Chú giải Pháp Cú · Kệ 151 · Dhp 151

Tích Hoàng Hậu Mạt Lỳ Thăng Hà

Mallikādevīvatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 151 Kinh Pháp Cú, phẩm Già, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 151)

“Jīranti ve rājarathā sucittā,
Atho sarīrampi jaraṃ upeti;
Satañca dhammo na jaraṃ upeti,
Santo have sabbhi pavedayanti.”
“Xe vua đẹp cũng già,
Thân nầy rồi sẽ già,
Pháp bậc thiện, không già,
Như vậy, bậc chí thiện,
Nói lên cho bậc thiện.”
(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Thế Tôn thuyết lên khi ngự tại Jetavana Vihāra (Kỳ Viên Tự), đề cập đến Đức vua Pasenadi (Ba Tư Nặc) hỏi về sanh thú của Hoàng hậu Mallikā (Mạt Lỵ).

Tương truyền rằng: Một ngày nọ, Hoàng hậu Mallikā đi vào phòng tắm, rửa mặt xong liền cúi xuống định rửa bắp vế. Cùng vào phòng tắm với Hoàng hậu có một con chó mà bà rất cưng. Khi thấy bà đang khom xuống như vậy, nó khởi sự làm chuyện giao hoan bất chánh. Bà thỏa thích vì sự xúc chạm của nó nên đứng yên.

Đức vua ở từng lầu trên nhìn qua cửa sổ, thấy rõ chuyện ấy, chờ khi Hoàng hậu trở lên mới quở rằng:

- Nầy con tiện tỳ hư đốn, tại sao ngươi lại hành động như thế được?

- Tâu Bệ hạ! Thần thiếp đã làm việc gì?

- Ngươi đã giao hoan cùng con chó!

- Tâu Đại vương! Chuyện ấy không có đâu!

- Chính mắt Trẫm đã trông thấy rõ ràng. Trẫm chẳng tin ngươi đâu, con tiện tỳ hư đốn!

- Tâu Bệ hạ! Bất cứ ai vào phòng tắm, người đứng nhìn qua cửa sổ nầy cũng thấy rõ một người thành hai như vậy cả.

- Nầy dâm nữ! Ngươi không nói thật.

- Tâu Đại vương! Nếu Ngài không tin thiếp, xin Bệ hạ hãy đến phòng tắm đó, để thần thiếp nhìn qua cửa sổ xem thử ra sao?

Đức vua bản chất đần độn, tin theo lời nàng, liền đi vào phòng tắm. Hoàng hậu đứng tại cửa sổ, nhìn xuống reo lên:

- Đại vương điên rồ ơi! Vì sao Ngài lại hành dâm cùng con dê cái như thế?

- Nầy ái khanh! Chớ có nói như vậy, trẫm không có hành động tồi bại như thế!

- Chính mắt thần thiếp đã trông thấy như thế, làm sao thiếp tin được Bệ hạ chứ!

Đức vua vì kém trí đã thua mưu kế của Hoàng hậu Mallikā, đã ngỡ rằng: “Thật vậy, người đi vào phòng tắm vào giờ như vầy, sẽ có cảnh tượng tồi bại với người đứng từ trên cao nhìn xuống.”. Nên Ngài đã bỏ qua chuyện ấy và vẫn thương yêu Hoàng hậu Mallikā như xưa. Riêng về Hoàng hậu có sự suy nghĩ rằng: “Đức vua vì kém trí nên bị ta lừa gạt, nhưng ta đã tạo ác nghiệp rồi, lại lừa dối Đức vua bởi lời không thật. Bậc Đạo Sư cùng với tám mươi vị Đại Trưởng lão cùng hai vị Thượng Thinh Văn cũng thấu rõ việc là của ta. Ôi! Quả thật vậy, tội của ta đã làm nặng lắm thay!”.

