Tích Hoàng Hậu Sāmāvatī
Sāmāvatīvatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 21–23 Kinh Pháp Cú, phẩm Không Phóng Dật, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú 21-22-23) “Appamādo amataṃ padaṃ, “Chuyên cần đường bất tử,
Pamādo maccuno padaṃ;
Appamattā na mīyanti,
Giải đãi lộ tiêu vong.
Người chuyên cầu chẳng chết,
Ye pamattā yathā matā” Kẻ biếng sống như không”
“Etaṃ visesato ñatvā,
Appamādamhi paṇḍitā;
Appamāde pamodanti,
Ariyānaṃ gocare ratā”
“Te jhāyino sātatikā,
Niccaṃ daḷhaparakkamā;
Phusanti dhīrā nibbānaṃ,
Yogakkhemaṃanuttaranti”
“Nhờ tri giác như thế,
Bậc trí chẳng buông lung.
Hoan hỷ chuyên cần mãi,
Tôi, Thánh được thung dung”
“Người chuyên cầu thiền định,
Hằng tinh tấn dụng công.
Bậc trí thoát triền phược,
Chứng Níp Bàn vô song”
Những kệ ngôn Pháp Cú (21-22-23) nầy được Đức Thế Tôn đã thuyết pháp khi Ngài an ngự tại Ghositārāma (Lôi Âm Tự), gần thành Kosambi, đề cập đến cái chết của Hoàng hậu Sāmāvatī cùng năm trăm phi tần của cô và cái chết của Thứ hậu Māgandiyā luôn cả năm trăm cung nữ, quyến thuộc của nàng.
Đầu đuôi câu chuyện như sau:
Trong thời quá khứ, nơi quốc độ Allakappa (An Lạc Kiếp), có Allakappa Quốc vương và nơi quốc độ Veṭṭhadīpaka (Bệ Tha Đảo), có Veṭṭhadīpaka Quốc vương. Hai nhà vua là đôi bạn thâm giao. Hai người kết nghĩa kim bằng từ thời thơ ấu, đã từng sống chung, học tập nghề văn nghiệp võ với một ông thầy. Khi phụ vương của mỗi vị băng hà, ai về nước nấy để nối ngôi thiên tử, thống lãnh giang sơn tiểu quốc (Dasadasayojanika raṭṭha). Tuy nhiên, hai vị tân vương thỉnh thoảng vẫn còn tương hội, cùng sánh vai nhau đi đứng, nằm ngồi.
Một hôm luận đàm thế sự, nhìn thấy dân gian lớp mới sanh, lớp đã già, đều đi lần đến cõi chết, hai bạn tri kỷ đồng than: “Hỡi ơi! Huỳnh tiền di lộ, bất đắc tương tùy, hơi thở dứt đi thì thân nầy cũng bỏ, cơ đồ sự nghiệp, quyến thuộc gia đình… chung qui cũng là ảo mộng mà thôi. Vậy ta hãy xuất gia tu hành cho rảnh”.
Phán rồi, hai nhà vua cả quyết phú thác sơn hà xã tắc lại cho thê nhi, cùng nhau xuất gia đạo sĩ vào ẩn cư trong miền Tuyết Lãnh (Himavanta).
Ở chung nơi đây, hai bạn đạo bảo nhau rằng: “Chúng ta bỏ vương quyền đế vị là hy cần đắc đạo, nhập thánh siêu phàm, chẳng lẽ không tự túc cánh sinh, nếu ta còn lưu luyến chung cư thì có khác nào lúc xưa ta còn ở thế? Thôi ta nên ở riêng mỗi người một phía, bạn ở núi kia tôi ở núi nầy, mỗi kỳ nửa tháng, đến ngày Phát lồ (sám hối) ta sẽ hội họp một lần nữa mà thôi”.
Hai đạo sĩ lại đồng ý thêm rằng: “Như thế ta cũng còn mong mỏi đến ngày tương hội, tốt hơn hết là đến ngày ấy, bạn nổi lửa bên núi bạn, tôi nổi lửa bên núi tôi. Bằng cách ấy, ta thông tin nhau biết là mình còn sống”.
Thế rồi, hai đạo sĩ chia tay, giữ đúng lời giao ước. Một thời gian sau, đạo sĩ Veṭṭhadīpaka chết, thọ sanh làm một vị Thiên vương có nhiều thần lực.
Đến kỳ Phát lồ nửa tháng, không thấy khói lửa phía núi bên kia vị đạo sĩ còn sống biết rằng: “Bạn ta đã mãn phần”.
