Chú giải Pháp Cú · Kệ 242–243 · Dhp 242–243

Tích Một Công Tử Bị Cậm Sừng

Aññatarakulaputtavatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 242–243 Kinh Pháp Cú, phẩm Cấu Uế, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 242-243)

242. Mal'itthiyā duccaritaṃ,
Maccheraṃ dadato malaṃ;
Malā ve pāpakā dhammā,
Asmiṃ loke paramhi ca .
243. Tato malā malataraṃ,
Avijjā paramaṃ malaṃ;
Etaṃ malaṃ pahatvāna,
Nimmalā hotha bhikkhavo .

Tà hạnh nhơ đàn bà,
Xan tham nhơ kẻ thí,
Tội ác là vết nhơ,
Đời nầy và đời sau.
Trong hàng cấu uế ấy,
Vô minh nhơ tối thượng,
Hãy trừ bỏ nhơ ấy,
Thành Tỳ kheo vô cấu.
(HT Thích Minh Châu)

Pháp Cú nầy được Đức Bổn Sư thuyết ra khi Ngài ngự tại Veḷuvana, đề cập đến chàng Công tử nọ.

Tương truyền rằng: Công tử ấy đã cưới vợ là một Tiểu thư môn đăng hộ đối. Từ ngày về nhà chồng, cô vợ cứ tà hạnh mãi, Công tử xấu hổ về việc làm của vợ, không thể đến gặp gỡ tiếp xúc cùng ai cả, nên cắt đứt luôn cả sự viếng thăm và hộ độ cúng dường Đức Phật. Thế rồi, sau vài ngày chàng lại viếng thăm Đức Bổn Sư, sau khi đảnh lễ Ngài xong rồi, ngồi qua một bên, Ngài hỏi Công tử:

- Này Công tử! Dạo nầy sao ngươi ít đến đây vậy?

Công tử liền đem việc nhà ra giải bày cùng Đức Thế Tôn, Ngài dạy rằng:

- Này Công tử! Xưa kia ta đã từng dạy rằng: Đàn bà giống như sông rạch và bậc hiền trí không nên giận nữ nhân. Nhưng vì ngươi do cõi luân hồi khuất lấp nên không thấu đáo đó thôi.

Công tử thỉnh Ngài thuyết giảng Bổn Sanh, Ngài ngâm lên rằng:

“Yathānadī ca pantho ca pānāgāraṃ sabbā papā
Evaṃ lokitthiyo nāma velā tālaṃ navijjatīti .”
“Đàn bà như thể rạch, sông
Đường đi, động đá, nhà công, quá chở
Đàn bà thế tục bẩn nhơ
Lăng loàn xá kể ngày giờ chi đâu.”

Sau khi thuyết xong Bổn Sanh, Đức Thế Tôn dạy rằng:

- Này Công tử! Tà hạnh trắc nết là vết nhơ của nữ nhân, sự bón rít là vết nhơ của tín thí, nghiệp ác là vết nhơ làm hại chúng sanh cả đời nầy và đời sau. Vô minh là vết nhơ tối thượng của tất cả vết nhơ.

Nói rồi Ngài ngâm lên kệ ngôn rằng:

242. Mal'itthiyā duccaritaṃ,
Maccheraṃ dadato malaṃ;
Malā ve pāpakā dhammā,
Asmiṃ loke paramhi ca.
243. Tato malā malataraṃ,
Avijjā paramaṃ malaṃ;
Etaṃ malaṃ pahatvāna,
Nimmalā hotha bhikkhavo.

Tà hạnh nhơ đàn bà,
Xan tham nhơ kẻ thí,
Tội ác là vết nhơ,
Đời nầy và đời sau.
Trong hàng cấu uế ấy,
Vô minh nhơ tối thượng,
Hãy trừ bỏ nhơ ấy,
Thành Tỳ kheo vô cấu.
(HT Thích Minh Châu)

CHÚ GIẢI:

Duccaritaṃ : Aticaro : Tà hạnh, chỉ sự lăng loàn trắc nết, gian dâm, ngoại tình. Phàm đàn bà ngoại tình bị chồng đuổi trở về cùng cha mẹ, cũng bị mắng rằng: “Nầy không nên làm ô nhục, tồi bại gia phong, nhục nhã tông đường…” . Rồi bị cha mẹ đuổi ra khỏi gia tộc, nữ nhân ấy sống bơ vơ khổ sở vô cùng. Do đó mới nói rằng: “Tà hạnh là nhơ nữ nhân”.

Dadato : Đến thí chủ (dāyakassa). Người nào khi mới cày ruộng đã lập nguyện rằng “Nếu lúa trúng kỳ nầy, ta sẽ làm phước trai Tăng hoặc rút thẻ để bát chẳng hạn.” . Nhưng khi gặt hái có kết quả tốt đẹp, lại phát sanh tâm bỏn xẻn, ngăn chặn tâm bố thí. Do ảnh hưởng tâm bỏn xẻn thắng được tâm xả ly, người ấy không được hưởng ba phước lộc là nhân sản, thiên sản và Níp Bàn. Do đó mới nói rằng: Sự bỏn xẻn là vết nhơ của bố thí.

Trong các câu khác đều có một lý chung như vậy.
Pāpakā dhammā : Chỉ những pháp bất thiện, là

vết nhơ của chúng sanh từ đời nầy đến những đời sau.

Tato : Từ vết nhơ đã nói trên.

Malataraṃ : Ta sẽ thuyết về vết nhơ tối thượng cho các ngươi nghe.

Avijjā : Vô minh, dốt nát, các thầy dứt bỏ vết nhơ Vô minh mà thành bậc Vô nhiễm (nimmalā).

Cuối thời Pháp, nhiều thính giả chứng đắc Thánh Quả, nhất là Quả Dự Lưu.

