamalā gharā;
Malaṃ vaṇṇassa kosajjaṃ,
Pamādo rakkhato malaṃ .”

“Không tụng làm nhớp kinh,
Không siêng làm bẩn nhà,
Biếng nhác làm nhơ thân,
Biếng nhác làm nhơ thân,
Phóng dật làm tâm uế.”
(HT Thích Minh Châu)

Pháp Cú nầy được Đức Thế Tôn thuyết ra khi Ngài ngự tại Tinh xá Jetavana, đề cập đến Đại Đức Loḷudāyi.

Tương truyền rằng: Trong thành Sāvatthī có đến 50 triệu Thánh Thinh Văn, trước buổi ngọ thì cúng dường trai thực, sau ngọ thì mang lễ vật như là bơ trong, dầu ăn, mật ong, mật mía… đi đến chùa cúng dường và nghe Pháp. Khi nghe Pháp xong, trên đường về, các vị ấy ca tụng ân đức của hai Ngài Sāriputta và Moggallāna.

Bấy giờ Đại Đức Udāyi nghe các thính giả đàm luận cùng nhau, đã xen vào nói rằng:

- Các ông chỉ nghe pháp hai vị ấy thuyết mà đã tán tụng như thế. Nếu được nghe pháp từ nơi ta thì còn tán thán đến chừng nào nữa.

Mọi người nghe lời của Đại Đức như thế, nghĩ rằng:

- Ngài nầy hẳn là một Pháp Sư, chúng ta cũng nên nghe Pháp từ nơi Ngài vậy.

Một hôm, các thính giả trên yêu cầu Đại Đức:

- Bạch Ngài! Hôm nay sau khi cúng dường trai thực xong, buổi chiều chúng tôi sẽ đến chùa nghe Pháp. Xin Ngài hãy hoan hỷ thuyết pháp đến chúng tôi.

Đại Đức im lặng nhận lời. Đến giờ thính pháp, thính giả cung thỉnh Đại Đức:

- Bạch Ngài! Xin Ngài hoan hỷ thuyết pháp cho chúng tôi nghe đi.

Đại Đức Loḷudāyi lên Pháp tọa ngồi, phe phẩy quạt lông, nhưng không nhớ ra một câu Pháp Cú nào cả, bèn nói rằng:

- Ta sẽ tụng chú, vị khác hãy lên thuyết pháp đi.

Rồi Đại Đức leo xuống Pháp tọa.

Khi vị Pháp Sư thuyết pháp xong, thiện tín thỉnh Đại Đức lên Pháp tọa tụng chú thuật. Một lần nữa, Đại Đức lại bí lối nên thối thác rằng:

- Ta sẽ tụng vào ban đêm. Bây giờ vị khác hãy tụng trước đi.

Nói rồi Đại Đức bước xuống khỏi Pháp tọa.

Khi vị tụng kinh ban ngày dứt rồi, đến thời ban đêm thính giả thỉnh Đại Đức Loḷudāyi. Té ra vị ấy cũng chẳng nhớ được chi nên nói rằng:

- Ta sẽ tụng vào lúc hừng sáng. Bây giờ vị khác tụng đi.

Rồi lại rời khỏi Pháp tọa.

Và khi trời hừng sáng, thính chúng lại thỉnh Đại Đức. Lúc ấy Đại Đức cũng chẳng nhớ được chút chi cả. Đại chúng phẫn nộ, cầm lấy gậy đá hăm dọa Đại Đức rằng:

- Này ông sư dốt, khi chúng tôi tán dương hai Ngài Sāriputta và Moggallāna thì ông nói thế nầy thế nọ. Bây giờ sao ông không giỏi thuyết pháp đi.

Thấy dáng hùng hổ của đại chúng, Đại Đức kinh sợ bỏ chạy, bị đại chúng rượt theo bén gót. Trong lúc hoảng hốt, Đại Đức hụt chân té xuống hầm phẩn. Đại chúng bàn luận rằng:

- Khi nghe chúng ta tán thán ân đức của hai Ngài Sāriputta và Moggallāna, Đại Đức Loḷudāyi ganh tỵ, khoác loác khoe khoang tài thuyết pháp của mình. Đến khi người ta thỉnh cầu, nói rằng: “Chúng tôi muốn nghe pháp.” . Đại Đức lên Pháp tọa cả bốn lần mà không tìm được pháp chi để thuyết cả. Giờ đây, Đại Đức lại rơi xuống hầm phẩn như thế.

Đức Thế Tôn ngự đến, phán hỏi rằng:

- Này các Tỳ Khưu! Các Thầy đang bàn luận việc chi thế?