Còn vị thiên, sau khi hóa sanh, ngẫm xem thân hình đổi mới, cao sang lộng lẫy, bèn tìm hiểu duyên nghiệp đã làm cho được quả phước hiện tại, thì được biết rằng: Do nhờ ta xuất gia tu hành. Rồi vị ấy tính thầm: “Ta hãy xuống thăm bạn ta coi nào?”.
Liền đó, xóa bỏ hình dáng chư Thiên vị ấy biến thành một khách lữ hành, đến đảnh lễ vị đạo sĩ và đứng qua một bên.
Thấy người lạ, đạo sĩ hỏi:
- Đạo hữu ở đâu lại đây?
- Bạch Ngài! Tôi là khách lữ hành ở tận một phương xa, bạch Ngài cho phép tôi hỏi thăm: Nơi đây có ai khác nữa ở chung với Ngài không?
- Có, ta có một người bạn.
- Ngài ấy ở đâu?
- Vị ấy ở núi bên kia, hôm nay đến kỳ Phát Lồ mà sao không thấy nổi lửa, có lẽ vị ấy chết rồi chăng?
- Bạch Ngài, đúng vậy.
- Đạo hữu biết chắc ư?
- Bạch Ngài vị ấy chính là tôi đây.
- Đạo hữu sanh về cảnh giới nào?
- Tôi sanh lên cõi trời, làm vị Thiên vương có nhiều thần lực, nay vì muốn thăm bạn cũ, nên trở xuống đây. Bạch Ngài! Nơi đây Ngài có gặp điều chi trở ngại, khó khăn phiền phức không?
- Thưa đạo hữu, có. Tôi bị mấy con voi thường đến quấy phá.
- Bạch Ngài, chẳng hay mấy con voi ấy quấy nhiễu Ngài bằng cách nào?
- Đàn voi đến phóng uế trên sân, chỗ tôi đã quét sạch sẽ và dậm chân quần thảo làm cho bụi bay lên tứ tung, tôi phải mất công hốt phân voi và đổ đất lấp các lỗ chân voi.
- Chắc Ngài muốn đàn voi đừng trở lại nữa?
- Phải đó, đạo hữu.
- Vậy thì để tôi chỉ Ngài cách nầy làm cho bọn chúng sẽ từ biệt nơi đây.
Nói rồi, Thiên vương tặng cho đạo sĩ cây đàn thần ba dây và dạy cho đạo sĩ niệm chú để sai khiến loài voi. Lần lượt chỉ vào ba dây đàn, Thiên vương giảng:
- Khi nào Ngài khảy dây đàn nầy và niệm chú này thì đàn voi chạy thẳng một mạch, không thể quay đầu nhìn lại phía sau. Còn khi nào Ngài khảy dây đàn nầy và niệm câu chú nầy, thì đàn voi “phản tiền vi hậu”, quay đầu lại vừa chạy vừa nhìn về phía Ngài. Còn nếu Ngài khảy dây đàn nầy và niệm câu thần chú nầy thì con Tượng chúa lập tức chạy đến đưa lưng cho Ngài cỡi.
Đoạn Thiên vương đảnh lễ đạo sĩ và cáo từ lui gót.
Nhờ phép niệm chú và khảy đờn rất linh nghiệm, khiến cho đàn voi chạy lảng xa hết, đạo sĩ từ đó mới được nhận sự nhàn lạc tịnh cư nơi miền sơn dã.
Đồng thời với đạo sĩ, có đức vua ngự, hiệu là Parantapa (Phổ Chiếu), đóng đô tại thành Kosambi.
Một hôm nhân buổi chiều hè nóng bức, quốc vương cùng Chánh hậu đang hoài thai ra khỏi hoàng cung, ngự tọa trên sân thượng lộ thiên của tòa biệt điện.
Hoàng hậu được đức vua khoác trên mình chiếc long bào triều phục bằng gấm đỏ trị giá bằng mười vạn đồng vàng, trong khi âu yếm chuyện trò, đức vua lại cởi chiếc nhẫn ngọc ấn trị giá cũng mười vạn đồng vàng nơi tay Ngài mà lồng qua ngón tay của Hoàng hậu.
