Chú giải Pháp Cú · Kệ 9–10 · Dhp 9–10

Tích Devadatta Được Y Quí

Devadattavatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 9–10 Kinh Pháp Cú, phẩm Song Yếu, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 09-10)

“Anikkasāvo kāsāvaṃ,
Yo vatthaṃ paridahessati;
Apeto damasaccena,
Na so kāsāvam arahati”
“Yo ca vantakāsāv’assa,
Sīlesu susamāhito;
Upeto damasaccena,
Sa ve kāsāvam arahati”

“Ai muốn đắp huỳnh y,
Phiền trược chưa đoạn ly.
Không chơn thật tự chủ,
Y, người chẳng thích nghi”
“Ai phiền trược đoạn ly,
Giới luật khéo tu trì.
Tự chủ cách chơn thật,
Người ấy xứng huỳnh y”

Kệ Pháp Cú (9 và 10) nầy, Đức Bổn Sư thuyết ra khi Ngài ngự tại Jetavana, đề cập đến Devadatta thọ lãnh y quí giá ở thành Rājagaha (Vương Xá).

Một thuở nọ, hai vị Thượng Thinh Văn, mỗi vị dắt theo năm trăm Tỳ khưu tùy tùng, đến từ giã Đức Bổn Sư, đảnh lễ Ngài rồi cùng nhau rời chùa Jetavana, lên đường sang thành Rājagaha.

Dân chúng ở thành nầy hiệp nhau từng nhóm hai ba người hoặc nhiều hơn nữa, thỉnh Tăng để bát, theo phép cúng dường mỗi Tỳ khưu mới đến.

Một hôm nhân cơ hội đó, Đại đức Sārīputta trong khi hồi hướng phước báo có thuyết giảng rằng:

“Nầy chư thiện tín, một người tự mình làm phước cúng dường không khuyên rủ ai khác, kiếp sau tái sanh ở nơi nào chỉ được đầy đủ tiền của (Bhogasampadā) chứ không được đầy đủ những người tùy thuộc (Parivārasampadā).

Một người không làm phước cúng dường, lại không kêu gọi ai khác thì kiếp sau tái sanh ở nơi nào cũng cô độc bần cùng, cơm hẩm ngày hai bữa chẳng đủ no bụng.

Còn một người vừa tự mình làm phước cúng dường vừa khuyến rủ nhiều người khác làm chung với mình, thì hằng trăm hoặc hàng ngàn hoặc hàng trăm ngàn kiếp tái sanh ở nơi nào cũng được đầy đủ cả hai phương diện tài sản dồi dào, tùy thuộc đông đảo! Còn một người không làm phước cúng dường, nhưng lại khuyên rủ người khác làm phước, thì sanh ở nơi nào sẽ bần cùng, nhưng có nhiều tùy thuộc”

Nghe vậy, một vị trí thức nghĩ rằng: “Ông ơi! Thời pháp vừa thuyết thật huyền diệu làm sao, hy hữu làm sao đâu. Chỉ cách tạo phước lành đầy đủ cả hai chi. Ta phải ráng thực hành để tạo phước báo đầy đủ cả hai phương diện”.

Nghĩ rồi vị ấy bèn thỉnh Đại đức:

- Bạch Ngài, chúng tôi xin thỉnh Trai Tăng ngày mai.

Đại đức hỏi:

- Nầy ông thiện nam, ông cần thỉnh bao nhiêu vị?

- Bạch Ngài! Ngài có bao nhiêu vị tùy tùng?

- Một ngàn, nầy thiện nam.

- Bạch Ngài! Xin thỉnh Ngài luôn với tất cả chư Tăng ngày mai đến nhà để thọ thực.

Đại đức im lặng nhận lời.

Trên đại lộ vào thành, gặp người nào ông thiện nam ấy cũng rủ: “Nầy quí ông bà, tôi xin thỉnh Trai Tăng được một ngàn vị sư. Quí ông có thể hùn phước cúng dường chừng bao nhiêu vị? Quí bà chừng bao nhiêu vị?”.

Mỗi người hứa cúng nhiều ít tùy theo phương tiện của mình. Họ nói: “Chúng tôi xin cúng mười vị, chúng tôi hai mươi vị, chúng tôi ba mươi vị, chúng tôi năm mươi vị, chúng tôi một trăm vị…”.