Được biết rằng: Hoàng hậu là người trợ thủ đắc lực cho Đức vua Pasenadi, chính nàng đã nhiều phen giúp Đức vua gỡ rối nhiều việc như việc cúng tế thần lửa phi pháp, việc thực hiện Trai Tăng Bất Nhị (một cuộc Trai Tăng vô tiền khoáng hậu _ Bố Thí Vô Tỷ) mỗi ngày là một trăm bốn mươi triệu tiền vàng. Cả bốn vật dụng là lọng, bảo tọa, cái bàn nhỏ và ghế thấp kê chân của Đức Như Lai đều vô giá… Tuy tạo nhiều công hạnh như thế, nhưng khi gần lâm chung Hoàng hậu Mallikā không nhớ tưởng đến thiện nghiệp đã làm, trái lại nàng bứt rứt do nhớ lại ác nghiệp tà hạnh, nên khi mệnh chung nàng thọ sanh vào Địa ngục A Tỳ.

Trong số các Hoàng hậu, Đức vua Pasenadi sủng ái Hoàng hậu Mallikā nhất. Vì quá buồn rầu, nhớ tiếc nên Ngài suy nghĩ: “Sau lễ trà tỳ long thể của ái hậu xong, Trẫm sẽ đến bạch hỏi Đức Thế Tôn cho biết nơi nàng tái sanh.”.

Đức vua ngự giá đến Tịnh xá Kỳ Viên, vào đảnh lễ Đức Thế Tôn xong rồi, ngồi vào nơi phải lẽ. Trong khi đối thoại, Đức Phật khiến Đức vua quên đi câu cần hỏi mà mình đã dự định. Ngài thuyết Pháp thoại đến Đức vua, Đức vua để tâm nghe Pháp, suy luận theo Pháp trong trú xứ của Đức Thế Tôn, rồi Ngài hoan hỷ ra về. Đến hoàng cung, Đức vua mới sực nhớ lại câu hỏi, phán bảo với quan hộ giá:

- Nầy các khanh! Trẫm dự định sẽ hỏi Bậc Đạo Sư về nơi tái sanh của nàng Mallikā, nhưng khi đến trú xứ của Ngài thì trẫm lại quên mất. Mai này Trẫm sẽ đến tịnh xá để hỏi lại vậy.

Hôm sau, Đức vua lại thân hành đến Tịnh xá Kỳ Viên định bạch hỏi về nơi tái sanh của Mallikā, Bậc Đạo Sư khiến cho Đức vua lại quên mục đích của mình. Việc nầy được kéo dài suốt cả bảy ngày, đến ngày thứ tám thì Hoàng hậu Mallikā được siêu sanh lên cõi trời Tusita (Đâu Xuất), nàng chỉ chịu khổ cảnh trong Địa ngục có bảy ngày mà thôi.

Tại sao Bậc Đạo Sư phải làm cho Đức vua lãng quên như vậy?

Hoàng hậu Mallikā là người được Vua sủng ái nhất, mà bà lại là người có nhiệt tâm với Phật Giáo. Nếu Đức vua biết rằng nàng thọ khổ trong Địa ngục, Ngài còn là phàm nhân nên Ngài chẳng chịu suy xét sâu, Đức vua sẽ rơi vào Tà kiến, cho rằng: Người nữ như Hoàng hậu Mallikā có đức tin nhiệt thành với Tam Bảo như thế, khi chết lại phải thọ sanh vào Địa ngục, thế thì ta còn bố thí đến chư Tỳ khưu Tăng để mà làm gì chứ? Và như thế Đức vua sẽ bãi bỏ việc để bát cúng dường đến năm trăm vị Tỳ khưu mỗi ngày tại hoàng cung, ngoài ra với vương quyền Ngài còn có thể tạo ra những ác trọng nghiệp khác dẫn đến khổ cảnh nữa. Vì thế, Ngài khiến cho Đức vua lãng quên trong bảy ngày qua.

Vào sáng ngày thứ tám, Đức Thế Tôn đi bát và thân hành ngự đến trước Ngọ môn. Quan giữ cổng thành hoàng cung báo tin cho Đức vua rằng:

- Tâu Đại vương! Đức Thế Tôn đang ngự đến.