- Bạch Ngài, chuyện nầy … chuyện nầy …

Nghe xong, Đức Thế Tôn dạy rằng:

- Này chư Tỳ Khưu! Chẳng phải chỉ bây giờ, mà xưa kia thầy ấy cũng bị lún chìm trong phẩn rồi vậy.

Rồi Ngài ngâm kệ bổn sanh rằng:

“Catuppado ahaṃ samma tvaṃpi samma catuppado

Ehi sīha nivattassu kinnu bhīto palāyasi
Asuci pūtilomosi duggandho vāyasi sūkara
Sace yujjhitukāmosi jayaṃ samma dadāni teti .”
“Chúa ơi! Chúa có bốn chân

Tôi cũng có bốn cẳng, ta gần ngang nhau
Lại đây, Sư tử anh hào
Có chi mà sợ chạy nhiều thế kia
Heo ơi! Mình chú thúi tha
Lông chú dơ dáy thật là quá hôi
Xin nhường chú thắng cho rồi
Nếu như chú muốn cùng tôi tranh tài.”

Sau khi thuyết xong Bổn sanh, Đức Bổn Sư cho biết rằng Sư tử khi trước nay là Đức Sāriputta, còn con heo chính là Đại Đức Loḷudāyi. Xong rồi Đức Thế Tôn phán dạy rằng:

- Này các Tỳ Khưu! Loḷudāyi chỉ học rất ít Pháp mà không bao giờ lo ôn tập. Pháp nào dầu học ít, một khi đã học được nếu không ôn tập ắt trở thành nhớp nhúa vậy.

Rồi Ngài thuyết lên kệ ngôn như sau:

“Asajjhāyamalā mantā,
Anuṭṭhānamalā gharā;
Malaṃ vaṇṇassa kosajjaṃ,
Pamādo rakkhato malaṃ .”

“Không tụng làm nhớp kinh,
Không siêng làm bẩn nhà,
Biếng nhác làm nhơ thân,
Biếng nhác làm nhơ thân,
Phóng dật làm tâm uế.”
(HT Thích Minh Châu)

CHÚ GIẢI:

Asajjhāyamalā : Bất luận là Kinh pháp hoặc học nghề nghiệp chi nếu không thường ôn tập, thực hành, thì nó sẽ tiêu lần hoặc đứt đoạn không dễ nhớ ra, bởi vậy mới nói: “Không tụng làm nhớp kinh”.

Người là cư sĩ hoặc bậc xuất gia mà biếng nhác không lo chăm sóc, gìn giữ thân thể hoặc đồ vật dụng, thì thân sẽ có màu sắc xấu xa, bởi vậy mới nói: “Biếng nhác làm nhơ thân”.

Người chăn giữ bò cái mà dể duôi, cứ lo ngủ hoặc lo chơi thì bầy bò không phát triển, dễ bị hao hụt vì thú dữ, trộm cướp làm thiệt hại. Hoặc bò vào ăn mất lúc ruộng của người khác, chủ bị bắt bớ, đền bồi. Chính mình là người chăn cũng bị hành phạt hoặc bị mắng nhiếc.

Cũng vậy, bậc Xuất gia không lo thu thúc lục căn, dể duôi để cho phiền não làm sa đọa, rồi phải hoàn tục xa lìa giáo pháp. Bởi vậy mới nói: “Phóng dật làm tâm uế”. Vì lẽ nó dẫn dắt người ấy đến chỗ hư hỏng, dơ bẩn nên gọi là nhờ uế vậy.

Cuối thời Pháp, nhiều vị Tỳ Khưu chứng đắc Thánh Quả Tu Đà Hườn

Nếu dốt thì cam chịu dốt đi
Huênh hoang bịp chúng có hay gì
Bốn lần thỉnh Pháp, chưa thèm thuyết
Một trận ăn đòn, đã chạy thi
Vì thích cầu cao, sa hố phẩn
Bởi ưu tật đố, mất màu y
Gần thầy sao chẳng chuyên cần học
Lại móng hư danh, nghĩ cũng kỳ! …

DỨT TÍCH ĐẠI ĐỨC LOḶUDĀYI

Lāludāyittheravatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Asajjhāyamalāti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto lāludāyittheraṃ ārabbha kathesi.

Sāvatthiyaṃ kira pañcakoṭimattā ariyasāvakā vasanti, dve koṭimattā puthujjanā vasanti. Tesu ariyasāvakā purebhattaṃ dānaṃ datvā pacchābhattaṃ sappitelamadhuphāṇitavatthādīni gahetvā vihāraṃ gantvā dhammakathaṃ suṇanti. Dhammaṃ sutvā gamanakāle ca sāriputtamoggallānānaṃ guṇakathaṃ kathenti. Udāyitthero tesaṃ kathaṃ sutvā “etesaṃ tāva dhammaṃ sutvā tumhe evaṃ kathetha, mama dhammakathaṃ sutvā kiṃ nu kho na kathessathā”ti vadati. Manussā tassa kathaṃ sutvā “ayaṃ eko dhammakathiko bhavissati, imassapi amhehi dhammakathaṃ sotuṃ vaṭṭatī”ti te ekadivasaṃ theraṃ yācitvā, “bhante, ajja amhākaṃ dhammassavanadivaso”ti saṅghassa dānaṃ datvā, “bhante, tumhe amhākaṃ divā dhammakathaṃ katheyyāthā”ti āhaṃsu. Sopi tesaṃ adhivāsesi.