Vị trí thức bèn xếp đặt tất cả câu hội tại nhà của mình ông nói: “Thế thì chúng ta hãy hợp nhau lại một chỗ để nấu nướng và dâng cúng cho tiện? Quí bạn hãy đem tất cả vật thực như dầu mè, gạo bơ, đường… đến nhà tôi”.

Lúc ấy, có một ông Trưởng giả hùn phước một xấp vải may y xứ Gandhāra, trị giá một trăm ngàn đồng và nói: “Nếu quí vị góp vật thực còn thiếu thì hãy bán vải y nầy gộp thêm cho đủ, nếu như không thiếu thì tùy ý muốn dâng cúng đến vị Đại đức nào thì dâng”.

Sau khi mọi người chung đậu để làm phước Trai Tăng đủ cả, không còn thiếu món chi, ông chủ lễ bèn hỏi phần đông rằng: “Vải y vô giá nầy của ông Trưởng giả hùn phước với những lời dặn như vậy đó. Bây giờ chúng ta làm phước đầy đủ rồi, còn dư ra vậy chúng ta nên dâng đến vị Sư nào?”.

Một nhóm người đề nghị: “Hãy dâng đến Đại đức Sārīputta”.

Một nhóm khác nói: “Đại đức chỉ đến với chúng ta một năm một kỳ trong mùa lúa chín. Còn Sư Devadatta là người bạn thường trực của chúng ta, cả trong những ngày lễ và ngày thường, lúc nào cũng gần gũi sẵn sàng bên chúng ta như bình nước uống. Vậy chúng ta nên dâng vải nầy đến Sư”.

Sau khi thảo luận rất lâu, nhiều người vì chỗ cảm tình quen biết, đồng ý chấp thuận dâng xấp vải y quí giá đến Tỳ khưu Devadatta.

Được vải, Devadatta cắt đôi ra làm y nội và y vai trái (hạ và thượng y) may, nhuộm xong, liền mặc y mới đi tới đi lui.

Nhiều người thấy chướng mắt phê bình rằng: “Y nầy coi Devadatta mặc không xứng đáng. Phải Đại đức Sārīputta mặc mới xứng. Vậy mà Devadatta vận y vàng không xứng với mình, đi tới đi lui coi thật không được”.

Khi ấy, có một vị Tỳ khưu du hành từ thành Rājagaha về thành Sāvatthī, đảnh lễ Đức Bổn Sư và thỉnh an Ngài xong, Ngài bèn hỏi thăm sự an vui của hai vị Đại đệ tử. Vị nầy bèn bạch hết câu chuyện bộ y quí về tay người không xứng đáng với Đức Thế Tôn. Đức Bổn Sư nói:

- Nầy Tỳ khưu! Không phải kiếp nầy Devadatta mới lạm đắp y vàng đâu. Hồi tiền kiếp, ông ta cũng từng lạm đắp y vàng như thế rồi.

Nói xong, Ngài kể luôn chuyện tiền thân của nhà Sư vô sĩ:

“Xưa kia, dưới triều của Quốc vương Brahmadatta, đóng đô tại thành Bārāṇasī, có một người thợ săn cư ngụ trong thành. Anh ta chuyên nghề săn bắn voi lấy ngà, móng, ruột và thịt nạc voi đem bán để chi độ hộ khẩu.

Lúc ấy, trong rừng già có đoàn voi gom cả ngàn thớt về quần tụ để kiếm ăn, đi theo đường gặp những vị Phật Độc Giác. Từ đó về sau, mỗi khi qua lại ngang chỗ chư Phật ngồi tịnh, đàn voi đều quì gối đảnh lễ các Ngài rồi mới dậy đi.

Một hôm, tên thợ săn trông thấy hành động ấy của đàn voi, thì nghĩ thầm rằng: “Những con tượng nầy ta đến gần hạ chúng được rất là khó khăn, thế mà mỗi lần qua lại, chúng đều dừng chân đảnh lễ chư Phật Độc Giác, không biết chúng nhìn thấy cái chi mà chúng đảnh lễ?”.

Sau khi suy nghĩ, tên thợ săn nói thầm: “Chắc tại thấy bộ y vàng”.

