Tích Tiểu Hắc Và Đại Hắc
Mahākāḷattheravatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 7–8 Kinh Pháp Cú, phẩm Song Yếu, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 07-08)
07. “Subhānupassiṃ viharantaṃ,
Indriyesu asaṃvutaṃ;
Bhojanamhi amattaññuṃ,
Kusītaṃ hīnavīriyaṃ;
Taṃ ve pasahati māro,
Vāto rukkhaṃ’va dubbalaṃ”
“Ai sống theo thị dục,
Các căn chẳng thu thúc,
Ăn uống vô độ điều,
Biếng lười không tận lực,
Ma thắng người ấy như,
Gió đè cây yếu sức”
08. “Asubhānupassiṃ viharantaṃ,
Indriyesu susaṃvutaṃ;
Bhojanamhi ca mattaññuṃ,
Saddhaṃ āraddhavīriyaṃ;
Taṃ ve nappasahati māro,
Vāto selaṃ’va pabbatanti”
“Ai bất tịnh quán tu,
Các căn khéo nhiếp thu,
Ăn uống có tiết độ,
Chánh tín và cần cù,
Ma chẳng thắng người ấy.
Như gió thổi sơn đầu”
Kệ Pháp Cú 7 và 8 nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết ra khi Ngài ngự gần thành Setabya, trong rừng Simsapa, đề cập đến hai anh em Cullakāḷa và Mahākāḷa.
Cullakāḷa (Tiểu Hắc), Majjhimakāḷa (Trung Hắc) và Mahākāḷa (Đại Hắc) là ba anh em Trưởng giả ở thành Setabya. Trong ba người, anh cả và em út chuyên đi xứ xa bổ hàng trở về bằng năm trăm cỗ xe bò, người giữa ở lại xứ nhà lo việc buôn bán.
Công việc hợp tác buôn bán giữa ba anh em vẫn trôi chảy đều đều như vậy, cho đến một lúc nọ sau khi chất đủ thứ hàng hóa đầy năm trăm cỗ xe bò. Hai vị thương khách lên đường trở về thành Sāvatthī. Đến khoảng giữa đường của thành Sāvatthī và chùa Jetavana. Họ cho đoàn xe dừng lại và mở thả bò ra, nghỉ đêm tại đó.
Sáng hôm sau, Trưởng giả Mahākāḷa trông thấy các Thánh Thinh Văn ở thành Sāvatthī, tay cầm hương hoa lễ vật đi nghe thuyết pháp. Trưởng giả Mahākāḷa bèn hỏi:
- Mấy người nầy đi đâu vậy?
Khi biết mục đích của cuộc hành hương. Trưởng giả Mahākāḷa nói thầm: “Ta cũng đi nữa”.
Nghĩ rồi Trưởng giả kêu em út và dặn rằng:
- Nầy em! Em hãy ở đây trông chừng đoàn xe, để anh đi nghe thuyết pháp.
Dặn em rồi, Mahākāḷa ra đi, đến đảnh lễ Đức Như Lai xong, ngồi xuống một nơi ngoài vòng cử tọa.
Ngày ấy, tùy theo trình độ của Mahākāḷa, Đức Bổn Sư đã thuyết tuần tự pháp, giảng giải kinh Khổ Uẩn và các kinh khác nữa, chỉ rành chỗ tai hại, lầm lỗi, ô nhiễm của Ngũ trần dục lạc.
Mahākāḷa nghe pháp xong tự nghĩ: “Trước sau gì con người cũng phải một lần ra đi, phủi tay bỏ hết những vật hiện hữu, một mình lẻ loi sang cảnh giới khác, của tiền, thân quyến nào có ai theo. Vậy ta còn nấn ná ở nhà làm gì? Ta nhất định sẽ xuất gia”.
Chờ cho đại chúng trong hội trường đảnh lễ Đức Bổn Sư ra về hết. Mahākāḷa đến xin Đức Bổn Sư cho mình được xuất gia.
Đức Bổn Sư bèn hỏi:
- Ông còn có ai mà phải từ giã không?
- Bạch Ngài! Con còn có đứa em trai út.
- Nếu vậy, ông hãy trở về từ giã đứa em trai út của ông đi.
- Sādhu! Bạch Ngài.
Đáp xong Mahākāḷa trở về chỗ đoàn xe, tìm gặp Cullakāḷa và bảo: “Nầy em! Em hãy nhận làm chủ hết cả tài vật nầy đi”.
- Còn anh thì sao? Thưa anh! Anh sẽ đi đâu?
- Anh sẽ đến xuất gia với Đức Bổn Sư.
Cullakāḷa viện đủ lý lẽ để anh mình từ bỏ ý định xuất gia, nhưng không được. Rốt cuộc Cullakāḷa bảo:
- Sādhu! Lành thay, xin Trưởng huynh hãy làm theo ý định.
Mahākāḷa bèn đến xuất gia với Đức Bổn Sư.
Kế đó, Cullakāḷa cũng xuất gia, nhưng trong tâm tính thầm rằng: “Hễ lôi kéo anh ta ra được rồi thì ta cũng sẽ hoàn tục”. Thời gian sau, Mahākāḷa thọ Cụ túc giới, tu lên bậc trên xong, bèn đến đảnh lễ Đức Bổn Sư và hỏi về hai pháp trọng yếu trong Phật giáo.
Sau khi nghe Đức Bổn Sư thuyết minh về hai pháp ấy, Mahākāḷa bạch rằng:
- Bạch Ngài! Con nay đã lớn tuổi rồi mới xuất gia, chắc không kham nổi Pháp học cho trọn đủ được, nhưng con có thể hy vọng thành tựu pháp hành Minh Sát.
Thế rồi, Tỳ khưu Mahākāḷa học lấy đề mục bất tịnh (tử thi) để niệm cho đắc quả A La Hán và thọ trì chi đầu đà ngụ nơi mộ địa (Sosanikadhutaṅga).
Lối cuối canh đầu, khi mọi người đều an giấc, Trưởng lão Mahākāḷa đi vào mộ địa hành thiền và khi mặt trời gần sáng, trước khi thiên hạ thức dậy, Trưởng lão trở về chùa.
Khi ấy, người giữ mộ địa là một phụ nữ, tên là Kāḷī, có phận sự thiêu xác chết, thấy bóng Trưởng lão Māhākāḷa thấp thoáng giữa canh khuya, khi đứng, khi ngồi, hoặc đi tới đi lui trong nghĩa địa, bèn tự hỏi: “Ai mà vào chi đây, ta phải rình coi cho biết mặt”.
Nhưng rình coi mãi cũng không thể đoán biết được người ấy là ai? Một hôm Kāḷī thắp một cây đèn treo trong nhà thiêu xác rồi dắt con trai, con gái ra núp ở một phía bên ngoài. Gần nửa đêm Kāḷī thấy Trưởng lão đi đến, bèn ra đảnh lễ Trưởng lão và hỏi:
- Bạch Ngài! Một vị Sư cao quí như Ngài mà ngụ ở chỗ nầy sao?
- Phải đó, cô tín nữ.
- Bạch Ngài, Ngài cư ngụ nơi mộ địa cần phải tuân theo một vài thủ tục.
Trưởng lão không nói: “Cô tưởng rằng ta sẽ làm theo những qui tắc của cô đưa ra hay sao?”. Nhưng Trưởng lão chỉ hỏi:
- Nầy cô tín nữ! Tôi phải tuân hành theo những thủ tục gì?
- Bạch Ngài! Người cư ngụ nơi mộ địa cho vị trụ trị chùa mình và cho vị xã trưởng trong làng mình hay biết.
- Vì lý do nào?