Tình cờ khi ấy, trên không có con chim đại bàng (hatthiliṅgasakuṇa) từ xa bay đến, trông thấy Hoàng hậu mặc chiếc hồng bào, nó tưởng là đống thịt đỏ tươi, nên xếp đôi cánh lại lao mình xuống nhanh như cắt, phát ra tiếng gió ào ào nghe đến lạnh mình. Đức vua kinh hãi đứng dậy, chạy ngay xuống lầu. Hoàng hậu cũng hốt hoảng hoang mang, nhưng vì đang lúc hoài thai nên không thể lanh chân tẩu thoát kịp. Vì thế đại bàng điểu xớt được Hoàng hậu, kẹp cứng trong móng vuốt của nó, rồi vỗ cánh bay lên.
Theo lời xưa kể lại, giống đại bàng nầy là một giống kên kên (Thốc thứu) có mỏ dài như vòi voi, có sức mạnh tha mồi bằng năm con tượng, cho nên khi sớt mồi rồi là nó bay đi, tùy thích đáp xuống mà ăn thịt. Đang lúc bị chim đại bàng tha nó bay lên không, Hoàng hậu phập phồng sợ chết, tự nghĩ thầm rằng: “Giống thú hay sợ tiếng người, nếu ta kêu la, nó nghe tiếng ta, ắt là buông bỏ ta rơi xuống đất, như thế ta cùng thai nhi cũng đều vong mạng. Chi bằng chờ khi nó đậu chỗ nào, sắp sửa ăn thịt ta, chừng ấy ta sẽ cất tiếng la to để xua đuổi nó”.
Nhờ thông minh tỉnh trí, nghĩ ra diệu kế, Hoàng hậu nhẫn nại làm thinh.
Nơi miền Tuyết Sơn, có một cây đa rất to lớn, mọc lên đã lâu đời, thân cây sừng sững giữa trời, tàn nhánh tròn xoe, sum sê mát mẻ, chim đại bàng vẫn thường sớt tha thú rừng đem về gác trên cây đa cổ thụ mà ăn. Cho nên hôm ấy nó cũng tha Hoàng hậu Parantapa về đậu trên cháng hai ấy và đưa mắt quan sát con đường về. Theo tục truyền giống chim này có thói quen là luôn luôn quan sát con đường về như thế.
Ngay khi ấy, Hoàng hậu tính rằng: “Bây giờ là lúc ta phải xua đuổi nó đây”.
Duỗi hai cánh tay ra, Hoàng hậu vừa vỗ tay vừa la lớn tiếng, đuổi được con chim đại bàng bay mất.
Chiều tàn, bóng ô vừa khuất, Hoàng hậu bỗng nghe thai nhi chuyển động. Bầu trời lúc bấy giờ lại vần vũ mây đen, tứ bề chớp giăng sấm nổ.
Thảm thay cho một trang quốc mẫu, lá ngọc cành vàng.
“Rừng khuya tân khổ cơ hàn
Ai người bậu bạn trấn an cho mình”
Đến khi đêm tàn mưa tạnh vừng hồng lố dạng trời
đông, Hoàng hậu xổ lòng sanh được một hoàng nam. Để kỷ niệm bầu trời quang đãng với mặt nhật đang lên, báo hiệu một ngày tươi sáng. Hoàng hậu Parantapa đặt tên con là Udena (Cao Thắng). Chỗ Hoàng hậu thọ nạn, cách chỗ ngụ của đạo sĩ Allakappa không bao xa.
Thói thường trong những ngày mưa, đạo sĩ sợ cảm hàn không dám vào rừng hái trái cây, đạo sĩ chỉ đi đến dưới gốc cây đa cổ thụ, chờ đại bàng điểu ăn xong thì hốt mót xương thừa, thịt vụn, đem về giã nát ra, cho thêm gia vị nấu thành nước canh mà húp.
Sáng hôm ấy, đạo sĩ cũng tính thầm: “Ta đi lượm mót xương” đến gốc cây đa, đạo sĩ còn đang nhặt xương gom lại, bỗng nghe tiếng khóc của trẻ thơ ở phía trên cây.
Đạo sĩ ngước mắt nhìn lên, thấy Hoàng hậu ẫm con, bèn hỏi rằng:
- Nàng là giống chi?
- Thưa thiếp bị đại bàng điểu xớt tha về đây.
- Nàng muốn xuống đất không?
- Thưa muốn! Nhưng thiếp e giữa thiếp với người có chỗ cách biệt về dòng dõi không?
- Nàng thuộc về giai cấp nào?
- Thưa thiếp thuộc dòng Sát Đế Lỵ (Khattiya).
- Bần đạo cũng dòng Sát Đế Lỵ.
- Thế thì xin Ngài hãy kể những kiến thức đặc biệt của dòng Sát Đế Lỵ thử coi.