Anh ta bèn tính thầm: “Ta cần phải kiếm cho được một bộ y vàng”. Nhơn dịp một vị Phật Độc Giác xuống tắm dưới ao, anh ta lén lấy trộm, rồi ra chỗ đường mà voi năng đi lại, tay lăm le cầm cây lao nhọn đắp y lên che kín, ngồi chờ.

Đàn voi đi tới, tưởng lầm anh ta là một vị Độc Giác Phật, nên dừng chân đảnh lễ, rồi mới đi qua. Tên thợ săn chờ cho đàn voi qua hết, rút lao ra phóng giết con đi sau cùng, lấy ngà, móng, ruột, thịt nạc rồi còn dư bao nhiêu đều đào đất chôn cho mất tích, đoạn anh ta rời khỏi rừng đi về thành.

Thời gian sau, nhằm lúc Đức Bồ Tát giáng sanh làm tượng chúa, cầm đầu cả đoàn voi, tên thợ săn vẫn còn dùng cách ấy. Đức Bồ Tát là tượng chúa, thấy đàn voi của mình ngày một hao hụt, bèn hỏi những voi khác rằng: “Những voi này đi đâu mất mà đàn ta ngày càng thưa thớt vậy?”.

- Thưa chúa Tượng, chúng tôi không biết.

Nghe đáp như vậy, chúa Tượng tự nghĩ: “Chúng đi đâu mà chẳng hỏi xin ta kìa, chắc không phải đi đâu, có lẽ chúng đã bị tai nạn”.

Rồi Tượng chúa phát nghi rằng: “Chắc là chúng bị hại chỗ người đắp y vàng chẳng sai”.

Nghĩ thế, Tượng chúa bèn ra lịnh cho cả đàn voi đi trước, để một mình đi đoạn hậu vừa đi vừa quan sát.

Tên thợ săn là vị Phật giả mạo, chờ đàn voi đảnh lễ qua hết rồi, khi thấy Bồ Tát từ từ đi tới phía sau cùng, bèn lập tức vén y lên, nhắm ngay chỗ nhược của Tượng chúa phóng cây lao tới.

Tượng chúa đã đề phòng trước, nên thối lui tránh được cây lao. Bồ Tát liền nghĩ: “Đây là kẻ sát hại đàn voi của ta” nên xông tới quyết bắt cho được.

Nhưng hắn ta chạy núp sau một thân cây, Bồ Tát tính thầm “Ta sẽ lấy vòi quấn luôn cả cây lẫn người hắn mà chà đạp xuống đất”.

Ngay lúc ấy, tên thợ săn đã cởi tốc chiếc y vàng lên cao cho Tượng chúa thấy.

Tượng chúa nghĩ thầm: “Nếu ta sát hại tên nầy, thì ta sẽ mất mặt đối với chư Phật Toàn Giác, Độc Giác và A La Hán chẳng sai”. Vì thế, nên tượng chúa dằn lòng nhẫn nhịn và hỏi rằng:

- Chính nhà ngươi đã sát hại những voi trong đàn của ta phải không?

- Dạ phải, thưa ông Tượng.

- Tại sao ngươi tạo nghiệp ác nặng nề như thế, tự mình không xứng đáng mà dám lạm khoác bộ y vàng của bậc đã dứt trừ tham dục, làm như vậy ngươi đã tạo nghiệp ác rất nặng nề.

Nói rồi, Bồ Tát đọc hai bài kệ khuyến cáo tên thợ săn như sau:

“Cà sa mặc ở bên ngoài,
Tâm còn ô nhiễm cũng hoài lá y,
Buông lung giả dối hay gì?
Thà rằng không mặc, mới y hợp thời.
Trong tâm tẩy sạch bụi đời,
Chân thành khắc kỷ, chẳng rời luật nghi,
Người tu y với lá y,
Cà sa Tăng và từ bi khách thiền”.

Đọc kệ rồi, Bồ Tát còn thêm câu kết luận:

- Việc làm của ngươi thật không xứng đáng chút nào, nói rồi thả hắn đi.

Khi chấm dứt thời pháp, Đức Bổn Sư dẫn giải rằng:

- Tên thợ săn voi lúc trước nay là Devadatta và Tượng chúa cho tên thợ săn bài học đó chính là Như Lai vậy.

Nầy Tỳ khưu, đây không phải là lần đầu tiên Devadatta mặc y không xứng đáng với người của ông ta đâu. Trong tiền kiếp ông ta cũng đã từng làm như thế đó rồi.