- Dạ! Bởi vì bọn ăn trộm sau khi lấy được đồ, khi bị chủ nhà rượt đuổi theo, túng nước thường hay ném tang vật vào trong mộ địa để thoát thân. Bởi thế người ta mới hăm dọa những người cư ngụ trong mộ địa, nhưng nếu Ngài đã có trình báo đàng hoàng với nhà chức trách, thì khỏi lo phiền phức về sau vì đã được những người có thẩm quyền chứng nhận rằng: “Chúng tôi chứng nhận vị Đại đức nầy có khai báo trong thời gian cư ngụ nơi đây vị nầy không phải là kẻ trộm”. Do đó mà Ngài cần trình báo với người hữu trách đúng theo thủ tục.
Trưởng lão lại hỏi:
- Ngoài ra còn phải làm gì nữa không?
- Bạch Ngài, trong thời gian cư ngụ nơi mộ địa, Ngài phải kiêng cử cả thịt, cá, mè, trứng, đường mật, bột… Ngài không được ngủ ngày, không nên lười biếng. Ngài phải luôn luôn tinh cần dũng mãnh, không có sự gian dối, phải có nhiều thiện chí. Buổi tối chờ khi mọi người ngủ hết rồi, Ngài mới nên từ chùa đến đây. Gần sáng mọi người chưa thức dậy, Ngài nên trở về chùa.
Bạch Ngài, nếu như Ngài cư ngụ nơi đây, hành y như thế mà đạt đến mục đích tối cao của đời tu sĩ, thì hễ khi nào có tử thi mang đến vứt bỏ tại đây, tôi sẽ đem xác ấy vô nhà thiêu dùng hương hoa lễ vật cúng tế vong linh của người quá cố.
Nhược bằng Ngài không thành tựu được theo cách ấy thì tôi sẽ đặt tử thi lên giàn hỏa châm lửa đốt, lại lấy cây cọ nhồi đâm cho xì nước, rồi lôi ra ngoài dùng búa đẻo chặt đứt ra nhiều khúc ném trở vào lửa, để Ngài chứng kiến rồi lấy đó làm đề mục tham thiền.
Nghe xong, Trưởng lão đáp:
- Sādhu! Lành thay vậy khi cô thấy có xác nào có thể làm đề mục niệm tử thi được, thì báo tin cho ta.
Sau đó, trong khi chờ đợi, Trưởng lão Mahākāḷa vẫn noi theo bổn nguyện hành Sa môn pháp ở nơi mộ địa.
Trưởng lão Cullakāḷa vốn tánh hoạt bát, hiếu động, không thích ngồi yên, chỉ tưởng nghĩ đến gia đình, thương nhớ vợ con, Trưởng lão nói thầm: “Anh ta lựa chi con đường tu hành quá khổ khắc như thế không biết”.
Khi ấy, có một thiếu phụ con nhà giàu sang vướng bịnh thình lình, sớm đau chiều chết, nên thi thể không sút kém tồi tàn.
Đầu hôm, thân quyến bạn bè của cô đưa xác cô ta vào mộ địa với củi khô, dầu và các món vật dụng để thiêu xác, rồi bảo cô giữ mộ địa: “Hãy thiêu xác nầy đi”.
Trả trước lệ phí, những người ấy giao xác cho cô giữ mộ địa.
Khi cô giữ mộ địa cởi hết y phục của thiếu phụ chết ra. Thì thấy lồ lộ nguyên cả thân hình, tròn trịa xinh xắn, một màu vàng ánh. Cô ta nghĩ ngay rằng: “Tử thi nầy là một đề mục thích ứng vừa cho ta thỉnh Trưởng lão tới quán niệm”.
Cô ta lập tức đi tìm Trưởng lão, đảnh lễ xong rồi bạch rằng:
- Tôi vừa mới được một tử thi làm đề mục niệm tốt vô cùng, xin thỉnh Ngài đến quán sát.
- Sādhu! Lành thay!
Đáp lời xong, Trưởng lão đến ngay, khiến giở lớp y phục che phủ trên tử thi và nhìn kỹ từ gót chân lên ngọn tóc. Rồi Trưởng lão bảo: “Hãy ném cái xác thân đẹp đẽ vàng ánh nầy vào lửa và khi nào lửa bắt đầu cháy xém xác thân thì hoan hỷ báo cho ta biết”.
Dặn rồi Trưởng lão trở về chỗ cũ của mình và ngồi xuống. Cô giữ mộ địa làm theo lời dặn rồi đến báo cho Trưởng lão biết. Trưởng lão đến quan sát tử thi, khi lửa bén cháy tới thịt thì xác thân trở nên màu giống như con bò cái, rồi hai chân rớt ra đánh tòn ten, hai tay rút lại cong queo, chỗ trán không còn chút da.
Trưởng lão nghĩ thầm: “Cái thi hài nầy khi nãy, ai nhìn tới ắt cũng sanh lòng thương yêu lưu luyến, mà bây giờ tiêu hoại rã tan như vậy”.
Trở về chỗ cũ, Trưởng lão ngồi xuống, quán xét thấy rõ lý hoại diệt (Khayavaya) cảm kích ngâm lên mấy câu kệ vô thường:
“Aniccā vata saṅkhārā
Uppādavayadhammino
Uppajjitvā nirujjhanti
Tesaṃ vūpasamo sukhoti”.
Lược dịch:
“Hữu vi quả thật chẳng miên trường,
Sanh diệt xưa nay vẫn sự thường.
Các pháp tự sanh rồi tự diệt,
Diệt sanh tịch tịnh mới an khương”.
Đọc xong bài kệ, Trưởng lão tăng tiến pháp Thiền Minh sát, đắc quả A La Hán với Tuệ phân tích.
Lúc Trưởng lão đắc A La Hán thì Đức Bổn Sư cùng đại chúng Tỳ khưu cất bước du hành ngự đến gần thành Setabya vào tịnh cư trong rừng Siṃsapa.
Mấy bà vợ của Cullakāḷa nghe đồn: “Đức Bổn Sư đã về gần đây”, bèn bàn tính với nhau: “Chúng ta sẽ bắt chồng ta trở lại mới được”, tính rồi họ cho người đi thỉnh Đức Bổn Sư.
Theo thông lệ của chư Phật, nhà nào muốn thỉnh Phật và chư Tăng thì phải sắp đặt chỗ ngồi cho có trật tự đúng pháp, thường thì một vị sư được phái đến đó trước để chỉ biểu cách thức như vậy: Ngay chính giữa là chỗ danh dự để Đức Phật ngự một mình, phía phải là chỗ của Đại đức Sārīputta, phía tay trái là chỗ của Đại đức Moggallāna, kể từ đó sắp hai dãy ghế của chư Tăng.
Lúc ấy, Đại đức Mahākāḷa đang đứng trong chỗ để y bát, bèn bảo Trưởng lão Cullakāḷa: “Sư về đó chỉ biểu sắp đặt chỗ ngồi trước đi”.
Từ lúc người nhà trông thấy Cullakāḷa, họ bày ra chuyện trớ trêu, đem chỗ ghế thấp sắp ngay hàng đầu nơi chỗ dành riêng cho chư Đại đức và sắp những ghế cao vào các nơi những vị mới tu.
Tỳ khưu Cullakāḷa nhắc đi nhắc lại:
- Đừng làm như vậy, đừng sắp ghế thấp ở chỗ cao và ghế cao ở chỗ thấp.
Bảo đến lần thứ ba, họ đã chẳng thèm nghe mà còn hỏi lại:
- Chớ còn ông làm gì mà chẳng chịu ra tay sắp chỗ ngồi, cứ ở không đi tới đi lui hoài vậy? Lúc đi tu ông có từ giã ai không? Ai cho ông xuất gia? Ông về đây làm gì?