Nghe đạo sĩ kể đúng rồi, Hoàng hậu hết nghi nan, bèn yêu cầu: “Xin Ngài trèo lên ẵm ấu tử dùm cho tiện thiếp”.
Đạo sĩ lập cách mở một lối lên đến cháng cây đa, đoạn trèo lên để bồng ấu tử và dặn rằng: “Nàng khá thủ lễ, chớ đụng tay vào mình bần đạo không nên”.
Hoàng hậu y lời, khi trao hài nhi qua cho đạo sĩ ẵm xuống giữ gìn không cho đụng chạm, rồi Hoàng hậu cũng xuống theo luôn.
Đạo sĩ bồng ấu tử trở về tới thảo am, ra tay tế độ nuôi nấng nhưng dè dặt chẳng cho đứt giới người tu, đạo sĩ vào rừng kiếm mật ong nguyên chất và nước trái thốt nốt, đem về nấu cháo lỏng cho ấu tử bú.
Thấy đạo sĩ chăm non dưỡng dục con mình mà còn gìn giữ tư cách, Hoàng hậu buồn thân tủi phận nói thầm rằng: “Như ta nay đường đi chẳng biết, nẻo về cũng không hay, ở lại thì đạo sĩ đối với nữ nhân bơ phờ lạnh nhạt, không chút cảm tình. Nếu rủi bị ông ấy bỏ rơi thì mẹ con ta biết sẽ lưu lạc về đâu? Chắc chắn cả hai đều phải chết, ta phải làm sao cho đạo sĩ phá bỏ giới hạnh, chớ đừng bỏ rơi hai mẹ con ta”.
Nghĩ vậy, Hoàng hậu bắt đầu ăn vận rách rưới lang thang, dùng chất liễu bồ nhược chất mà lung lạc tâm kẻ tu hành. Đạo sĩ rốt cuộc phải xiêu lòng. Từ đó nam nữ sống chung thuận hòa hợp êm ấm.
Tháng ngày qua… Một hôm đạo sĩ nhìn xem thiên tượng, thấy khí số của vua Parantapa đã hết, bèn kêu vợ bảo rằng:
- Nầy hiền nội, đức vua Parantapa trong thành Kosambi đã băng hà rồi.
- Sao phu quân nói vậy, đức vua với phu quân có thù nghịch chi chăng?
- Không đâu! Nầy hiền nội, ta nhìn xem thiên tượng thấy sao ứng ra điều ấy, nên nói như thế.
Hoàng hậu sụt sùi đổ lệ.
Đạo sĩ hỏi:
- Sao nàng lại khóc.
Khi được biết vua Parantapa là chồng cũ của vợ
mình, đạo sĩ an ủi: “Thôi hiền nội đừng nên bị lụy, ở đời hễ có sanh là có tử, đó là lẽ đương nhiên”.
- Thưa phu quân, thiếp cũng biết như vậy.
- Thế sao nàng lại khóc?
- Vì con trai của thiếp là đông cung Thái tử, có quyền kế vị ngai vàng, đáng lẽ hưởng được phú quí vinh hoa tột bực thế mà Thái tử bây giờ phải chịu làm kẻ thường dân, cho nên thiếp tủi buồn cho thân con mà lưu lệ đó phu quân!
- Hiền nội cứ an tâm, đừng lo rầu nữa, nếu Thái tử muốn hồi trào để thừa hưởng được phú quí vinh hoa tột bực thì ta có cách giúp cho Thái tử thành toàn ý nguyện chẳng sai.
Hoàng hậu mừng rỡ đáp: “Thưa phu quân, nếu được vậy thì còn chi quí bằng”.
- Được rồi, hiền nội.
Tiếp theo lời hứa, đạo sĩ lấy cây đàn thần ba dây ra trao cho Thái tử và truyền dạy ba câu mật chú điều khiển loài voi.
Hồi ấy vẫn có vô số tượng rừng ra vào gần đấy, tập trung quanh các gốc cây to kể hơn trăm ngàn thớt. Đạo sĩ liền dặn Thái tử rằng: “Lúc đàn voi chưa đến, con phải trèo lên ngồi trước trên cây cao. Hễ thấy chúng nó đến thì con niệm câu chú nầy và khảy dây đàn nầy, tất nhiên cả đàn voi sẽ quay đầu lại chạy thẳng một mạch không dám liếc nhìn lại phía sau. Chờ cả đàn voi qua hết, con hãy tuột xuống mà về”.