Đến đây Đức Bổn Sư lập lại bài kệ trên:
“Anikkasāvo kāsāvaṃ,
Yo vatthaṃ paridahessati;
Apeto damasaccena,
Na so kāsāvam arahati”.
“Yo ca vantakāsāv’assa,
Sīlesu susamāhito;
Upeto damasaccena,
Sa ve kāsāvam arahatīti”.

Nêu lên làm sáng tỏ nghĩa lý nầy bằng tích Tượng chúa sáu ngà.

CHÚ GIẢI:

Anikkasāvo (Chưa dứt triền phược): là chưa tẩy sạch phiền não trong tâm là tham, sân, si.

Kāsāvaṃ: là y cà sa, tức là y vàng của Tỳ khưu.
Paridahessati (sẽ đắp): là sẽ vận mặc, trùm phủ

khoác lên mình.

Apeto damasaccena (không chơn thật tự chủ): là không chế ngự được lục căn, không nói lời chân thật, đúng theo chơn lý Thánh Đế.

Na so kāsāvam arahati: là kẻ kém đức thiếu tài, như vậy không xứng đáng mặc y vàng cà sa.

Vantakāsāv’assa (đã dứt triền phược): là đã dứt bỏ, đã xa lìa những ô nhiễm phiền não, noi theo bốn Thánh Đạo.

Sīlesu (trong Giới luật): là Tứ thanh tịnh giới: thu thúc trong giới bổn, thu thúc lục căn, thu thúc theo chánh mạng, thu thúc theo quán tưởng tứ vật dụng.

Susamāhito (khéo tu trì): là khéo thọ, khéo giữ và hành theo cách chắc chắn.

Upeto damasaccena (có sự tự chủ chơn thật): là thật sự thu thúc sáu căn, có lời nói chơn thật.

Sa ve kāsāvam arahati: người giới hạnh như vậy xứng đáng mặc bộ y vàng.

Bài kệ vừa dứt vị Tỳ khưu du hành đắc quả Tu Đà Hườn, nhiều vị khác cũng chứng đắc đạo quả nhất là quả Nhập Lưu. Kỳ dư thính chúng đều hưởng sự lợi ích.

Dịp may dong ruổi khiến Đề Bà,
Vớ được y vàng mặc nhởn nha!
Giới hạnh không bì người lạ xứ,
Tài năng chỉ cậy chỗ quen nhà.
Gặp thời vênh váo quên điều phải,
Đắc thế kiêu kỳ chấp cái ta.
Đường cũ ngựa quen từ kiếp trước,
Săn voi cũng lạm đắp cà sa.

DỨT TÍCH DEVADATTA ĐƯỢC Y QUÍ

Devadattavatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Anikkasāvoti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto rājagahe devadattassa kāsāvalābhaṃ ārabbha kathesi.

Ekasmiñhi samaye dve aggasāvakā pañcasate pañcasate attano attano parivāre ādāya satthāraṃ āpucchitvā vanditvā jetavanato rājagahaṃ agamaṃsu. Rājagahavāsino dvepi tayopi bahūpi ekato hutvā āgantukadānaṃ adaṃsu. Athekadivasaṃ āyasmā sāriputto anumodanaṃ karonto “upāsakā eko sayaṃ dānaṃ deti, paraṃ na samādapeti, so nibbattanibbattaṭṭhāne bhogasampadaṃ labhati, no parivārasampadaṃ. Eko sayaṃ na deti, paraṃ samādapeti, so nibbattanibbattaṭṭhāne parivārasampadaṃ labhati, no bhogasampadaṃ. Eko sayampi na deti, parampi na samādapeti, so nibbattanibbattaṭṭhāne kañjikamattampi kucchipūraṃ na labhati, anātho hoti nippaccayo. Eko sayampi deti, parampi samādapeti, so nibbattanibbattaṭṭhāne attabhāvasatepi attabhāvasahassepi attabhāvasatasahassepi bhogasampadañceva parivārasampadañca labhatī”ti evaṃ dhammaṃ desesi.