Nói rồi họ ráp nhau xé rách y trong, y ngoài của Trưởng lão Cullakāḷa, lấy thường phục màu trắng thay cho ông rồi nói:
- Bây giờ ông đi thỉnh Đức Bổn Sư đi để chúng tôi ở nhà mà sắp đặt chỗ ngồi.
Vừa mới tu lên Tỳ khưu chưa có hạ nào, kế hoàn tục vừa theo sở thích nên Cullakāḷa chẳng chút hổ thẹn, cũng không thắc mắc ngại ngùng vì lối phục sức đó. Ông ta đi ngay đến nơi Đức Bổn Sư, đảnh lễ Ngài xong, xin rước luôn chư Tăng có Đức Phật làm chủ tọa trở về nhà.
Mấy bà vợ của Trưởng lão Mahākāḷa tính với nhau: “Hai cô nầy đã bắt được chồng họ quay trở về, chúng ta phải bắt chồng chúng ta quay trở về mới được”.
Tính rồi, mấy bà chờ chư Tăng độ ngọ xong, bèn thỉnh Đức Bổn Sư và chư Tăng ngày hôm sau, thọ thực nơi nhà của mình.
Lần nầy một vị Tỳ khưu lạ đến trước, chỉ bảo cách sắp đặt chỗ ngồi, mấy bà không có cơ hội để bắt cóc chồng cũ, bèn thỉnh Đức Phật và chư Tăng an tọa xong, dâng vật thực.
Lúc bấy giờ có đủ mặt hai bà vợ của Cullakāḷa, bốn bà vợ của Majjhimakāḷa, tám bà vợ của Mahākāḷa.
Chư Tăng vị nào muốn thọ thực trong nhà thì ngồi đó dùng, còn vị nào muốn ra ngoài thì sau khi thọ bát rồi đứng dậy ra đi. Đức Bổn Sư ngồi luôn nơi đó thọ thực.
Khi Ngài dùng xong bữa, các phụ nữ ấy bạch rằng:
- Bạch Ngài! Trưởng lão Mahākāḷa còn phải ở lại tụng kinh hồi hướng phước báu, xin cung thỉnh Ngài hoan hỷ trở về trước với chư Tăng.
Đức Bổn Sư đáp: “Sādhu!”.
Rồi Ngài ra về trước, để Trưởng lão Mahākāḷa ở lại một mình. Về đến cổng thành, chư Tăng mới lên tiếng than phiền rằng:
- Tại sao Đức Tôn Sư làm như vậy, không biết là Ngài cố ý hay vô tình? Hôm qua cho Cullakāḷa về nhà trước đã làm hại cuộc đời tu hành của ông ta rồi. Hôm nay phái một vị Tỳ khưu lạ đến trước, nên không có sự tai hại nào xảy ra, bây giờ Đức Bổn Sư lại bảo Mahākāḷa ở lại một mình và Ngài ngự ra về trước, tội nghiệp Tỳ khưu Mahākāḷa giới đức chơn chánh, không biết có bị mấy bà vợ cũ làm hư phạm hạnh, kết liễu cuộc đời tu sĩ hay không?
Nghe chư Tăng bàn tán, Đức Bổn Sư dừng bước quay lại hỏi:
- Nầy các Tỳ khưu! Các ông đang nói chuyện gì vậy?
Chư Tăng lặp lại lời vừa nói với Đức Bổn Sư. Ngài nói:
- Nầy các Tỳ khưu! Các ông cũng tính rằng Mahākāḷa cũng bị như Cullakāḷa hay sao?
- Bạch Ngài! Đúng như vậy vì Cullakāḷa chỉ có hai vợ, còn Mahākāḷa có đến tám vợ. Nếu tám bà nầy ráp nhau vây bắt, ông ta đâu làm sao thoát khỏi, bạch Ngài.
Đức Bổn Sư dạy rằng:
- Nầy các Tỳ khưu! Các ông chớ nên nói như thế,
Cullakāḷa đã quen sống đời phóng túng, bằng thứ tư tưởng chạy theo dục lạc ngũ trần, như cây mềm yếu mọc dựa bờ sông. Trái lại con của Như Lai là Mahākāḷa sống không ham dục lạc, hành thiền quán bất tịnh như núi đá kiên cố không bị lay chuyển.
Nói rồi, Đức Bổn Sư ngâm hai bài kệ sau đây:
“Subhānupassiṃ viharantaṃ,
Indriyesu asaṃvutaṃ;
Bhojanamhi amattaññuṃ,
Kusītaṃ hīnavīriyaṃ;
Taṃ ve pasahati māro,
Vāto rukkhaṃ’va dubbalaṃ”
“Asubhānupassiṃ viharantaṃ,
Indriyesu susaṃvutaṃ;
Bhojanamhi ca mattaññuṃ,
Saddhaṃ āraddhavīriyaṃ;
Taṃ ve nappasahati māro,
Vāto selaṃ’va pabbatanti”
“Người ham khoái lạc vui đùa,
Lục căn chẳng giữ lại ưa ăn nhiều.
Biếng lười phận sự bỏ liều,
Ma vương mới dễ dắt dìu khiến sai.
Cây mềm gió lốc dễ bay,
Người hèn khó thoát khỏi tay dục tình”
“Lục căn khôn khéo giữ gìn,
Uống ăn tiết độ vững tin pháp thiền.
Thanh bần giữ một lời nguyền,
Quán thân bất tịnh, tinh chuyên tu hành.
Như giông đụng núi đá xanh,
Ma Vương muốn thắng cũng đành bó tay”
CHÚ GIẢI:
Subhānupassiṃ (theo thị dục): là ưa thích sự khoái lạc về thể xác, ở đây có nghĩa là buông thả tâm hồn, tư tưởng cho chạy theo đối tượng là người nữ (itthārammaṇa).
Viharantaṃ (sống): là nương vào, là cần phải có, người nam nào đang ấp ủ một bóng sắc mà mình say mê, đang nắm giữ những nét kiều diễm mà mình đắm đuối, luôn miệng trầm trồ: “Móng tay đẹp quá, ngón tay đẹp quá”… hai tay, hai chân, bắp chuối chân, ngực, háng, bụng vú, cổ, môi, răng, miệng, mũi, mắt, tai, mày, trán, tóc đẹp quá, rồi lấy tay rờ rẫm, cầm vuốt ve… tóc, răng, móng, da đẹp rồi lấy tay rờ… màu da đẹp, dung nhan đẹp… rồi chiếm hữu giữ gìn. Như vậy gọi là chạy theo khoái lạc.
Câu “Ai sống theo thị dục” chỉ hạng người như thế.
Indriyesu (các căn): là Lục căn: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý.
Asaṃvutaṃ (chẳng thu thúc): là không gìn giữ sáu căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý.
Amattaññuṃ (vô độ lượng): là không biết tri túc, không có chừng mực trong sự tìm kiếm, trong sự thọ lãnh, trong sự dùng xài.
Bhojanamhi amattaññuṃ (ăn uống vô độ): là trong sự ăn uống không biết quán tưởng, không biết từ chối, không biết phân biệt rằng: Món thực phẩm nầy hợp lẽ đạo (dhammiko), món thực phẩm kia không hợp lẽ đạo (adhammiko).
Kusītaṃ (biếng lười): là biếng lười trong sự suy xét để thấy rõ tội lỗi ác hại của Ngũ trần dục lại.
Hīnavīriyaṃ (kém tinh tấn): là không tấn lực, không cố gắng, thiếu sự tinh cần dũng mãnh hành trì trong bốn oai nghi.