Thái tử vâng lời dưỡng phụ, một mình vào rừng thí nghiệm phép linh, xong rồi trở về thảo am thuật lại chuyện.
Qua ngày thứ hai, đạo sĩ lại dạy thêm Thái tử:
“Bữa nay con niệm câu chú nầy và khảy sợi dây đàn nầy, đàn voi sẽ phản tiền vi hậu vừa chạy vừa nhìn về phía con”.
Thái tử cũng vâng lời ra đi, thí nghiệm xong liền trở về phục lịnh dưỡng phụ.
Khi ấy, đạo sĩ gọi Hoàng hậu và bảo: “Nầy hiền nội, nàng có cần nhắn tin chi, thì hãy nói với con đi! Thái tử trở về phen nầy ắt sẽ lên ngôi cửu ngũ”.
Hoàng hậu gọi Thái tử vào ngỏ lời tâm sự rằng: “Nầy vương nhi, con chính là đông cung Thái tử, con vua Parantapa xứ Kosambi, lúc mẹ mang con trong lòng thì bị đại bàng điểu xớt đi…”.
Thuật hết lai lịch tông tích của mình rồi, Hoàng hậu lại kể đích danh các đại thần trong triều, nhất là tên quan Nguyên soái cho Thái tử biết và tiếp rằng: “Đến lúc cần, con hãy trưng ra chiếc Hồng Cẩm bào và chiếc Vương chỉ hoàn nầy vốn là triều phục và ngọc ấn của phụ vương con để làm tin”.
Dặn dò xong, Hoàng hậu tiễn biệt Thái tử. Thái tử quay lại hỏi đạo sĩ rằng:
- Thưa dưỡng phụ! Bây giờ con phải làm gì?
- Con hãy trèo lên cây, ngồi trên một nhánh thấp rồi con niệm câu chú này và khảy sợi dây nầy, tức thì Tượng chúa đến đưa lưng cho con cỡi, con tuột xuống ngồi lên lưng tượng trở về cố quốc kế vị ngai vàng của phụ vương con.
Thái tử sụp xuống bái biệt song thân, rồi theo lời dạy của dưỡng phụ, gọi con Tượng chúa đến cỡi lên lưng nó và kê miệng gần tai nó, xuống lịnh phán rằng: “Ta là Thái tử Udena, con vua Parantapa xứ Kosambi, xin Tượng chúa hãy đưa ta về triều phục quốc, để kế vị ngai vàng!”.
Nghe vậy, Tượng chúa rống to lên, dùng ngôn ngữ của loài voi kêu gọi hợp đàn: “Vô số ngàn thớt tượng hãy tập trung tất cả nơi đây”.
Quả nhiên, có vô số ngàn thớt tượng vâng lịnh chúa đàn qui tụ rất đông.
Với lực lượng hùng hậu vô số ngàn voi chiến Thái tử lên đường trở lại cố đô, đến biên ải, Thái tử kêu gọi dân chúng: “Ta là đông cung Thái tử trở về trào phục quốc, thần dân khá mau hộ giá mà lập công danh”.
Từ đó trở đi dân chúng gia nhập càng ngày càng đông, Thái tử kết tập cả đoàn dân quân cùng với tượng binh kéo dốc toàn lực về vây thành Kosambi và phái sứ giả vào triều trao tối hậu thư, kết thúc bằng hai điều vắn tắt “Muốn chiến tranh hay là qui hoàn vương vị cho ta”.
Trào thần đáp lại sứ giả rằng: “Cả hai câu hỏi của quí Ngài chúng tôi không thể trả lời dứt khoát. Quả thật, Hoàng hậu hoài thai có bị đại bàng điểu xớt tha đi, nhưng từ đó đến nay biệt tích vắng tăm, còn mất thế nào chưa rõ, bao giờ chúng tôi nghe đích xác tin tức Hoàng hậu rồi, chúng tôi mới có thể biểu quyết chiến tranh hay hoàn vương vị lại cho chúa của quí Ngài”.
Sứ giả về tâu lại với Thái tử những lời thương nghị của trào thần, Thái tử bèn thân hành đến tận cổng thành, bắt loa phán rằng: “Ta là đông cung Thái tử Udena, con của Hoàng hậu mất tích đây”. Rồi Thái tử gọi đích danh các quan đại thần, nhất là tên vị Nguyên nhung. Thấy họ còn hoài nghi, Thái tử bèn trưng ra hai tín vật, bá quan nhận thấy chiếc Hồng cẩm bào và chiếc ngọc ấn chỉ hoàn là tín hiệu của quốc vương Parantapa, bèn mở rộng cửa ngọ môn nghinh tiếp Thái tử với ba quân tướng sĩ vào thành và chọn ngày làm lễ đăng quang để tôn Thái tử lên ngôi cửu ngũ.