Không may vớ phải thứ đàn bà
Trắc nết, lăng loàn thật xấu xa
Tủi phận láng giềng không tiếp xúc
Buồn duyên bạn lữ, chẳng giao hòa…
Chơn ngôn Phật dạy bình tâm xét
Chánh lý thầy khuyên mở tuột ra
Nghiệp báo, cửa nhà, con ấy nợ
Đa tình, trẻ đẹp, vợ oan gia.

DỨT TÍCH CÔNG TỬ BỊ CẬM SỪNG

Aññatarakulaputtavatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Malitthiyā duccaritanti imaṃ dhammadesanaṃ satthā veḷuvane viharanto aññataraṃ kulaputtaṃ ārabbha kathesi.

Tassa kira samānajātikaṃ kulakumārikaṃ ānesuṃ. Sā ānītadivasato paṭṭhāya aticārinī ahosi. So kulaputto tassā aticārena lajjito kassaci sammukhībhāvaṃ upagantuṃ asakkonto buddhupaṭṭhānādīni pacchinditvā katipāhaccayena satthāraṃ upasaṅkamitvā vanditvā ekamantaṃ nisinno “kiṃ, upāsaka, na dissasī”ti vutte tamatthaṃ ārocesi. Atha naṃ satthā, “upāsaka, pubbepi mayā ‘itthiyo nāma nadīādisadisā, tāsu paṇḍitena kodho na kātabbo’ti vuttaṃ, tvaṃ pana bhavapaṭicchannattā na sallakkhesī”ti vatvā tena yācito –

“Yathā nadī ca pantho ca, pānāgāraṃ sabhā papā;
Evaṃ lokitthiyo nāma, velā tāsaṃ na vijjatī”ti. (jā. 1.1.65; 1.12.9) –

Jātakaṃ vitthāretvā, “upāsaka, itthiyā hi aticārinibhāvo malaṃ, dānaṃ dentassa maccheraṃ malaṃ, idhalokaparalokesu sattānaṃ akusalakammaṃ vināsanatthena malaṃ, avijjā pana sabbamalānaṃ uttamamala”nti vatvā imā gāthā abhāsi –

“Malitthiyā duccaritaṃ, maccheraṃ dadato malaṃ;
Malā ve pāpakā dhammā, asmiṃ loke paramhi ca.

“Tato malā malataraṃ, avijjā paramaṃ malaṃ;
Etaṃ malaṃ pahantvāna, nimmalā hotha bhikkhavo”ti.

Tattha duccaritanti aticāro. Aticāriniñhi itthiṃ sāmikopi gehā nīharati, mātāpitūnaṃ santikaṃ gatampi “tvaṃ kulassa agāravabhūtā, akkhīhipi na daṭṭhabbā”ti taṃ nīharanti. Sā anāthā vicarantī mahādukkhaṃ pāpuṇāti. Tenassā duccaritaṃ “mala”nti vuttaṃ. Dadatoti dāyakassa. Yassa hi khettakasanakāle “imasmiṃ khette sampanne salākabhattādīni dassāmī”ti cintetvā nipphanne sassepi maccheraṃ uppajjitvā cāgacittaṃ nivāreti, so maccheravasena cāgacitte avirūhante manussasampattiṃ dibbasampattiṃ nibbānasampattinti tisso sampattiyo na labhati. Tena vuttaṃ – “maccheraṃ dadato mala”nti. Sesesupi eseva nayo. Pāpakā dhammāti akusaladhammā pana idhaloke ca paraloke ca malameva.

Tatoti heṭṭhā vuttamalato. Malataranti atirekamalaṃ vo kathemīti attho. Avijjāti aṭṭhavatthukaṃ aññāṇameva paramaṃ malaṃ. Pahantvānāti etaṃ malaṃ jahitvā, bhikkhave, tumhe nimmalā hothāti attho.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.

Aññatarakulaputtavatthu pañcamaṃ.

XVIII. 5. The Wickedness of Women >

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

242-243. Lewdness is a blemish on a woman...

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Veḷuvana with reference to a certain youth of respectable family.

The story goes that this youth married a young woman of equal birth. From the day of her marriage his wife played the adulteress. Embarrassed by her adulteries, the youth had not the courage to meet people face to face. After a few days had passed, it became his duty to wait upon the Buddha. So he approached the Teacher, saluted him, and sat down on one side. “Disciple, why is it that you no longer let yourself be seen?” asked the Teacher. The youth told the Teacher the whole story. Then said the Teacher to him, “Disciple, even in a former state of existence I said, ‘Women are like rivers and the like, and a wise man should not get angry with them.’ But because rebirth is hidden from you, you do not understand this.” In compliance with a request of the youth, the Teacher related the following Jātaka:

Like a river, a road, a tavern, a hall, a shed.
Such are women of this world: their time is never known.

“For,” said the Teacher, “lewdness is a blemish on a woman; niggardliness is a blemish on the giver of alms; evil deeds, because of the destruction they cause, both in this world and the next, are blemishes on all living beings; but of all blemishes, ignorance is the worst blemish.” So saying, the Teacher pronounced the following Stanzas,

242. Lewdness is a blemish on a woman; niggardliness is a blemish on a giver;
Evil ways are blemishes, both in this world and the next.

243. But worse than any ordinary blemish, the worst, indeed, of all blemishes, is ignorance;
Rid yourselves of this blemish, monks, and be without blemish.

  1. Cf. Jātaka 65: i. 301-302. Text: N iii. 348-351.
  2. Jātaka 65: i. 301-302. Ed. note: in the story, similar to here, a woman betrays her husband, and he is upset; the Bodhisatta teaches him that such is the nature of women, and he should not be disturbed by it. The husband regains equanimity and the wife stops her wanton ways.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.