Pasahati māro (Ma thắng): là ma vương thâu phục, lấn áp, đè nén.
Vāto rukkhaṃ’va dubbalanti (như gió đè cây yếu): là như giông to gió lớn thổi rạp những cây yếu ớt mọc ở bờ sông, giông gió ấy làm cho bông trái, lá đọt phải rơi rụng, nhánh nhỏ phải đứt đoạn, nhánh lớn phải gãy lìa, gốc rễ tróc bật lên, cả cây phải nằm chỏng gọng, gốc trở lên trời, ngọn cắm xuống đất.
Con người tu hành mà yếu đuối nhu nhược, cũng bị phiền não Ma vương quật ngã như thế ấy, những giới nhỏ của Tỳ khưu như tác ác, ác khẩu, Ưng học pháp ví như bông trái, lá, đọt của cây, những giới vừa là Ưng xả đối trị và Ưng đối trị ví như nhánh nhỏ, mười ba giới Tăng tàng ví như những nhánh lớn. Còn bốn giới Bất cộng trụ ví như gốc rễ của cây. Người tu mà yếu hèn chịu nằm ẹp dưới quyền lực của phiền não Ma vương để cho dục tình chi phối sai sử rồi thì bao nhiêu giới nhỏ, lớn cũng đều vi phạm và cuối cùng phải hư hỏng phạm hạnh, sa ngã là người cư sĩ bạch y, không còn dự hàng Thinh Văn đệ tử của Đức Phật nữa.
Asubhānupassiṃ (Bất tịnh quán): là quán niệm một trong mười đề bất tịnh (tử thi) hoặc niệm ba mươi hai thể trược, niệm thuận khởi đầu từ tóc là vật bất tịnh rồi đến lông móng răng da, tất cả hình hài nầy là vật bất tịnh.
Viharantaṃ (tu): là tinh tấn quán niệm như trên.
Indriyesu (các căn): là sáu căn đã giải.
Susaṃvutaṃ (khéo nhiếp thu): là dứt được say mê
nữ sắc, đóng chặt các cửa, không cho tâm tiếp xúc với Lục trần là sắc, thinh, hương vị, xúc, pháp.
Bhojanamhi ca mattaññuṃ (Ăn uống có tiết độ): là ăn uống có chừng mực, nghịch hẳn với sự vô tiết độ.
Saddhaṃ (Chánh tín): là có đức tin nơi nghiệp quả tương quan, đức tin của phàm nhơn gọi là phàm tín (lokiyassaddha) nhờ sự suy xét hành thiền và nhận thức được tin có ba cõi Dục, Sắc và Vô sắc. Đức tin của bậc Thánh nhân là Thánh tín (Lokuttarassaddha) nhờ được giải thoát mà tin nơi đạo quả và Níp Bàn.
Āraddhavīriyaṃ (Cần cù): là có sự tinh tấn bền bỉ, dẻo dai có nhiều nghị lực chịu được gian khổ.
Taṃ ve (Người ấy): là người giới hạnh như vậy.
Nappasahati māro (Ma không thắng): là Ma
vương không thể lấn áp, thâu phục.
Vāto selaṃ’va pabbatanti (như gió thổi núi đá): là như gió, dầu cho mạnh đến bực nào cũng không lay chuyển, đàn áp được khối đá to mà vững chắc như núi.
Cũng như thế, phiền não Ma vương không thể đàn áp, lay chuyển đối với tâm tánh của người có giới đức kiên cố được.
Đại đức Mahākāḷa còn ở lại một mình, bị tám bà vợ cũ ráp lại bao vây mà hỏi: “Ông đi tu có từ giã ai không? Bây giờ ông chịu hoàn tục hay không?”.
Hỏi rồi, tám bà ra tay lột bộ y vàng của Đại đức. Thấy tình thế nguy ngập, Đại đức vội vã đứng dậy, dùng thần thông bay lên phá trống nóc nhà thoát ra ngoài, theo đường hư không bay theo kịp Đức Bổn Sư lúc Ngài vừa đọc dứt hai kệ ngôn. Đại đức đứng ở giữa hư không, tán tụng kim thân của Đức Bổn Sư, rồi đáp xuống đất, đảnh lễ dưới chân Ngài.
Cùng lúc kệ ngôn chấm dứt, những Tỳ khưu có mặt nơi đó đều chứng Tu Đà Hườn.
Tiểu Hắc tâm còn luyến thế gian,
Theo anh tạm khoác bộ y vàng.
Của đời chưa chán mùi cam chỉ,
Đường đạo nào kham vị khổ toan.
Lấp lửng chờ anh, anh bước thẳng,
Chàng ràng kiếm vợ vợ lôi ngang.
Đội hoa lại mặc đồ cư sĩ,
Chẳng tị hiềm chi chẳng hổ han.
Đại Hắc lòng không luyến tục trần,
Mong tìm đạo quả bậc siêu nhân.
Nửa đêm đứng quán bên thi thể,
Hằng bữa ngồi tu sát mộ phần.
Thấu lẽ vô thường sanh với diệt,
Quên niềm phu phụ ái và ân.
Xem chừng tám ả vừa sanh sự,
Trổ nóc phi đằng giải thoát thân.
DỨT TÍCH TIỂU HẮC, ĐẠI HẮC
Mahākāḷattheravatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Subhānupassinti imaṃ dhammadesanaṃ satthā setabyanagaraṃ upanissāya siṃsapāvane viharanto cūḷakāḷamahākāḷe ārabbha kathesi.
Setabyanagaravāsino hi cūḷakāḷo, majjhimakāḷo, mahākāḷoti tayo bhātaro kuṭumbikā. Tesu jeṭṭhakaniṭṭhā disāsu vicaritvā pañcahi sakaṭasatehi bhaṇḍaṃ āharanti, majjhimakāḷo ābhataṃ vikkiṇāti. Athekasmiṃ samaye te ubhopi bhātaro pañcahi sakaṭasatehi nānābhaṇḍaṃ gahetvā sāvatthiṃ gantvā sāvatthiyā ca jetavanassa ca antare sakaṭāni mocayiṃsu. Tesu mahākāḷo sāyanhasamaye mālāgandhādihatthe sāvatthivāsino ariyasāvake dhammassavanāya gacchante disvā “kuhiṃ ime gacchantī”ti pucchitvā tamatthaṃ sutvā “ahampi gamissāmī”ti cintetvā kaniṭṭhaṃ āmantetvā, “tāta, tesu sakaṭesu appamatto hohi, ahaṃ dhammaṃ sotuṃ gacchāmī”ti vatvā gantvā tathāgataṃ vanditvā parisapariyante nisīdi. Satthā taṃ disvā tassa ajjhāsayavasena anupubbiṃ kathaṃ kathento dukkhakkhandhasuttādivasena (ma. ni. 1.163 ādayo) anekapariyāyena kāmānaṃ ādīnavaṃ okāraṃ saṃkilesañca kathesi. Taṃ sutvā mahākāḷo “sabbaṃ kira pahāya gantabbaṃ, paralokaṃ gacchantaṃ neva bhogā, na ñātakā ca anugacchanti, kiṃ me gharāvāsena pabbajissāmī”ti cintetvā mahājane satthāraṃ vanditvā pakkante satthāraṃ pabbajjaṃ yācitvā satthārā “natthi te koci apaloketabbo”ti vutte, “kaniṭṭho me, bhante, atthī”ti vatvā tena hi “apalokehi na”nti vutte, “sādhu, bhante”ti vatvā gantvā kaniṭṭhaṃ pakkosāpetvā, “tāta, imaṃ sabbaṃ sāpateyyaṃ paṭipajjāhī”ti āha. “Tumhe pana kiṃ karissatha bhātikā”ti? “Ahaṃ satthu santike pabbajissāmī”ti. So taṃ nānappakārehi yācitvā nivattetuṃ asakkonto “sādhu, sāmi, yathā ajjhāsayaṃ karothā”ti āha. Mahākāḷo gantvā satthu santike pabbaji. “Ahaṃ bhātikaṃ gahetvāva uppabbajissāmī”ti cūḷakāḷopi pabbaji. Aparabhāge mahākāḷo upasampadaṃ labhitvā satthāraṃ upasaṅkamitvā sāsane dhurāni pucchitvā satthārā dvīsu dhuresu kathitesu “ahaṃ, bhante, mahallakakāle pabbajitattā ganthadhuraṃ pūretuṃ na sakkhissāmi, vipassanādhuraṃ pana pūressāmī”ti yāva arahattā kammaṭṭhānaṃ kathāpetvā sosānikadhutaṅgaṃ samādāya paṭhamayāmātikkante sabbesu niddaṃ okkantesu susānaṃ gantvā paccūsakāle sabbesu anuṭṭhitesuyeva vihāraṃ āgacchati.