Tameko paṇḍitapuriso dhammaṃ sutvā “acchariyā vata bho, abbhutā vata bho dhammadesanā, sukāraṇaṃ kathitaṃ, mayā imāsaṃ dvinnaṃ sampattīnaṃ nipphādakaṃ kammaṃ kātuṃ vaṭṭatī”ti cintetvā – “bhante, sve mayhaṃ bhikkhaṃ gaṇhathā”ti theraṃ nimantesi. “Kittakehi te bhikkhūhi attho upāsakā”ti. “Kittakā pana vo, bhante, parivārā”ti? “Sahassamattā upāsakā”ti. “Sabbehi saddhiṃyeva sve bhikkhaṃ gaṇhatha, bhante”ti. “Thero adhivāsesi”. Upāsako nagaravīthiyaṃ caranto – “ammā, tātā, mayā bhikkhusahassaṃ nimantitaṃ, tumhe kittakānaṃ bhikkhūnaṃ bhikkhaṃ dātuṃ sakkhissatha, tumhe kittakāna”nti samādapesi. Manussā attano attano pahonakaniyāmena – “mayaṃ dasannaṃ dassāma, mayaṃ vīsatiyā, mayaṃ satassā”ti āhaṃsu. Upāsako – “tena hi ekasmiṃ ṭhāne samāgamaṃ katvā ekatova parivisissāma, sabbe tilataṇḍulasappimadhuphāṇitādīni samāharathā”ti ekasmiṃ ṭhāne samāharāpesi.

Athassa eko kuṭumbiko satasahassagghanikaṃ gandhakāsāvavatthaṃ datvā – “sace te dānavattaṃ nappahoti, idaṃ vissajjetvā yaṃ ūnaṃ, taṃ pūreyyāsi. Sace pahoti, yassicchasi, tassa bhikkhuno dadeyyāsī”ti āha. Tadā tassa sabbaṃ dānavattaṃ pahosi, kiñci ūnaṃ nāma nāhosi. So manusse pucchi – “idaṃ, ayyā, kāsāvaṃ ekena kuṭumbikena evaṃ nāma vatvā dinnaṃ atirekaṃ jātaṃ, kassa naṃ demā”ti. Ekacce “sāriputtattherassā”ti āhaṃsu. Ekacce “thero sassapākasamaye āgantvā gamanasīlo, devadatto amhākaṃ maṅgalāmaṅgalesu sahāyo udakamaṇiko viya niccaṃ patiṭṭhito, tassa taṃ demā”ti āhaṃsu. Sambahulikāya kathāyapi “devadattassa dātabba”nti vattāro bahutarā ahesuṃ, atha naṃ devadattassa adaṃsu. So taṃ chinditvā sibbitvā rajitvā nivāsetvā pārupitvā vicarati. Taṃ disvā manussā “nayidaṃ devadattassa anucchavikaṃ, sāriputtattherassa anucchavikaṃ. Devadatto attano ananucchavikaṃ nivāsetvā pārupitvā vicaratī”ti vadiṃsu. Atheko disāvāsiko bhikkhu rājagahā sāvatthiṃ gantvā satthāraṃ vanditvā katapaṭisanthāro satthārā dvinnaṃ aggasāvakānaṃ phāsuvihāraṃ pucchito ādito paṭṭhāya sabbaṃ taṃ pavattiṃ ārocesi. Satthā “na kho bhikkhu idāneveso attano ananucchavikaṃ vatthaṃ dhāreti, pubbepi dhāresiyevā”ti vatvā atītaṃ āhari –