Đức vua bèn ra khỏi hoàng cung rước bát và thỉnh Ngài ngự vào Cung nội, nhưng Bậc Đạo Sư tỏ ý muốn ngồi nơi kho xe của hoàng gia. Đức vua hội ý, bèn thỉnh Ngài ngồi vào nơi cao quý tại nơi đó, rồi cho người dâng cúng cháo và bánh ngọt điểm tâm. Xong rồi, Đức vua ngồi xuống một bên phải lẽ, đảnh lễ Đức Thế Tôn và bạch rằng:

- Bạch Đức Thế Tôn, Trẫm định đến nơi ngụ của Ngài để hỏi về nơi tái sanh của Hoàng hậu Mallikā, nhưng suốt cả bảy ngày qua, khi đến tịnh xá Trẫm đều quên mất. Bạch Thế Tôn, chẳng hay hiện nay Hoàng hậu Mallikā tái sanh về cảnh giới nào?

- Nầy Đại vương! Lịnh bà đã sanh lên cõi trời Tusita (Đâu Suất).

- Bạch Thế Tôn! Nếu Hoàng hậu Mallikā không sanh về nơi ấy thì còn ai có thể thọ sanh lên đó được? Bạch Ngài, người nữ như Hoàng hậu thật khó kiếm. Đúng vậy, ở khắp nơi, nhất là tại các chỗ ngồi, bà cứ luôn miệng nói: “Ngày mai, thần thiếp sẽ cúng dường vật nầy lên Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng, thần thiếp sẽ làm việc nầy!...”. Ngoài việc lo sắp đặt việc cúng dường bà không có phận sự nào khác. Bạch Thế Tôn! Từ khi nàng mệnh chung, long thể của trẫm nghe rũ riệt bần thần…

Đức Thế Tôn bèn an ủi Đức vua rằng:

- Đại vương chớ nên ưu tư, sanh tử là lẽ thường đối với tất cả chúng sanh!

Nói rồi, Ngài lại hỏi:
- Tâu Đại vương! Chiếc xe nầy của vị nào?
Đức vua chấp hai tay lên khỏi đầu, đáp rằng:
- Bạch Ngài, chiếc xe ấy của Tiên vương trẫm.
- Chiếc nầy của vị nào?

- Bạch Ngài, của Phụ vương trẫm.

- Còn chiếc nầy của vị nào?

- Bạch Ngài, của Trẫm.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn liền dạy rằng:

- Tâu Đại vương, do đâu mà chiếc xe của Tiên vương Đại vương không sánh kịp chiếc của Phụ vương Đại vương và chiếc của Phụ vương Đại vương không bì kịp chiếc của Đại vương? Những vật hữu hình như vậy, dầu là khúc gỗ, cây mục cũng đều phải cũ, phải già, huống chi là cái xác thân. Tâu Đại vương, Pháp của bậc Trượng phu thì không cũ, không già, chớ thân của chúng sanh mà không già, không cũ là chuyện không hề có.

Nói rồi, Đức Bổn Sư ngâm kệ rằng:
“Jīranti ve rājarathā sucittā,
Atho sarīrampi jaraṃ upeti;
Satañca dhammo na jaraṃ upeti,
Santo have sabbhi pavedayanti.”
Cái xe vua đi dù được trang hoàng lộng lẫy cũng

phải hư hoại, thân nầy dù có trau giồi cũng có lúc già yếu. Chỉ trừ Thiện pháp của bậc thiện nhân1 là không bị suy già và cứ di chuyển từ người lành nầy sanh người lành khác.

(Bản dịch của T.K. Trí Đức)

CHÚ GIẢI:

Ve = Have: phân từ bất biến nghĩa là chắc vậy. 1. Chỉ Đức Phật, Bích Chi Phật, A La Hán.