Athekā susānagopikā kālī nāma chavaḍāhikā therassa ṭhitaṭṭhānaṃ nisinnaṭṭhānaṃ caṅkamitaṭṭhānañca disvā “ko nu kho idhāgacchati, pariggaṇhissāmi na”nti pariggaṇhituṃ asakkontī ekadivasaṃ susānakuṭikāyameva dīpaṃ jāletvā puttadhītaro ādāya gantvā ekamante nilīyamānā majjhimayāme theraṃ āgacchantaṃ disvā gantvā vanditvā, “ayyo, no, bhante, imasmiṃ ṭhāne viharatī”ti āha. “Āma, upāsike”ti. “Bhante, susāne viharantehi nāma vattaṃ uggaṇhituṃ vaṭṭatī”ti. Thero “kiṃ pana mayaṃ tayā kathitavatte vattissāmā”ti avatvā “kiṃ kātuṃ vaṭṭati upāsike”ti āha. “Bhante, sosānikehi nāma susāne vasanabhāvo susānagopakānañca vihāre mahātherassa ca gāmabhojakassa ca kathetuṃ vaṭṭatī”ti. “Thero kiṃ kāraṇā”ti? “Katakammā corā dhanasāmikehi padānupadaṃ anubaddhā susāne bhaṇḍakaṃ chaḍḍetvā palāyanti, atha manussā sosānikānaṃ paripanthaṃ karonti, etesaṃ pana kathite ‘mayaṃ imassa bhaddantassa ettakaṃ nāma kālaṃ ettha vasanabhāvaṃ jānāma, acoro eso’ti upaddavaṃ nivārenti. Tasmā etesaṃ kathetuṃ vaṭṭatī”ti.
“Thero aññaṃ kiṃ kātabba”nti? “Bhante, susāne vasantena nāma ayyena macchamaṃsatilapiṭṭhatelaguḷādīni vajjetabbāni, divā na niddāyitabbaṃ, kusītena na bhavitabbaṃ, āraddhavīriyena bhavitabbaṃ, asaṭhena amāyāvinā hutvā kalyāṇajjhāsayena bhavitabbaṃ, sāyaṃ sabbesu suttesu vihārato āgantabbaṃ, paccūsakāle sabbesu anuṭṭhitesuyeva vihāraṃ gantabbaṃ. Sace, bhante, ayyo imasmiṃ ṭhāne evaṃ viharanto pabbajitakiccaṃ matthakaṃ pāpetuṃ sakkhissati, sace matasarīraṃ ānetvā chaḍḍenti, ahaṃ kambalakūṭāgāraṃ āropetvā gandhamālādīhi sakkāraṃ katvā sarīrakiccaṃ karissāmi. No ce sakkhissati, citakaṃ āropetvā aggiṃ jāletvā saṅkunā ākaḍḍhitvā bahi khipitvā pharasunā koṭṭetvā khaṇḍākhaṇḍikaṃ chinditvā aggimhi pakkhipitvā jhāpessāmī”ti āha. Atha naṃ thero “sādhu bhadde, ekaṃ pana rūpārammaṇaṃ disvā mayhaṃ katheyyāsī”ti āha. Sā “sādhū”ti paccassosi. Thero yathājjhāsayena susāne samaṇadhammaṃ karoti. Cūḷakāḷatthero pana uṭṭhāya samuṭṭhāya gharāvāsaṃ cinteti, puttadāraṃ anussarati. “Bhātiko me atibhāriyaṃ kammaṃ karotī”ti cinteti.
Athekā kuladhītā taṃmuhuttasamuṭṭhitena byādhinā sāyanhasamaye amilātā akilantā kālamakāsi. Tamenaṃ ñātakādayo dārutelādīhi saddhiṃ sāyaṃ susānaṃ netvā susānagopikāya “imaṃ jhāpehī”ti bhatiṃ datvā niyyādetvā pakkamiṃsu. Sā tassā pārutavatthaṃ apanetvā taṃmuhuttamataṃ pīṇitapīṇitaṃ suvaṇṇavaṇṇaṃ sarīraṃ disvā, “imaṃ ayyassa dassetuṃ patirūpaṃ ārammaṇa”nti cintetvā gantvā theraṃ vanditvā, “bhante, evarūpaṃ nāma ārammaṇaṃ atthi, oloketha ayyā”ti āha. Thero “sādhū”ti vatvā pārupanaṃ nīharāpetvā pādatalato yāva kesaggā oloketvā “atipīṇitametaṃ rūpaṃ suvaṇṇavaṇṇaṃ aggimhi naṃ pakkhipitvā mahājālāhi gahitamattakāle mayhaṃ āroceyyāsī”ti vatvā sakaṭṭhānameva gantvā nisīdi. Sā tathā katvā therassa ārocesi. Thero gantvā olokesi. Jālāya pahaṭapahaṭaṭṭhānaṃ kabaragāviyā viya sarīravaṇṇaṃ ahosi, pādā namitvā olambiṃsu, hatthā paṭikuṭiṃsu, ūrunalāṭaṃ niccammaṃ ahosi. Thero “idaṃ sarīraṃ idāneva olokentānaṃ apariyantakaraṃ hutvā idāneva khayaṃ pattaṃ vayaṃ patta”nti rattiṭṭhānaṃ gantvā nisīditvā khayavayaṃ sampassamāno –
“Aniccā vata saṅkhārā, uppādavayadhammino;
Uppajjitvā nirujjhanti, tesaṃ vūpasamo sukho”ti. (dī. ni. 2.221, 272; saṃ. ni. 1.186; 2.143; jā. 1.1.95) –
Gāthaṃ vatvā vipassanaṃ vaḍḍhetvā saha paṭisambhidāhi arahattaṃ pāpuṇi.