Atīte bārāṇasiyaṃ brahmadatte rajjaṃ kārente bārāṇasivāsī eko hatthimārako hatthiṃ māretvā māretvā dante ca nakhe ca antāni ca ghanamaṃsañca āharitvā vikkiṇanto jīvitaṃ kappeti. Athekasmiṃ araññe anekasahassā hatthino gocaraṃ gahetvā gacchantā paccekabuddhe disvā tato paṭṭhāya gacchamānā gamanāgamanakāle jaṇṇukehi nipatitvā vanditvā pakkamanti. Ekadivasañhi hatthimārako taṃ kiriyaṃ disvā – “ahaṃ ime kicchena māremi, ime ca gamanāgamanakāle paccekabuddhe vandanti, kiṃ nu kho disvā vandantī”ti cintento – “kāsāva”nti sallakkhetvā, “mayāpi idāni kāsāvaṃ laddhuṃ vaṭṭatī”ti cintetvā ekassa paccekabuddhassa jātassaraṃ oruyha nhāyantassa tīre ṭhapitesu kāsāvesu cīvaraṃ thenetvā tesaṃ hatthīnaṃ gamanāgamanamagge sattiṃ gahetvā sasīsaṃ pārupitvā nisīdati. Hatthino taṃ disvā – “paccekabuddho”ti saññāya vanditvā pakkamanti. So tesaṃ sabbapacchato gacchantaṃ sattiyā paharitvā māretvā dantādīni gahetvā sesaṃ bhūmiyaṃ nikhaṇitvā gacchati. Aparabhāge bodhisatto hatthiyoniyaṃ paṭisandhiṃ gahetvā hatthijeṭṭhako yūthapati ahosi. Tadāpi so tatheva karoti. Mahāpuriso attano parisāya parihāniṃ ñatvā, “kuhiṃ ime hatthī gatā, mandā jātā”ti pucchitvā, “na jānāma, sāmī”ti vutte, “kuhiñci gacchantā maṃ anāpucchitvā na gamissanti, paripanthena bhavitabba”nti vatvā, “ekasmiṃ ṭhāne kāsāvaṃ pārupitvā nisinnassa santikā paripanthena bhavitabba”nti parisaṅkitvā, “taṃ pariggaṇhituṃ vaṭṭatī”ti sabbe hatthī purato pesetvā sayaṃ pacchato vilambamāno āgacchati. So sesahatthīsu vanditvā gatesu mahāpurisaṃ āgacchantaṃ disvā cīvaraṃ saṃharitvā sattiṃ vissajji. Mahāpuriso satiṃ uppaṭṭhapetvā āgacchanto pacchato paṭikkamitvā sattiṃ vivajjesi. Atha naṃ “iminā ime hatthī nāsitā”ti gaṇhituṃ pakkhandi. Itaro ekaṃ rukkhaṃ purato katvā nilīyi. Atha “naṃ rukkhena saddhiṃ soṇḍāya parikkhipitvā gahetvā bhūmiyaṃ pothessāmī”ti tena nīharitvā dassitaṃ kāsāvaṃ disvā – “sacāhaṃ imasmiṃ dubbhissāmi, anekasahassesu me buddhapaccekabuddhakhīṇāsavesu lajjā nāma bhinnā bhavissatī”ti adhivāsetvā – “tayā me ettakā ñātakā nāsitā”ti pucchi. “Āma, sāmī”ti. “Kasmā evaṃ bhāriyakammamakāsi, attano ananucchavikaṃ vītarāgānaṃ anucchavikaṃ vatthaṃ paridahitvā evarūpaṃ kammaṃ karontena bhāriyaṃ tayā kata”nti. Evañca pana vatvā uttaripi naṃ niggaṇhanto “anikkasāvo kāsāvaṃ…pe… sa ve kāsāvamarahatī”ti gāthaṃ vatvā – “ayuttaṃ te kata”nti vatvā taṃ vissajjesi.

Satthā imaṃ dhammadesanaṃ āharitvā, “tadā hatthimārako devadatto ahosi, tassa niggāhako hatthināgo ahamevā”ti jātakaṃ samodhānetvā, “na, bhikkhave, idāneva, pubbepi devadatto attano ananucchavikaṃ vatthaṃ dhāresiyevā”ti vatvā imā gāthā abhāsi –

“Anikkasāvo kāsāvaṃ, yo vatthaṃ paridahissati;
Apeto damasaccena, na so kāsāvamarahati.

“Yo ca vantakasāvassa, sīlesu susamāhito;
Upeto damasaccena, sa ve kāsāvamarahatī”ti.

Chaddantajātakenāpi (jā. 1.16.122-123) ca ayamattho dīpetabbo.

Tattha anikkasāvoti rāgādīhi kasāvehi sakasāvo. Paridahissatīti nivāsanapārupanaattharaṇavasena paribhuñjissati. Paridhassatītipi pāṭho. Apeto damasaccenāti indriyadamena ceva paramatthasaccapakkhikena vacīsaccena ca apeto, viyutto pariccatthoti attho. Na soti so evarūpo puggalo kāsāvaṃ paridahituṃ nārahati. Vantakasāvassāti catūhi maggehi vantakasāvo chaḍḍitakasāvo pahīnakasāvo assa. Sīlesūti catupārisuddhisīlesu. Susamāhitoti suṭṭhu samāhito suṭṭhito. Upetoti indriyadamena ceva vuttappakārena ca saccena upagato. Sa veti so evarūpo puggalo taṃ gandhakāsāvavatthaṃ arahatīti.