Sucittā: các thứ xe, dầu là xe vua tốt đẹp được trang bị bằng bảy thứ báu và vật quí khác, cũng đều phải cũ lần lần cho đến cuối cùng phải tan rã.

Sarīrampi: chẳng phải riêng toàn thể các thứ suy yếu như vậy mà cái xác thân nầy, dầu khéo săn sóc cách nào rồi cũng đi đến sự già yếu, tóc bạc, răng long, lưng mỏi, gối dùn.

Satañca: sự truyền thừa pháp của Chư Phật là Chín Pháp Siêu Thế. Pháp ấy không một ai hủy diệt được, không có trạng thái già cũ, suy yếu.

Pavedayaṃ: các bậc đức hạnh như vậy, nhất là Chư Phật hằng khẩu truyền cho các bậc Hiền triết.

Cuối thời Pháp, có nhiều chúng sanh chứng đắc Thánh quả, nhứt là quả Tu Đà Hườn.

Mạt Lỵ lâm chung thọ khổ hình,
Nếu Vua hỏi, Phật khó làm thinh,
Chờ bà siêu thoát về Đâu Suất,
Vua mới hay bà được vãng sinh.
Nói thật, hại người, cũng hại mình,
Làm thinh, phải biết cách làm thinh,
Đây là công án mà Phật giải:
“Nói phải hợp thời, hợp lý, tình!”.
Với Vua, Phật hỏi chuyện xe Vua,
Long thể khi già cũng chịu nua,
Chánh Pháp truyền thừa hằng sáng tỏ,
Đời đời, chẳng biết sự già nua.

DỨT TÍCH HOÀNG HẬU MẠT LỲ THĂNG HÀ

Mallikādevīvatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Jīranti veti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto mallikaṃ deviṃ ārabbha kathesi.

Sā kira ekadivasaṃ nhānakoṭṭhakaṃ paviṭṭhā mukhaṃ dhovitvā onatasarīrā jaṅghaṃ dhovituṃ ārabhi. Tāya ca saddhiṃyeva paviṭṭho eko vallabhasunakho atthi. So taṃ tathā onataṃ disvā asaddhammasanthavaṃ kātuṃ ārabhi. Sā phassaṃ sādiyantī aṭṭhāsi. Rājāpi uparipāsāde vātapānena olokento taṃ disvā tato āgatakāle “nassa, vasali, kasmā evarūpamakāsī”ti āha. Kiṃ mayā kataṃ, devāti. Sunakhena saddhiṃ santhavoti. Natthetaṃ, devāti. Mayā sāmaṃ diṭṭhaṃ, nāhaṃ tava saddahissāmi, nassa, vasalīti. “Mahārāja, yo koci imaṃ koṭṭhakaṃ paviṭṭho iminā vātapānena olokentassa ekova dvidhā paññāyatī”ti abhūtaṃ kathesi. Deva, sace me saddahasi, etaṃ koṭṭhakaṃ pavisa, ahaṃ taṃ iminā vātapānena olokessāmīti. Rājā mūḷhadhātuko tassā vacanaṃ saddahitvā koṭṭhakaṃ pāvisi. Sāpi kho devī vātapāne ṭhatvā olokentī “andhabāla, mahārāja, kiṃ nāmetaṃ, ajikāya saddhiṃ santhavaṃ karosī”ti āha. “Nāhaṃ, bhadde, evarūpaṃ karomī”ti ca vuttepi “mayā sāmaṃ diṭṭhaṃ, nāhaṃ tava saddahissāmī”ti āha.