Tasmiṃ arahattaṃ patte satthā bhikkhusaṅghaparivuto cārikaṃ caramāno setabyaṃ gantvā siṃsapāvanaṃ pāvisi. Cūḷakāḷassa bhariyāyo “satthā kira anuppatto siṃsapāvana”nti sutvā “amhākaṃ sāmikaṃ gaṇhissāmā”ti pesetvā satthāraṃ nimantāpesuṃ. Buddhānaṃ pana apariciṇṇaṭṭhāne āsanapaññattiṃ ācikkhantena ekena bhikkhunā paṭhamataraṃ gantuṃ vaṭṭati. Buddhānañhi majjhimaṭṭhāne āsanaṃ paññāpetvā tassa dakkhiṇato sāriputtattherassa, vāmato mahāmoggallānattherassa, tato paṭṭhāya ubhosu passesu bhikkhusaṅghassa āsanaṃ paññāpetabbaṃ hoti. Tasmā mahākāḷatthero cīvarapārupanaṭṭhāne ṭhatvā, “cūḷakāḷa, tvaṃ purato gantvā āsanapaññattiṃ ācikkhā”ti cūḷakāḷaṃ pesesi. Tassa diṭṭhakālato paṭṭhāya gehajanā tena saddhiṃ parihāsaṃ karontā nīcāsanāni saṅghattherassa koṭiyaṃ attharanti, uccāsanāni saṅghanavakassa koṭiyaṃ. Itaro “mā evaṃ karotha, nīcāsanāni upari mā paññāpetha, uccāsanāni upari paññāpetha, nīcāsanāni heṭṭhā”ti āha. Itthiyo tassa vacanaṃ asuṇantiyo viya “tvaṃ kiṃ karonto vicarasi, kiṃ tava āsanāni paññāpetuṃ na vaṭṭati, tvaṃ kaṃ āpucchitvā pabbajito, kena pabbajitosi, kasmā idhāgatosī”ti vatvā nivāsanapārupanaṃ acchinditvā setakāni nivāsetvā sīse ca mālācumbuṭakaṃ ṭhapetvā, “gaccha satthāraṃ ānehi, mayaṃ āsanāni paññāpessāmā”ti pahiṇiṃsu. Na ciraṃ bhikkhubhāve ṭhatvā avassikova uppabbajitattā lajjituṃ na jānāti, tasmā so tena ākappena nirāsaṅkova gantvā satthāraṃ vanditvā buddhappamukhaṃ bhikkhusaṅghaṃ ādāya āgato. Bhikkhusaṅghassa pana bhattakiccāvasāne mahākāḷassa bhariyāyo “imāhi attano sāmiko gahito, mayampi amhākaṃ sāmikaṃ gaṇhissāmā”ti cintetvā punadivase satthāraṃ nimantayiṃsu. Tadā pana āsanapaññāpanatthaṃ añño bhikkhu agamāsi. Tā tasmiṃ khaṇe okāsaṃ alabhitvā buddhappamukhaṃ bhikkhusaṅghaṃ nisīdāpetvā bhikkhaṃ adaṃsu. Cūḷakāḷassa pana dve bhariyāyo, majjhimakāḷassa catasso, mahākāḷassa pana aṭṭha. Bhikkhūpi bhattakiccaṃ kātukāmā nisīditvā bhattakiccamakaṃsu, bahi gantukāmā uṭṭhāya agamaṃsu. Satthā pana nisīditvā bhattakiccaṃ kari. Tassa bhattakiccapariyosāne tā itthiyo, “bhante, mahākāḷo amhākaṃ anumodanaṃ katvā āgacchissati, tumhe purato gacchathā”ti vadiṃsu. Satthā “sādhū”ti vatvā purato agamāsi. Gāmadvāraṃ patvā bhikkhū ujjhāyiṃsu “kiṃ nāmetaṃ satthārā kataṃ, ñatvā nu kho kataṃ, udāhu ajānitvā. Hiyyo cūḷakāḷassa purato gatattā pabbajjantarāyo jāto, ajja aññassa purato gatattā antarāyo nāhosi. Idāni mahākāḷaṃ ṭhapetvā āgato, sīlavā kho pana bhikkhu ācārasampanno, karissati nu kho tassa pabbajjantarāya”nti. Satthā tesaṃ vacanaṃ sutvā nivattitvā ṭhito “kiṃ kathetha, bhikkhave”ti pucchi. Te tamatthaṃ ārocesuṃ. “Kiṃ pana tumhe, bhikkhave, cūḷakāḷaṃ viya mahākāḷaṃ sallakkhethā”ti? “Āma, bhante”. Tassa hi dve pajāpatiyo, imassa aṭṭha. “Aṭṭhahi parikkhipitvā gahito kiṃ karissati, bhante”ti? Satthā “mā, bhikkhave, evaṃ avacuttha, cūḷakāḷo uṭṭhāya samuṭṭhāya subhārammaṇabahulo viharati, papāte ṭhito dubbalarukkhasadiso. Mayhaṃ pana putto mahākāḷo asubhānupassī viharati, ghanaselapabbato viya acalo”ti vatvā imā gāthā abhāsi –
“Subhānupassiṃ viharantaṃ, indriyesu asaṃvutaṃ;
Bhojanamhi cāmattaññuṃ, kusītaṃ hīnavīriyaṃ;
Taṃ ve pasahati māro, vāto rukkhaṃva dubbalaṃ.
“Asubhānupassiṃ viharantaṃ, indriyesu susaṃvutaṃ;
Bhojanamhi ca mattaññuṃ, saddhaṃ āraddhavīriyaṃ;
Taṃ ve nappasahatī māro, vāto selaṃva pabbata”nti.
Tattha subhānupassiṃ viharantanti sutaṃ anupassantaṃ, iṭṭhārammaṇe mānasaṃ vissajjetvā viharantanti attho. Yo hi puggalo nimittaggāhaṃ anubyañjanaggāhaṃ gaṇhanto “nakhā sobhanā”ti gaṇhāti, “aṅguliyo sobhanā”ti gaṇhāti, “hatthapādā, jaṅghā, ūru, kaṭi, udaraṃ, thanā, gīvā, oṭṭhā, dantā, mukhaṃ, nāsā, akkhīni, kaṇṇā, bhamukā, nalāṭaṃ, kesā, sobhanā”ti gaṇhāti, “kesā, lomā, nakhā, dantā, taco, sobhanā”ti gaṇhāti, vaṇṇo subho, saṇṭhānaṃ subhanti, ayaṃ subhānupassī nāma. Evaṃ taṃ subhānupassiṃ viharantaṃ. Indriyesūti cakkhādīsu chasu indriyesu. Asaṃvutanti cakkhudvārādīni arakkhantaṃ. Pariyesanamattā paṭiggahaṇamattā paribhogamattāti imissā mattāya ajānanato bhojanamhi cāmattaññuṃ. Apica paccavekkhaṇamattā vissajjanamattāti imissāpi mattāya ajānanato amattaññuṃ, idaṃ bhojanaṃ dhammikaṃ, idaṃ adhammikantipi ajānantaṃ. Kāmacchandabyāpādavihiṃsāvitakkavasitāya kusītaṃ. Hīnavīriyanti nibbīriyaṃ catūsu iriyāpathesu vīriyakaraṇarahitaṃ. Pasahatīti abhibhavati ajjhottharati. Vāto rukkhaṃva dubbalanti balavavāto chinnapapāte jātaṃ dubbalarukkhaṃ viya. Yathā hi so vāto tassa dubbalarukkhassa pupphaphalapallavādīnipi pāteti, khuddakasākhāpi bhañjati, mahāsākhāpi bhañjati, samūlakampi taṃ rukkhaṃ uppāṭetvā uddhaṃmūlaṃ adhosākhaṃ katvā gacchati, evameva evarūpaṃ puggalaṃ anto uppanno kilesamāro pasahati, balavavāto dubbalarukkhassa pupphaphalapallavādipātanaṃ viya khuddānukhuddakāpattiāpajjanampi karoti, khuddakasākhābhañjanaṃ viya nissaggiyādiāpattiāpajjanampi karoti, mahāsākhābhañjanaṃ viya terasasaṅghādisesāpattiāpajjanampi karoti, uppāṭetvā uddhaṃ, mūlakaṃ heṭṭhāsākhaṃ katvā pātanaṃ viya pārājikāpattiāpajjanampi karoti, svākkhātasāsanā nīharitvā katipāheneva gihibhāvaṃ pāpetīti evaṃ evarūpaṃ puggalaṃ kilesamāro attano vase vattetīti attho.