Tehi dhammassavanavelāya āgantvā, “bhante, no dhammaṃ kathethā”ti vutte lāludāyitthero āsane nisīditvā cittabījaniṃ gahetvā cālento ekampi dhammapadaṃ adisvā “ahaṃ sarabhaññaṃ bhaṇissāmi, añño dhammakathaṃ kathetū”ti vatvā otari. Te aññena dhammakathaṃ kathāpetvā sarabhāṇatthāya puna taṃ āsanaṃ āropayiṃsu. So punapi kiñci adisvā “ahaṃ rattiṃ kathessāmi, añño sarabhaññaṃ bhaṇatū”ti vatvā āsanā otari. Te aññena sarabhaññaṃ bhaṇāpetvā puna rattiṃ theraṃ ānayiṃsu. So rattimpi kiñci adisvā “ahaṃ paccūsakāle kathessāmi, rattiṃ añño kathetū”ti vatvā otari. Te aññena rattiṃ kathāpetvā puna paccūse taṃ ānayiṃsu. So punapi kiñci nāddasa. Mahājano leḍḍudaṇḍādīni gahetvā, “andhabāla, tvaṃ sāriputtamoggallānānaṃ vaṇṇe kathiyamāne evañcevañca vadesi, idāni kasmā na kathesī”ti santajjetvā palāyantaṃ anubandhi. So palāyanto ekissā vaccakuṭiyā pati.

Mahājano kathaṃ samuṭṭhāpesi – “ajja lāludāyī sāriputtamoggallānānaṃ guṇakathāya pavattamānāya ussūyanto attano dhammakathikabhāvaṃ pakāsetvā manussehi sakkāraṃ katvā ‘dhammaṃ suṇomā’ti vutte catukkhattuṃ āsane nisīditvā kathetabbayuttakaṃ kiñci apassanto ‘tvaṃ amhākaṃ ayyehi sāriputtamoggallānattherehi saddhiṃ yugaggāhaṃ gaṇhāsī’ti leḍḍudaṇḍādīni gahetvā santajjetvā palāpiyamāno vaccakuṭiyā patito”ti. Satthā āgantvā “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā”ti pucchitvā “imāya nāmā”ti vutte “na, bhikkhave, idāneva, pubbepi eso gūthakūpe nimuggoyevā”ti vatvā atītaṃ āharitvā –

“Catuppado ahaṃ samma, tvampi samma catuppado;
Ehi samma nivattassu, kiṃ nu bhīto palāyasi.

“Asucipūtilomosi, duggandho vāsi sūkara;
Sace yujjhitukāmosi, jayaṃ samma dadāmi te”ti. (jā. 1.2.5-6) –

Imaṃ jātakaṃ vitthāretvā kathesi. Tadā sīho sāriputto ahosi, sūkaro lāludāyīti. Satthā imaṃ dhammadesanaṃ āharitvā, “bhikkhave, lāludāyinā appamattakova dhammo uggahito, sajjhāyaṃ pana neva akāsi, kiñci pariyattiṃ uggahetvā tassā asajjhāyakaraṇaṃ malamevā”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Asajjhāyamalā mantā, anuṭṭhānamalā gharā;
Malaṃ vaṇṇassa kosajjaṃ, pamādo rakkhato mala”nti.

Tattha asajjhāyamalāti yākāci pariyatti vā sippaṃ vā yasmā asajjhāyantassa ananuyuñjantassa vinassati vā nirantaraṃ vā na upaṭṭhāti, tasmā “asajjhāyamalā mantā”ti vuttaṃ. Yasmā pana gharāvāsaṃ vasantassa uṭṭhāyuṭṭhāya jiṇṇapaṭisaṅkharaṇādīni akarontassa gharaṃ nāma vinassati, tasmā “anuṭṭhānamalā gharā”ti vuttaṃ. Yasmā gihissa vā pabbajitassa vā kosajjavasena sarīrapaṭijagganaṃ vā parikkhārapaṭijagganaṃ vā akarontassa kāyo dubbaṇṇo hoti, tasmā “malaṃ vaṇṇassa kosajja”nti vuttaṃ. Yasmā gāvo rakkhantassa pamādavasena niddāyantassa vā kīḷantassa vā tā gāvo atitthapakkhandanādinā vā vāḷamigacorādiupaddavena vā paresaṃ sālikhettādīni otaritvā khādanavasena vināsaṃ āpajjanti, sayampi daṇḍaṃ vā paribhāsaṃ vā pāpuṇāti, pabbajitaṃ vā pana cha dvārāni arakkhantaṃ pamādavasena kilesā otaritvā sāsanā cāventi, tasmā “pamādo rakkhato mala”nti vuttaṃ. So hissa vināsāvahanena malaṭṭhāniyattā malanti attho.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.

