Y ca-sa màu vàng: màu y, ba y và hình ruộng lúa
Hình ảnh các vị sư Nam tông đắp y vàng đi khất thực buổi sáng đã quen thuộc với nhiều người. Nhưng vì sao lại là màu ấy, vì sao y được may từ nhiều mảnh, và mỗi vị có mấy tấm y? Luật tạng Pāli ghi lại khá rõ những điều này.
Chữ “ca-sa” từ đâu ra
Trong kinh, người xuất gia được tả bằng một câu cố định: “cạo râu tóc, khoác y ca-sa, rời nhà đi vào đời sống không nhà” (Trường Bộ 2, đoạn 41.6). Chữ Pāli kāsāya chỉ màu của vải nhuộm bằng chất chát (kasāva) lấy từ cây cỏ, một màu vàng sậm ngả nâu. Tiếng Việt “ca-sa” phiên âm từ chữ ấy, qua chữ Hán. Như vậy, “y vàng” trong kinh không phải màu vàng chói của vàng bạc, mà là màu của vỏ cây, rễ cây nấu lên.
Luật tạng nói về thuốc nhuộm
Luật tạng kể thuở ban đầu, có vị Tỷ-kheo nhuộm y bằng phân bò, bằng đất sét vàng. Đức Phật dạy:
- “Này các tỳ khưu, ta cho phép sáu loại thuốc nhuộm: thuốc nhuộm từ rễ cây, thuốc nhuộm từ thân cây, thuốc nhuộm từ vỏ cây, thuốc nhuộm từ lá cây, thuốc nhuộm từ bông hoa, thuốc nhuộm từ trái cây.”
Luật tạng, Đại Phẩm, chương Y, đoạn 10.1.1–10.1.5
Cùng chương ấy, Luật cấm đắp y toàn màu xanh, toàn màu vàng (pīta), toàn màu đỏ, toàn màu đỏ thắm, toàn màu đen, cùng hai màu nhuộm khác (mahāraṅgaratta, mahānāmaratta) (đoạn 29.1.18). Vì thế màu y là màu nhuộm từ cây cỏ, không phô trương. Theo truyền thống, tùy loại cây nhuộm và tập quán mỗi nơi, y có thể ngả vàng cam, vàng nghệ, nâu đất hay nâu đỏ. Màu nào cũng là y ca-sa.
Hình ruộng lúa xứ Ma-kiệt-đà
Nếu nhìn kỹ một tấm y, bạn sẽ thấy nó được ghép từ nhiều ô chữ nhật, có đường viền như bờ ruộng. Luật tạng kể nguồn gốc:
Sau đó, khi đã ngự tại thành Rājagaha theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành đến Dakkhiṇāgiri. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy mảnh ruộng ở Magadha được kết nối bằng những khoảnh vuông vức, được kết nối bằng những đường biên xung quanh, được kết nối bằng những đường biên ngắn ở giữa, được kết nối bằng những mảnh vuông ở chỗ giao nhau, sau khi nhìn thấy đã bảo đại đức Ānanda rằng: - “Này Ānanda, ngươi có nhìn thấy mảnh ruộng ở Magadha của chúng ta được kết nối bằng những khoảnh vuông vức, được kết nối bằng những đường biên xung quanh, được kết nối bằng những đường biên ngắn ở giữa, được kết nối bằng những mảnh vuông ở chỗ giao nhau không?” - “Bạch ngài, thưa có.” - “Này Ānanda, ngươi có khả năng tạo nên các y có kiểu mẫu như thế cho các vị tỳ khưu không?” - “Bạch Thế Tôn, con có khả năng.”
Luật tạng, Đại Phẩm, chương Y, đoạn 12.1.2–12.1.6
Tôn giả A-nan (Ānanda) may xong, Đức Phật khen Ngài hiểu rộng điều được nói vắn tắt, và giải thích: y được cắt thành mảnh như vậy thì “bị dao cắt nên không còn giá trị, hợp với Sa-môn, và kẻ trộm không ham”. Từ đó Ngài cho phép cả ba y đều may bằng những mảnh cắt rời (đoạn 12.2.2–12.2.4). Một tấm vải quý, khi bị cắt nhỏ rồi ghép lại, không còn ai muốn lấy để bán. Đó là cách Luật giữ cho y là y, không trở thành của cải.