Asubhānupassinti dasasu asubhesu aññataraṃ asubhaṃ passantaṃ paṭikūlamanasikāre yuttaṃ kese asubhato passantaṃ lome nakhe dante tacaṃ vaṇṇaṃ saṇṭhānaṃ asubhato passantaṃ. Indriyesūti chasu indriyesu. Susaṃvutanti nimittādiggāharahitaṃ pihitadvāraṃ. Amattaññutāpaṭikkhepena bhojanamhi ca mattaññuṃ. Saddhanti kammassa ceva phalassa ca saddahanalakkhaṇāya lokikāya saddhāya ceva tīsu vatthūsu aveccappasādasaṅkhātāya lokuttarasaddhāya ca samannāgataṃ. Āraddhavīriyanti paggahitavīriyaṃ paripuṇṇavīriyaṃ. Taṃ veti evarūpaṃ taṃ puggalaṃ yathā dubbalavāto saṇikaṃ paharanto ekagghanaṃ selaṃ cāletuṃ na sakkoti, tathā abbhantare uppajjamānopi dubbalakilesamāro nappasahati, khobhetuṃ vā cāletuṃ vā na sakkotīti attho.
Tāpi kho tassa purāṇadutiyikāyo theraṃ parivāretvā “tvaṃ kaṃ āpucchitvā pabbajito, idāni gihī bhavissasi na bhavissasī”tiādīni vatvā kāsāvaṃ nīharitukāmā ahesuṃ. Thero tāsaṃ ākāraṃ sallakkhetvā nisinnāsanā vuṭṭhāya iddhiyā uppattitvā kūṭāgārakaṇṇikaṃ dvidhā bhinditvā ākāsenāgantvā satthari gāthā pariyosāpenteyeva satthu suvaṇṇavaṇṇaṃ sarīraṃ abhitthavanto ākāsato otaritvā tathāgatassa pāde vandi.
Gāthāpariyosāne sampattabhikkhū sotāpattiphalādīsu patiṭṭhahiṃsūti.
Mahākāḷattheravatthu chaṭṭhaṃ.
I. 6. Kāḷa Junior and Kāḷa Senior
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
7. Whoever lives looking for pleasure, exercising no restraint over his senses,
Immoderate in his enjoyments, indolent, inert,
Him Māra overpowers, even as the wind overpowers a tree of little strength.
8. Whoever lives looking not for pleasure, exercising restraint over his senses,
Moderate in his enjoyments, endowed with faith, exerting the power of his will,
Him Māra does not overpower, even as the wind does not overpower a mountain of rock.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence near the city Setavya with reference to Kāḷa junior and Kāḷa senior, Culla Kāḷa and Mahā Kāḷa.
For Culla Kāḷa, Majjhima Kāḷa, and Mahā Kāḷa were three householders who lived in Setavya, and they were brothers. Culla Kāḷa and Mahā Kāḷa, the oldest and youngest respectively, used to travel abroad with their caravan of five hundred carts and bring home goods to sell, and Majjhima Kāḷa sold the goods they brought. Now on a certain occasion the two brothers, taking wares of various kinds in their five hundred carts, set out for Sāvatthi, and halting between Sāvatthi and Jetavana, unharnessed their carts.
At eventide Mahā Kāḷa saw Noble Disciples, residents of Sāvatthi, with garlands and perfumes in their hands, going to hear the Law. “Where are they going?” he asked. Receiving the answer that they were going to hear the Law, he thought to himself, “I will go too.” So he addressed his youngest brother, “Dear brother, keep watch over the carts; I am going to hear the Law.” So saying, he went and paid obeisance to the Tathāgata and sat down in the outer circle of the congregation.
On that day the Teacher preached the Law in orderly sequence with reference to Mahā Kāḷa’s disposition of mind, and quoting the Sutta on the Aggregate of Suffering, and other Suttas, discoursed on the sinfulness and folly and contamination of sensual pleasures. Mahā Kāḷa, after listening to the discourse, thought to himself, “So a man must needs leave all things behind him when he goes hence. When a man goes to the world beyond, neither wealth nor kinsmen can follow him. Why should I continue to live the life of a householder? I will become a monk.” Accordingly, when the multitude had paid obeisance to the Teacher and departed, he requested the Teacher to receive him into the Order.
“Have you no kinsman of whom it is proper that you should ask permission?” inquired the Teacher. “I have a younger brother, Reverend Sir.” “Ask his permission.” “Very well, Reverend Sir.” So Mahā Kāḷa went to Culla Kāḷa and said to him, “Dear brother, receive all this wealth.” “But you, brother?” “I intend to retire from the world under the Teacher.” Culla Kāḷa used all manner of arguments to dissuade his brother from carrying out his intention, but in vain. Finally he said to him, “Very well, master; do as you wish.” So Mahā Kāḷa went and became a monk under the Teacher. Culla Kāḷa likewise became a monk. But the thought in Culla Kāḷa’s mind was, “After a time I will return to the world and take my brother with me.”
Somewhat later Mahā Kāḷa made his full profession, and approaching the Teacher, asked him, “How many duties are there in this Religion?” The Teacher informed him that there were two. Said Mahā Kāḷa, “Reverend Sir, since I became a monk in old age, I shall not be able to fulfill the Duty of Study, but I can fulfill the Duty of Contemplation.” So he had the Teacher instruct him in the Pure Practice of a Burning-grounder, which leads to Arahatship. At the end of the first watch, when everyone else was asleep, he went to the burning-ground; and at dawn, before anyone else had risen, he returned to the monastery.
Now the keeper of the burning-ground, a certain woman named Kāḷī, whose duty was to burn the bodies of the dead, saw the Elder as he stood up and sat down and walked about. And she thought to herself, “Who can this be that comes here? I will find out about him.” But she was unable to find out what she wished to find out about him. So one night she lighted a lamp in the hut of the burning-ground, and taking son and daughter with her, hid herself on one side of the burning-ground. When she saw the Elder approach, she approached him, paid obeisance to him, and asked him, “Reverend Sir, does our noble monk reside in this place?” “Yes, lay sister.” “Reverend Sir, those that reside in a burning-ground have certain rules to observe.” The Elder did not say, “Do you think I shall observe any rules of your telling?” Instead he said, “What ought I to do, lay sister?”
Said the keeper of the burning-ground, “Reverend Sir, they that reside in a burning-ground are bound to declare the fact to the keepers of the burning-ground, to the Chief Elder at the monastery, and to the village headman.” “Why?” “Thieves who commit depredations, when pursued by lawful owners of property, frequently flee to a burning-ground and leave their spoils there; then the owners come and threaten residents of the burning-ground with harm. But if the authorities are duly informed, they can avert trouble by saying, ‘We know for a fact that this reverend monk has resided here for such and such a length of time; he is no thief.’ For this reason you are bound to declare your intention to the authorities I have mentioned.”
Mahā Kāḷa then asked, “Is there anything else I ought to do?” “Reverend Sir, so long as your reverence resides in a burning-ground, you must abstain from fish, flesh, sesame, flour, oil, and molasses. You must not sleep by day. You must not be slothful. You must live with high resolve, exerting all the powers of your will, avoiding double-dealing and deceit. At eventide, when all are asleep, you must leave the monastery and come here; at dawn, before any have risen, you must return to the monastery.