(Trên đây là sự tích đản sanh của Thái tử Udena.)
Nơi quốc độ Allakappa, trong một năm mất mùa, nạn đói hoành hành rất khốc liệt, có một anh chàng nọ tên là Kotuhaliko (Háo Kỳ) nghèo xác nghèo xơ, không nuôi sống nổi gia đình là một vợ, một con thơ chưa rời vú mẹ. Chàng bảo vợ: “Chúng mình hãy đi Kosambi để tìm lối sống!”.
Nói rồi, anh ta góp nhóp được chút ít lương khô để dành ăn theo đường, dắt vợ ẵm con bỏ nhà ra đi.
Anh Kotuhaliko chạy tị nạn đói, nhưng cũng có người cho rằng anh ta chạy tránh bịnh thiên thời dịch khí, làm cho nhân dân chết lây liều yếu vậy.
Hai vợ chồng đi được một quãng đường thì vật thực hết sạch vừa đói vừa lả vì kiệt sức và còn phải đèo theo đứa con thơ, Kotuhaliko chán nản, than thở với vợ rằng:
- Mình ơi! Chúng ta còn sống thì còn sanh con, ta hãy bỏ đứa nầy lại nơi đây mà đi cho đỡ khổ nghe mình.
Động lòng từ mẫn, Kālī (Thị Thời) phản đối chồng rằng:
- Con còn sống, em không đành bỏ nó đâu?
- Vậy thì ta phải làm sao?
- Thì ta thay phiên nhau mà ẵm nó chứ sao?
Người mẹ lãnh phiên đầu, đeo đứa bé như một vòng hoa, đặt nó nằm yên trên ngực mình, một lúc sau thiếu phụ trao con cho chồng. Kotuhaliko ẵm con đi, dừng lại từng hồi từng chập chỗ nọ, chỗ kia. Mỗi khi bụng đói cồn cào, khổ đau quá sức. Thỉnh thoảng anh ta nhắc đi nhắc lại với vợ rằng: “Mình ơi! Ta còn sống thì còn sanh con, ta hãy bỏ đứa nầy cho rảnh”.
Kālī hễ nghe chồng mở miệng nói, là phản đối liền, nhất định không chịu lìa con. Đứa bé được hai người thay phiên nhau ẵm bồng. Một lúc sau mòn mỏi ngủ thiếp trên tay cha nó.
Kotuhaliko thấy con ngủ, bèn giục vợ đi trước, một mình ở lại sau, anh kiếm lá lót trải dưới một bụi cây, se sẽ đặt con nằm xuống rồi bỏ đi.
Kālī quay lại kiếm chồng, không thấy con bèn hỏi:
- Con đâu, mình?
- Anh để nó nằm dưới bụi cây kia kìa.
Kālī đấm ngực khóc than kể lể: “Mình ơi! Mình làm khổ cho em, không có con chắc em không sống được, mình đem con giao trả lại cho em”.
Kotuhaliko phải miễn cưỡng trở lại ẵm con theo, nhưng đến nửa đường đứa trẻ cũng chết.
(Do nhân dứt bỏ con thơ nhiều chỗ trong kiếp ấy mà Kotuhaliko phải trả quả, bị đem dứt bỏ bảy lần trong một kiếp sau. Thấy đó, ta không nên khinh thường những tội lỗi nhỏ nhen mà cho rằng sẽ không trả quả).
Vợ chồng Kotuhaliko khi được rảnh tay lại tiếp tục lộ trình gian khổ và sau cùng đi đến nông trại của một chủ nuôi bò.
Hôm ấy, nhằm ngày trong trại tổ chức lễ mừng cho con bò cái giống (dhenumaṅgala) của chủ trại mới đẻ con so. Thường nhật có một vị Phật Độc Giác hằng đến thọ thực trong trại chủ bò. Chủ trại để bát cúng dường Đức Phật Độc Giác trước, rồi mới cử hành cuộc lễ, bữa ăn thịnh soạn cơm trắng chưng dọn ê hề.
Chủ trại nhìn thấy vợ chồng Kotuhaliko mới đến, bèn hỏi rằng: “Hai em ở đâu lại đây?”.