Gāthāpariyosāne so disāvāsiko bhikkhu sotāpanno ahosi, aññepi bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsu. Desanā mahājanassa sātthikā ahosīti.

Devadattavatthu sattamaṃ.

I. 7. Devadatta Wears an Unbecoming Robe

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

9. Whoever, not free from impurity, lacking self-restraint and truth,
Puts on the yellow robe, he is not worthy of the yellow robe.

10. Whoever is free from impurity, firmly established in the moral precepts,
Possessed of self-restraint and truth, he is worthy of the yellow robe.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Devadatta’s assumption of the yellow robe at Rājagaha.

For on a certain occasion the two Chief Disciples, each with a retinue of five hundred monks, took leave of the Teacher and went from Jetavana to Rājagaha. The residents of Rājagaha united by twos and threes and in larger groups and gave alms in accordance with the custom of giving alms to visitors. Now one day Venerable Sāriputta said, in making the Address of Thanksgiving, “Lay brethren, one man himself gives alms, but does not urge another to give; that man receives in succeeding states of existence the blessing of wealth, but not the blessing of a retinue. Another man urges his neighbor to give, but does not himself give; that man receives in succeeding states of existence the blessing of a retinue, but not the blessing of wealth. Another man neither himself gives alms nor urges others to give; in succeeding states of existence that man receives not so much as a bellyful of sour rice-gruel, but is forlorn and destitute. Yet another both himself gives alms and urges his neighbor to give; that man in succeeding states of existence, in a hundred states of existence, in a thousand states of existence, in a hundred thousand states of existence, receives both the blessing of wealth and the blessing of a retinue.” Thus did Venerable Sāriputta preach the Law.

A certain wise man heard him and thought to himself, “Sir, the preaching of the Law is indeed a wonderful thing; well has the means of happiness been expounded. It behooves me to do works of merit productive of these two Attainments.” So he invited the Elder to take a meal with him, saying, “Reverend Sir, accept my hospitality for to-morrow.” “How many monks have you need of, lay disciple?” “But how many monks are there in your retinue, Reverend Sir?” “A thousand, lay disciple.” “Bring all your monks with you to-morrow and accept my hospitality, Reverend Sir.” The Elder accepted the invitation.

The lay disciple went through the street of the city urging others to give alms, saying, “Men and women, I have invited a thousand monks. How many monks will you be able to provide with food? how many will you?” The people promised to provide food, each according to his means, saying, “We will give to ten; we will give to twenty; we will give to a hundred.” The lay disciple then directed them to bring their offerings to one place, saying, “Well then, let us assemble in one place and cook the food as one body. All of you bring together in one place the sesame, rice, ghee, molasses, and other articles of food.”

Now a certain householder presented a perfumed yellow robe worth a hundred thousand pieces of money, saying, “If your combined alms prove insufficient, sell this and devote the proceeds to supplying the deficiency; if they are sufficient, you may give it to whatever monk you please.” The combined offerings proved sufficient for the householder’s purpose; there was nothing lacking. The lay disciple therefore said to the men, “Honorable Sirs, this yellow robe, given by a certain householder for such and such a purpose, is superfluous. To whom shall we give it?”

Some said, “Let us give it to the Elder Sāriputta.” Others said, “The Elder Sāriputta has a way of coming and going when the crops are ripe. But Devadatta is our constant companion, both on festival days and on ordinary days, and is ever ready like a water-pot. Let us give it to him.” After a long discussion it was decided by a majority of four to give the robe to Devadatta. So they gave the robe to Devadatta. Devadatta cut it in two, fashioned it, dyed it, put one part on as an undergarment and the other as an upper garment, and wore it as he walked about. When they saw him wearing his new robe, they said, “This robe does not become Devadatta, but does become the Elder Sāriputta. Devadatta is going about wearing under and upper garments which do not become him.”