“In case, Reverend Sir, while you reside in this burning-ground, you succeed in reaching the goal of the Religious Life, and they bring a dead body here and cast it away, I will place it on the funeral pyre, and rendering the usual honors with perfumes and garlands, I will perform the funeral rites over the body. If you do not succeed, I will light the pyre, drag the body along with a stake, throw it outside, chop it to pieces with an axe, throw the pieces into the fire, and burn it.” The Elder said to her, “Very well, woman. But in case you should see a corpse which you think would afford me a suitable Subject of Meditation on Material Form, be good enough to tell me.” “Very well,” said she, promising him to do so.
In accordance with his intention the Elder Mahā Kāḷa performed his meditations in the burning-ground. The Elder Culla Kāḷa, however, busy and active, thinking always of the house-life, remembering son and wife, said to himself, “It is an excessively difficult task my brother is engaged in.”
Now a certain young woman of station was attacked by a disease, and the very moment the disease attacked her, she died, at eventide, without a sign of withering or weariness. In the evening her kinsfolk and friends brought her body to the burning-ground, with firewood, oil, and other requisites, and said to the keeper of the burning-ground, “Burn this body.” And paying the keeper the usual fee, they turned the body over to her and departed. When the keeper of the burning-ground removed the woman’s dress and beheld her beautiful golden-hued body, she straightway thought to herself, “This corpse is a suitable Subject of Meditation to show to his reverence.” So she went to the Elder, paid obeisance to him, and said, “I have a remarkably good Subject of Meditation; pray look at it, Reverend Sir.”
“Very well,” said the Elder. So he went and caused the dress which covered the corpse to be removed, and surveyed the body from the soles of the feet to the tips of the hair. Then he said, “Throw this beautiful golden-hued body into the fire, and so soon as the tongues of fire have laid hold of it, please tell me.” So saying, he went to his own place and sat down.
The keeper of the burning-ground did as she was told and went and informed the Elder. The Elder came and surveyed the body. Where the flames had touched the flesh, the color of her body was like that of a mottled cow; the feet stuck out and hung down; the hands were curled back; the forehead was without skin. The Elder thought to himself, “This body, which but now caused those who looked thereon to forget the Sacred Word, has but now attained decay, has but now attained death.” And going to his night-quarters, he sat down, discerning clearly Decay and Death.
Impermanent are all existing things. It is their nature to come into existence and to decay.
They come into existence and perish. It is well when they have ceased to be.
Having recited this Stanza, Mahā Kāḷa developed Spiritual Insight and attained Arahatship, together with the Supernatural Faculties.
When Mahā Kāḷa attained Arahatship, the Teacher, surrounded by the Congregation of Monks, traveling from place to place, arrived at Setavya and entered the Siṁsapā forest. Culla Kāḷa’s wives, hearing that the Teacher had arrived, thought to themselves, “Now we shall recover our husband.” So they sent and invited the Teacher. Now when a visit is expected from the Buddhas, it is customary to prepare a seat in a place which is not circumscribed, and in order to insure that this shall be done, it is customary for a single monk to go in advance and give warning. For the Seat of the Buddhas must be set in the midst, on the right of the Buddha must be placed the seat of the Elder Sāriputta, on his left that of the Elder Mahā Moggallāna, and next to these on both sides must be arranged the seats for the Congregation of Monks. Therefore the Elder Mahā Kāḷa, standing in the place where the bowls and robes were kept, sent forth Culla Kāḷa, saying, “You go in advance and give warning to arrange the seats.”
From the moment the members of the household caught sight of Culla Kāḷa, they made a jest of him, putting the low seats at the ends where the Elders of the Assembly were to sit, and the high seats where the novices were to sit. Culla Kāḷa said to them, “Do not arrange the seats thus; do not put the low seats above and the high seats below.” But the women, pretending not to hear him, said, “What are you doing here, walking about? What right have you to give orders about the arrangement of the seats? By whose leave did you become a monk? Who made a monk of you? What made you come here?”
And having thus made a mock of him, they tore off his under and upper garments, clothed him with white garments instead, placed a garland-coil on his head, and packed him off, saying, “Go fetch the Teacher; we will arrange the seats.” Now those who have been monks but a short time, and have returned to the world before keeping a single residence, are without a sense of shame. Therefore Culla Kāḷa, free from any anxiety on the score of his clothing, went to the Teacher, paid obeisance to him, and taking with him the Congregation of Monks presided over by the Buddha, returned.
When the Congregation of Monks had finished their meal, Mahā Kāḷa’s wives thought to themselves, “Culla Kāḷa’s wives recovered their husband; let us also recover ours.” Accordingly they invited the Teacher for the following day. But on this occasion a different monk came to arrange the seats, and so Mahā Kāḷa’s wives failed of an opportunity to embarrass him. When they had seated the Congregation of Monks presided over by the Buddha, they presented them with food. Now Culla Kāḷa had two wives, Majjhima Kāḷa had four, and Mahā Kāḷa had eight. Those of the monks who desired to eat sat down and ate their meal; those who desired to go out arose and went out. The Teacher sat down and ate his meal. When he had finished his meal, those women said to him, “Reverend Sir, Mahā Kāḷa will pronounce the formula of thanksgiving and then return; you go on ahead.” The Teacher said, “Very well,” and went on ahead.
When the Teacher reached the village gate, the Congregation of Monks were offended and said, “What a thing for the Teacher to do! Did he do it wittingly or unwittingly? Yesterday Culla Kāḷa came in advance, and that was the end of his monastic life. But to-day a different monk came in advance, and nothing of the sort happened.” The Teacher sent Mahā Kāḷa back and continued on his way. Said the monks, “The monk Mahā Kāḷa is virtuous and upright. Will they put an end to his monastic life?”
Hearing their words, the Teacher stopped and asked them, “What is it you are saying, monks?” When they told him, he said, “But, monks, you do not think that Mahā Kāḷa is like Culla Kāḷa?” “Yes, Reverend Sir; Culla Kāḷa has two wives, but Mahā Kāḷa has eight. If his eight wives gather about him and seize him, what can he do, Reverend Sir?” Said the Teacher, “Monks, do not speak thus. Culla Kāḷa lives a busy and active life and allows his thoughts to dwell on many pleasing objects. My son Mahā Kāḷa, on the other hand, does not live looking for pleasure, but is immovable, like a mountain of solid rock.” So saying, he pronounced the following Stanzas,
7. Whoever lives looking for pleasure, exercising no restraint over his senses,
Immoderate in his enjoyments, indolent, inert,
Him Māra overpowers, even as the wind overpowers a tree of little strength.
8. Whoever lives looking not for pleasure, exercising restraint over his senses,
Moderate in his enjoyments, endowed with faith, exerting the power of his will,
Him Māra does not overpower, even as the wind does not overpower a mountain of rock.
Mahā Kāḷa’s former wives surrounded him and said to him, “By whose leave did you become a monk? Will you now become a householder?” Having said this and much more to the same effect, they sought to strip him of his yellow robes. But the Elder, divining their intention, rose from the seat where he had been sitting and flew upwards by his supernatural power, rending the peak of the pagoda asunder. And having soared through the air, he descended to the ground as the Teacher spoke the concluding words of the Stanzas, praising the golden body of the Teacher and paying obeisance at the feet of the Tathāgata.
- Derived from this story are Thera-Gāthā Commentary, cxxxvi, and Rogers, Buddhaghosha’s Parables, iv, pp. 25-31. Text: N i. 66-77.
- Ed. note: Presumably it refers to Mahādukkhakkhandhasutta, MN 13.
- Ed. note: an odd translation, it refers to the ascetic practice of living in a charnel ground.
- Dīgha, ii. 157.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 1, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.