Taṃ sutvā rājā “addhā imaṃ koṭṭhakaṃ paviṭṭho ekova dvidhā paññāyatī”ti saddahi. Mallikā cintesi – “ayaṃ rājā andhabālatāya mayā vañcito, pāpaṃ me kataṃ, ayañca me abhūtena abbhācikkhito, idaṃ me kammaṃ satthāpi jānissati, dve aggasāvakāpi asīti mahāsāvakāpi jānissanti, aho vata me bhāriyaṃ kammaṃ kata”nti. Ayaṃ kira rañño asadisadāne sahāyikā ahosi. Tattha ca ekadivasaṃ katapariccāgo dhanassa cuddasakoṭiagghanako ahosi. Tathāgatassa setacchattaṃ nisīdanapallaṅko ādhārako pādapīṭhanti imāni pana cattāri anagghāneva ahesuṃ. Sā maraṇakāle evarūpaṃ mahāpariccāgaṃ nānussaritvā tadeva pāpakammaṃ anussarantī kālaṃ katvā avīcimhi nibbatti. Rañño pana sā ativiya piyā ahosi. So balavasokābhibhūto tassā sarīrakiccaṃ kāretvā “nibbattaṭṭhānamassā pucchissāmī”ti satthu santikaṃ agamāsi. Satthā yathā so āgatakāraṇaṃ na sarati, tathā akāsi. So satthu santike sāraṇīyadhammakathaṃ sutvā gehaṃ paviṭṭhakāle saritvā “ahaṃ bhaṇe mallikāya nibbattaṭṭhānaṃ pucchissāmīti satthu santikaṃ gantvā pamuṭṭho, sve puna pucchissāmī”ti punadivasepi agamāsi. Satthāpi paṭipāṭiyā satta divasāni yathā so na sarati, tathā akāsi. Sāpi sattāhameva niraye paccitvā aṭṭhame divase tato cutā tusitabhavane nibbatti. Kasmā panassa satthā asaraṇabhāvaṃ akāsīti? Sā kira tassa ativiya piyā ahosi manāpā, tasmā tassā niraye nibbattabhāvaṃ sutvā “sace evarūpā saddhāsampannā niraye nibbattā, dānaṃ datvā kiṃ karissāmī”ti micchādiṭṭhiṃ gahetvā pañcannaṃ bhikkhusatānaṃ gehe pavattaṃ niccabhattaṃ harāpetvā niraye nibbatteyya, tenassa satthā sattāhaṃ asaraṇabhāvaṃ katvā aṭṭhame divase piṇḍāya caranto sayameva rājakuladvāraṃ agamāsi.

Rājā “satthā āgato”ti sutvā nikkhamitvā pattaṃ ādāya pāsādaṃ abhiruhituṃ ārabhi. Satthā pana rathasālāya nisīdituṃ ākāraṃ dassesi. Rājā satthāraṃ tattheva nisīdāpetvā yāgukhajjakena paṭimānetvā vanditvā nisinnova ahaṃ, bhante, mallikāya deviyā nibbattaṭṭhānaṃ pucchissāmīti gantvā pamuṭṭho, kattha nu kho sā, bhante, nibbattāti. Tusitabhavane, mahārājāti, bhante, tāya tusitabhavane anibbattantiyā ko añño nibbattissati, bhante, natthi tāya sadisā itthī. Tassā hi nisinnaṭṭhānādīsu “sve tathāgatassa idaṃ dassāmi, idaṃ karissāmī”ti dānasaṃvidhānaṃ ṭhapetvā aññaṃ kiccameva natthi, bhante, tassā paralokaṃ gatakālato paṭṭhāya sarīraṃ me na vahatīti. Atha naṃ satthā “mā cintayi, mahārāja, sabbesaṃ dhuvadhammo aya”nti vatvā “ayaṃ, mahārāja, ratho kassā”ti pucchi. Taṃ sutvā rājā sirasmiṃ añjaliṃ patiṭṭhāpetvā “pitāmahassa me, bhante”ti āha. “Ayaṃ kassā”ti? “Pitu me, bhante”ti. “Ayaṃ pana ratho kassā”ti? “Mama, bhante”ti. Evaṃ vutte satthā, “mahārāja, tava pitāmahassa ratho tenevākārena tava pitu rathaṃ na pāpuṇi, tava pitu ratho tava rathaṃ na pāpuṇi, evarūpassa nāma kaṭṭhakaliṅgarassāpi jarā āgacchati, kimaṅgaṃ pana attabhāvassa. Mahārāja, sappurisadhammasseva hi jarā natthi, sattā pana ajīrakā nāma natthī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Jīranti ve rājarathā sucittā,
Atho sarīrampi jaraṃ upeti;
Satañca dhammo na jaraṃ upeti,
Santo have sabbhi pavedayantī”ti.