Sau khi nghe tường thuật những nỗi đoạn trường của kẻ tị nạn đói, ông bèn khiến gia đình đem đến cho họ khá nhiều cơm trắng với sanh tô (sappi).
Kālī nói: “Mình ơi! Hễ mình sống là em sống vậy mình hãy ráng ăn cho no nê đi đặng bù lại khi trước mình đã chịu đói lâu ngày”.
Nói rồi, người vợ đem gần hết phần cơm trắng, sanh tô của mình sớt qua bát của chồng, chỉ chừa lại ăn chút ít thôi. Anh Kotuhaliko vì bị đói trong bảy ngày liền, bây giờ gặp được mỹ vị cao lương, ăn nhiều bao nhiêu cũng chưa đã thèm.
Sau khi sai người bố thí cơm trắng cho hai nạn nhân, chủ trại bò ngồi vào bàn ăn để dùng bữa.
Anh Kotuhaliko ngồi nhìn chủ trại, thấy ông ấy ném vắt cơm sữa xuống cho con chó cái đang nằm dưới gầm bàn thì phát sanh ý nghĩ như vầy: “Con chó cái nầy quả thật có phước mới được chủ cho ăn ngon lành như thế hằng ngày”.
Đêm ấy, anh Kotuhaliko bị trúng thực, phát ách, đau bụng mà chết, tâm thức nhập vào thai bào của con chó cái nói trên.
Kālī lo an táng chồng rồi, còn nán ở lại làm công việc trong nhà chủ trại bò. Lãnh được một gáo gạo, chị bèn nấu cơm để bát cúng dường Đức Phật Độc Giác và phát nguyện rằng: “Xin cho phước nầy thấu đến chồng con”, nguyện rồi chị tự nghĩ: “Ta nên ở lại đây phục dịch vì Ngài Đại đức mỗi ngày đều đến đây thọ bát. Dầu ta có cúng dường hay không, mỗi ngày ta cũng được dịp lễ bái phục dịch Ngài. Như vậy, chắc chắn ta sẽ tạo được nhiều phước báo cho đời vị lai”. Thế là từ đó chị Kālī ở luôn làm công cho chủ trại.
Độ vài tháng sau, con chó cái đẻ, trong bầy con, nó chỉ có một con đực, chủ trại bò cưng con chó con nầy lắm, nên lấy sữa của một con bò cái cho nó bú, không bao lâu nó lớn, mỗi ngày trong khi thọ thực, Đức Phật Độc Giác đều cho nó một vắt cơm vì được cho ăn quen lệ, con chó nầy cảm mến Đức Phật Độc Giác.
Thường thường chủ trại bò đến hộ Đức Phật Độc Giác ngày hai lần. Đi đường đến chỗ có thú dữ, ông ta lấy gậy đập lên bụi cây, hay đập xuống đất, miệng la: “Hiu, hiu, hiu” ba tiếng làm cho thú dữ hoảng sợ bỏ chạy, mỗi lần ông đi, con chó chạy theo ông.
Một hôm, chủ trại bò ngỏ lời yêu cầu Đức Phật Độc Giác rằng:
- Bạch Ngài! Khi nào con không được rảnh thì con sẽ cho con chó nầy đến thỉnh Ngài, xin Ngài hoan hỷ chấp nhận lời yêu cầu của con.
Từ đó về sau, mỗi khi bận việc, chủ trại bò sai con chó:
- Nầy con, con hãy đi thỉnh Ngài Đại đức.
Chỉ nghe chủ nói qua một lần là con chó lập tức đi. Tới chỗ mà chủ nó hay đập gậy lên bụi cây hay đập xuống đất, nó đứng lại sủa ba tiếng, khi chắc ý là thú dữ nghe tiếng nó sủa bỏ chạy xa rồi, nó mới sửa bộ tịch cho chỉnh tề, đi đến thảo am, chỗ Đức Phật Độc Giác đang ngự, thấy Ngài ngồi trong am nó đứng ngay trước cửa sủa ba tiếng ra hiệu cho biết là có nó đến, đoạn nó vào nằm bên Ngài. Đoán biết Đức Phật Độc Giác sắp ra đi, nó vừa sủa vừa chạy trước dẫn đường.