Lāludāyittheravatthu catutthaṃ.

XVIII. 4. Pride goeth before a Fall

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

241. Non-repetition mars the Sacred Word; inactivity mars the household life;
Sloth is a blemish on beauty; heedlessness is a blemish on the watchman.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Elder Lāḷudāyi.

At Sāvatthi, we are told, five crores of Noble Disciples gave alms before breakfast, and after breakfast, taking ghee, oil, honey, molasses, garments, and other requisites, went to the monastery and listened to the Law. When they departed, after listening to the Law, they praised the virtues of Elders Sāriputta and Moggallāna. The Elder Udāyi overheard their talk and said to them, “It is because you have heard only these Elders preach the Law that you talk as you do; I wonder what you would say if you were to hear me preach the Law.” Those who heard his remark thought to themselves, “This must be some preacher of the Law; we ought without fail to hear this Elder also preach the Law.” So one day they made the following request of the Elder, “Reverend Sir, to-day is the day when we are wont to go and listen to the Law. After we have presented alms to the Congregation of Monks, be good enough, Reverend Sir, to preach the Law to us by day.” The Elder accepted the invitation.

When it was time for them to listen to the Law, they went to the Elder and said, “Reverend Sir, preach the Law to us.” So Elder Udāyi sat down in the seat, took a painted fan in his hand, waved it back and forth, but not knowing a single word of the Law, said, “I will intone the Sacred Word; let some one else preach the Law.” So saying, he descended from the seat. The disciples caused someone else to preach the Law, and again assisted him to mount the seat to intone the Sacred Word. But again the second time, the Elder, who knew no more about intoning than he did about preaching, said, “I will recite the Sacred Word at night; let some one else intone the Sacred Word now.” The disciples therefore caused another to intone the Sacred Word and at night brought the Elder in again.

But at night also he knew as little how to intone, and said, “I will recite at dawn; let someone else recite at night.” So saying, he descended from the seat . The disciples caused another to recite the Sacred Word at night and at dawn brought the Elder in again. But once more he failed. Thereupon the multitude took up clods of earth, sticks, and other missiles, and threatened him, saying, “Simpleton, while we were talking about the virtues of Elders Sāriputta and Moggallāna, you said this and that. Why don’t you say something now?” The Elder took to flight, and the multitude ran after him. As he ran, he fell into a certain cesspool.

The multitude talked over the incidents of the day, saying, “As Lāḷudāyi listened to our praise of the virtues of Elders Sāriputta and Moggallāna, he became jealous, declared himself to be a preacher of the Law, and when people rendered him honor and said to him, ‘We would hear the Law,’ he sat down in the Seat of the Law four times, although he knew not a single word suitable to recite. Then, when we said to him, ‘Yet you put yourself on an equality with our Noble Elders Sāriputta and Moggallāna,’ and took up clods of earth, sticks, and other missiles, and threatened him, he ran away and fell into a cesspool.” The Teacher drew near and asked them, “Monks, what are you talking about now, as you sit here all gathered together?” When they told him, he said, “Monks, this is not the first time he has wallowed in a cesspool; he did the same thing in a previous state of existence also.” So saying, he pronounced the following Stanzas,

I am a beast, master. And, master, you are a beast too.
Come, lion, turn around. Why do you flee in fear?

Boar, you are filthy, your bristles are foul, with bad smells you reek.
If you desire to fight, I yield you the victory, master.

After relating this Jātaka in detail, the Teacher said, “At that time the lion was the Elder Sāriputta and the boar was Lāḷudāyi.” Having finished the lesson, the Teacher said, “Monks, Udāyi had learned only the merest fragment of the Law, but he never repeated the Texts. No matter how much or how little one may learn of the Sacred Word, not to repeat it is a grievous fault.” So saying, he pronounced the following Stanza,

241. Non-repetition mars the Sacred Word; inactivity mars the household life;
Sloth is a blemish on beauty; heedlessness is a blemish on the watchman.

  1. Cf. Story xi. 7, and Jātaka 153: ii. 9-12. Text: N iii. 344-348.
  2. Jātaka 153: ii. 10-12.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.