Tattha veti nipāto. Sucittāti sattahi ratanehi aparehi ca rathālaṅkārehi suṭṭhu cittitā rājūnaṃ rathāpi jīranti. Sarīrampīti na kevalaṃ rathā eva, idaṃ suppaṭijaggitaṃ sarīrampi khaṇḍiccādīni pāpuṇantaṃ jaraṃ upeti. Satañcāti buddhādīnaṃ pana santānaṃ navavidho lokuttaradhammo ca kiñci upaghātaṃ na upetīti na jaraṃ upeti nāma. Pavedayantīti evaṃ santo buddhādayo sabbhi paṇḍitehi saddhiṃ kathentīti attho.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.

Mallikādevīvatthu chaṭṭhaṃ.

XI. 6. Queen Mallikā and her Dog

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

151. The gayly painted chariots of kings wear out; likewise does the body wear out.
But the state of the good wears not away; the good proclaim this to the good.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Queen Mallikā.

The story goes that one day Queen Mallikā entered the bathhouse, and having bathed her face, bent over and began to bathe her leg. Now her pet dog entered the bath-house with her, and when he saw her standing there with body thus bent over, he began to misbehave with her and she let him continue. The king looked out of a window on the upper floor of the palace and saw her. On her return he said to her, “Perish, vile woman; why did you do such a thing as that?” “Why, your majesty, what have I done?” “You have behaved most wrongly with a dog.” “It is not true, your majesty.” “I saw you with my own eyes. I will not believe anything you say. Perish, vile woman.” “Great king, it is a remarkable fact that whoever enters that bath-house appears double to whoever looks out of that window.” “You utter falsehood.” “If you will not believe me, enter the bath-house yourself, and I will look out of that window.”

The king was such a simpleton as to believe what she said, and entered the bath-house. The queen stood at the window and looked out. Suddenly she cried out to him, “You foolish king, what do you mean by misbehaving with a she-goat?” “Dear wife, I am doing no such thing.” The queen replied, “I saw you with my own eyes; I will not believe you.” When the king heard her reply, he said, “It must be true that whoever enters this bath-house appears double.” Therefore he believed the explanation she gave him.

Mallikā thought to herself, “I have deceived this king, because he is such a simpleton. I have committed a great sin. Moreover I have accused him falsely. The Teacher will come to know of this sin of mine, and likewise the Two Chief Disciples, and the Eighty Chief Elders. Oh, what a grievous sin have I committed!” (According to tradition it was Mallikā who was associated with the king in the presentation to the Teacher of the Gifts beyond Compare. On this occasion gifts valued at fourteen crores of treasure were bestowed upon the Teacher, and the Tathāgata was presented with four priceless gifts; namely, a white parasol, a couch whereon to rest, a stand, and a stool for the feet.) When Mallikā died, forgetful at the moment of death of those mighty gifts, but with full recollection of the evil deed she had committed, she was reborn in the Avīci Hell.

Now Queen Mallikā was greatly beloved by the king. Therefore when she died, the king was completely overcome with grief. When he had duly performed the funeral rites over her body, he said to himself, “I will ask the Teacher where she has been reborn.” Accordingly he went to the Teacher. The Teacher so contrived that he should not remember the reason why he had come to him. After listening to the pleasing discourse of the Teacher he returned to his home. As soon, however, as he entered the house, he remembered why he had gone to visit the Teacher. Thought he to himself, “Assuredly it was my intention, when I set out, to ask the Teacher where Mallikā had been reborn. But as soon as I entered the Teacher’s presence, I forgot all about it. To-morrow I shall not fail to ask him.” On the following day, therefore, he visited the Teacher again. But for seven days in succession the Teacher so contrived that he should not remember why he had come. As for Mallikā, after she had been tormented for seven days in hell, she came out thence, and was reborn in the World of the Tusita gods.