Ba y của một vị Tỷ-kheo
Luật tạng kể trên đường đến Tỳ-xá-ly (Vesālī), Đức Phật thấy nhiều Tỷ-kheo mang theo quá nhiều y, đội cả trên đầu, vắt cả trên vai, và Ngài muốn đặt giới hạn. Một đêm giữa mùa đông giá, Ngài ngồi ngoài trời, mỗi khi thấy lạnh thì đắp thêm một tấm, rồi kết luận ngay cả người chịu lạnh kém cũng sống được với ba y, trong đó y ngoài may hai lớp. Ngài dạy: “Ta cho phép ba y: y hai lớp đắp ngoài, thượng y một lớp, y nội một lớp” (đoạn 13.1.2–13.5.8). Ba y ấy là saṅghāṭi, uttarāsaṅga và antaravāsaka. Luật cũng cho phép Tỷ-kheo nhận vải y do gia chủ dâng, và ai muốn thì vẫn có thể giữ hạnh mặc y lượm từ vải bỏ (đoạn 1.35.2–1.35.4). Lễ dâng y Kathina sau mùa an cư cũng có gốc trong Luật tạng: Đức Phật cho phép các Tỷ-kheo đã an cư xong làm lễ Kathina (Luật tạng, Đại Phẩm, chương Kathina, đoạn 1.3.2), chương này nằm ngay trước chương Y.
Khi một người được cho xuất gia làm Sa-di, việc đầu tiên là cạo râu tóc và đắp y ca-sa, rồi mới đọc lời quy y Tam Bảo (Luật tạng, Đại Phẩm, chương thứ nhất, đoạn 54.3.4). Lời quy y ấy chính là lời trong Tiểu Tụng 1.
Xứng với y vàng
Pháp Cú có hai câu kệ, theo chú giải được nói về Đề-bà-đạt-đa (Devadatta):
Ai mặc áo cà-sa.
tâm chưa rời uế trược,
không tự chế, không thực,
không xứng áo cà-saAi rời bỏ uế trược,
Pháp Cú, kệ 9–10
giới luật khéo nghiêm trì,
tự chế, sống chơn thực,
thật xứng áo cà-sa.
Màu y không làm nên vị tu sĩ; giới hạnh mới làm nên. Nhưng màu y cũng nhắc người đắp mỗi ngày rằng mình đã chọn một đời sống khác. Thử hình dung một vị sư trẻ mới xuất gia, sáng nào cũng gấp y cho thẳng nếp trước khi đi khất thực. Việc gấp y ấy là một lần nhắc mình: hôm nay mình đắp y của bậc Thánh, hãy sống cho xứng.
Một gợi ý nhỏ
Lần tới thấy một vị sư đắp y đi ngang, bạn thử nhìn kỹ những ô ruộng nhỏ trên tấm y, nhớ đến cánh đồng Ma-kiệt-đà hơn hai nghìn năm trước, và chắp tay kính chào. Nếu muốn dâng y, bạn có thể hỏi chùa vào mùa Kathina sau an cư; bài Cúng dường chư Tăng có vài lưu ý.
Viết bởi Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Luật tạng, Đại Phẩm, chương Y (Cīvarakkhandhaka), Kd 8 trên SuttaCentral.
- Luật tạng, Đại Phẩm, chương Kathina (Kathinakkhandhaka), Kd 7 trên SuttaCentral.
- Luật tạng, Đại Phẩm, chương thứ nhất (Mahākhandhaka), Kd 1 trên SuttaCentral.
- Trường Bộ 2, Kinh Sa-môn Quả (Sāmaññaphala Sutta), DN 2 trên SuttaCentral.
- Pháp Cú, kệ 9–10, Dhp 1–20 trên SuttaCentral.
- Tiểu Tụng 1, Tam Quy (Saraṇattaya), Khp 1 trên SuttaCentral.
- Các đoạn Luật tạng trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của Tỳ khưu Indacanda (Tam Tạng Pāli - Việt, tamtangpaliviet.net), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.