Now a certain monk who lived in foreign parts came from Rājagaha to Sāvatthi, and when he had paid obeisance to the Teacher and expressed his pleasure at seeing him, the Teacher asked him about the well-being of the two Chief Disciples. The monk thereupon told him the whole episode of the robe from beginning to end. Said the Teacher, “Monks, this is not the first time Devadatta has worn robes unbecoming to him; in a previous state of existence also he wore robes which did not become him.” So saying, he related the following

7 a. Story of the Past: The elephant-hunter and the noble elephant

Once upon a time, when Brahmadatta ruled at Benāres, there dwelt at Benāres a certain elephant-hunter who made a living by killing elephants and marketing their tusks, claws, entrails, and solid flesh. Now in a certain forest several thousand elephants found pasture. One day, when they went to the forest, they saw some Private Buddhas. From that day, both going and coming, they fell down on their knees before the Private Buddhas before proceeding on their way.

One day the elephant-hunter saw their actions. Thought he, “It is only with great difficulty that I can kill these beasts. But every time they come and go they pay obeisance to the Private Buddhas. What is it they see that makes them pay obeisance?” Coming to the conclusion that it was the yellow robe, he thought to himself, “I too ought to get a yellow robe immediately.” So he went to a pool used by a certain Private Buddha, and while the latter was bathing and his robes lay on the bank, stole his robes. Then he went and sat down on the path by which the elephants came and went, with a spear in his hand and the robe drawn over his head. The elephants saw him, and taking him for a Private Buddha, paid obeisance to him, and then went their way. The elephant which came last of all he killed with a thrust of his spear. And taking the tusks and other parts which were of value and burying the rest of the dead animal in the ground, he departed.

Later on the Future Buddha, who had been reborn as an elephant, became the leader of the elephants and the lord of the herd. At that time also the elephant-hunter was pursuing the same tactics as before. The Great Being observed the diminution of his retinue and asked, “Where do these elephants go that this herd has become so small?” “That we do not know, master.” The Great Being thought to himself, “Wherever they go, they must not go without my permission.” Then the suspicion entered his mind, “The fellow who sits in a certain place with a yellow robe drawn over his head must be causing the trouble; he will bear watching,”

So the leader of the herd sent the other elephants on ahead and brought up the rear himself, walking very slowly. When the rest of the elephants had paid obeisance and passed on, the elephant-hunter saw the Great Being approach, whereupon he gathered his robe together and threw his spear. The Great Being fixed his attention as he approached, and stepping backwards, avoided the spear. “This is the man who killed my elephants,” thought the Great Being, and forthwith sprang forwards to seize him. But the elephant-hunter jumped behind a certain tree and crouched down. Thought the Great Being, “I will encircle both the hunter and the tree with my trunk, seize the hunter, and dash him to the ground.” Just at that moment the hunter removed the yellow robe and allowed the elephant to see it. When the Great Being saw it, he thought to himself, “If I offend against this man, the reverence which thousands of Buddhas, Private Buddhas, and Arahats feel towards me will of necessity be lost.” Therefore he kept his patience. Then he asked the hunter, “Was it you that killed all these kinsmen of mine?” “Yes, master,” replied the hunter. “Why did you do so wicked a deed? You have put on robes which become those who are free from the passions, but which are unbecoming to you. In doing such a deed as this, you have committed a grievous sin.” So saying, he rebuked him again for the last time, saying,

Whoever, not free from impurity, lacking self-restraint and truth,
Puts on the yellow robe, he is not worthy of the yellow robe.

Whoever is free from impurity, firmly established in the moral precepts,
Possessed of self-restraint and truth, he is worthy of the yellow robe.

“Unbecoming is the deed you have done,” said he.

When the Teacher had ended this lesson, he identified the characters in the Jātaka as follows, “At that time the elephant-hunter was Devadatta, and the noble elephant who rebuked him was I myself. Monks, this is not the first time Devadatta has worn a robe which was unbecoming to him; he did the same thing in a previous state of existence also.” So saying, he pronounced the following Stanzas,

9. Whoever, not free from impurity, lacking self-restraint and truth,
Puts on the yellow robe, he is not worthy of the yellow robe.

10. Whoever is free from impurity, firmly established in the moral precepts,
Possessed of self-restraint and truth, he is worthy of the yellow robe.

  1. Cf. Jātaka 221: ii. 196-199. Text: N i. 77-83.
  2. Ed. note: Paccekabuddha.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 1, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp có dẫn kệ này