(Now why was it that the Teacher caused the king to forget his question for seven days in succession? Tradition tells us that Mallikā was greatly beloved by the king, the very joy of his heart. Therefore had the king learned that she had been reborn in Hell, he would have said to himself, “If a woman endowed with faith so perfect has been reborn in Hell after presenting offerings so abundant, what chance is there for me?” He would therefore have adopted false views, would have discontinued the constant offerings of food to the five hundred monks, and would finally have been reborn in Hell himself. For this reason the Teacher caused the king to forget his question for seven days in succession.)

On the eighth day the Teacher set out alone on an alms-pilgrimage, and went to the door of the king’s residence. When the king heard that the Teacher was come, he went forth and took his bowl and began to mount up to the terrace of the palace. But the Teacher made as if he desired to sit down in the chariot-hall. Therefore the king provided him with a seat in the chariot-hall and reverently served him with food both hard and soft. Having so done, he paid obeisance to him and sat down. “Reverend Sir,” said he; “when I visited you, this thought was in my mind, ‘I will ask the Teacher where Mallikā my queen has been reborn.’ Reverend Sir, tell me where she was reborn.” “In the World of the Tusita gods, great king.”

“Reverend Sir,” said the king, “had Queen Mallikā not been reborn in the World of the Tusita gods, who else could ever have been reborn there? Reverend Sir, there never lived a woman like her; wherever she sat, wherever she stood, these words were ever on her lips, ‘To-morrow I will give this to the Tathāgata; to-morrow I will do this for the Tathāgata.’ She cared for naught else but to make provision of offerings. Reverend Sir, ever since she went to the other world, my own person has been non-existent.” Said the Teacher, “Great king, do not grieve; this is the immutable law of all living beings.”

Then the Teacher asked the king, “Great king, whose chariot is this?” “My grandfather’s, Reverend Sir.” “Whose is this?” “My father’s, Reverend Sir.” “But whose chariot is this?” “My own, Reverend Sir.” When the king had thus answered his questions, the Teacher said, “Great king, just as your father’s chariot has outlasted your grandfather’s chariot, so also has your own chariot outlasted your father’s chariot. Thus does decay draw nigh unto this worthless chaff. But even more does decay wear away this body. Great king, righteousness alone does not wear away, but of living beings there are none that wear not away.” So saying, he pronounced the following Stanza,

151. The gayly painted chariots of kings wear out; likewise does the body wear out.
But the state of the good wears not away; the good proclaim this to the good.

  1. At Vimāna-Vatthu Commentary, 16516-17, Dhammapāla refers to the Story of Mallikā in the Dhammapada-Vaṇṇanā. He then gives a brief outline of the story, which is to the effect that after the death of the Buddha, Mallikā the wife of Bandhula went in state and did honor to his relics. The Dhammapada-Aṭṭhakathā contains no such story about Mallikā the wife of Bandhula, or about Mallikā the wife of Pasenadi. It will be observed that Dhammapāla refers, not to the Dhammapada-Aṭṭhakathā, but to the Dhammapada-Vaṇṇanā. Perhaps the Dhammapada-Vaṇṇanā to which he refers is a different work from the Dhammapada-Aṭṭhakathā; but if so, we know nothing of the existence of any such work. It seems probable that Dhammapāla here gives a wrong reference. For references in the Dhammapada-Aṭṭhakathā to Mallikā the wife of Bandhula, see i. 349, 412; to Mallikā the wife of Pasenadi, i. 382, ii. 1-19, iii. 119-123, iii. 183-189. Cf. Jātaka, iii. 405, Khuddaka Pāṭha Commentary, 1292°, and Milindapañha, 29117-19 Text: N iii. 119-123.
  2. See story xiii. 10.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp có dẫn kệ này