Để thử trí khôn của con chó, Đức Phật Độc Giác thường rẽ qua lối này lối nọ, thấy vậy, nó chạy vọt tới trước, đứng cản đường và sủa lên để kêu Ngài trở lại con đường kia, một hôm Đức Phật Độc Giác cũng rẽ qua lối khác như thường lệ, con chó cũng chạy tới trước đón đường, nó ráng sức sủa, nhưng Ngài không đổi hướng, lại nắm chân nó vẹt qua để đi tới, khi thấy Ngài đi luôn, con chó chạy theo níu chéo y của Ngài lôi ngược lại, để chỉ cho Ngài biết con đường nên đi. Sự gần gũi thân mật như thế khiến cho mối tình quyến luyến của con chó đối với Đức Phật Độc Giác càng ngày càng gia tăng.
Một thời gian sau, khi thấy y của Đức Phật Độc Giác cũ quá; ông chủ trại bò xin dâng Ngài vải may y. Khi ấy, Đức Phật Độc Giác bảo rằng: “Nầy đạo hữu việc cắt may y rất khó mà làm một mình vậy để ta đem vải đến chỗ có người tiếp tay phụ may cho dễ”.
- Bạch Ngài, xin thỉnh Ngài hoan hỷ ở đây may y.
- Không thể được đâu đạo hữu!
- Bạch Ngài, nếu vậy xin Ngài đừng đi ở đó quá lâu.
Khi chủ trại bò hầu chuyện cùng Đức Phật Độc Giác con chó ở một bên để ý lắng nghe.
Đức Phật từ giã thí chủ rồi, liền bay bổng lên hư không đoạn Ngài trực chỉ bay luôn về núi Gandhamādana (Hương Đản).
Thấy Đức Phật Độc Giác bay đi, con chó đứng dưới đất nhìn theo mà sủa mãi, cho đến khi hình bóng của Ngài mờ dần và tan biến trong hư không thì tim nó vỡ tan ra. Ôi, súc vật cũng có nhiều con trung nghĩa trung thành, trái với tiếng lòng muôn dạ thú, còn loài người cũng lắm kẻ mật miệng gươm lòng, hiệp với câu: “Giáp mặt lời ra, lòng xa ngàn núi (đối diện dữ, nhữ tâm cách thiên san).
Do nhờ tánh trung nghĩa chân thật, sau khi chết, con chó được thọ sanh lên cung trời Đao Lợi, có một ngàn ngọc nữ theo hầu hưởng được phước lộc của một Thiên vương, đức vua trời này có giọng nói rất to. Dầu khi kề tai nói nhỏ, tiếng ngài cũng vang rền xa mười sáu do tuần. Do đó, Thiên vương được mệnh danh là Lôi Âm thiên tử (Ghositadevaputta).
Nhờ gieo nhân nào mà Ngài được phước ấy, nhờ trong kiếp chó ngài đã sủa Đức Phật Độc Giác bằng cả tấm lòng trìu mến vậy.
Lôi Âm thiên tử không được trường thọ để hưởng lộc trời. (Trên Thiên giới, chư Thiên mạng chung vì hết tuổi thọ, hoặc vì hết phước vì quên thọ thực hay vì quá sân hận). Vị nào do tạo nhiều phước nghiệp, thọ sanh lên cõi trời nào, sống mãi tùy theo số tuổi thọ của chư Thiên cõi ấy, chết rồi sanh đi sanh lại cũng chưa hết phước, như vậy gọi là mạng chung vì hết tuổi thọ. Vị nào tạo chút ít phước thọ sanh lên cõi trời nào, khi hưởng hết phước để dành thì phải chết ví như người gởi vào công khố độ bốn, năm lon lúa, lấy ra hết rồi thôi, như thế mạng chung vì hết phước. Còn vị nào đang mê say thọ hưởng ngũ trần, mãi ham vui mà quên lãng việc thọ thực vị ấy cũng phải chết vì xác thân không được dinh dưỡng, như thế gọi là mạng chung vì quên thọ thực. Và vị nào thấy vị khác có nhiều oai lực phước báu hơn mình mà phát sanh lòng ganh tỵ, hễ cơn giận nổi lên thì cũng chết, như vậy gọi là mạng chung vì sân hận.
Ghositadevaputta mãi vui say với ngũ trần dục lạc mà quên thọ thực nên phải mạng chung, đầu thai vào lòng một cô gái lầu xanh ở trong thành Kosambi. Vừa sanh con, cô kỹ nữ (sobhinī) đã hỏi đứa tỳ nữ: “Trai hay gái?”.
- Dạ thưa cô, trai!
Không cần thấy mặt anh nhi, sản phụ vội bảo:
- Vậy mầy hãy bỏ thằng nầy vào một cái giỏ xách
bằng mây, rồi đem liệng nó ra trên đống rác.
Đứa nữ tỳ vâng lịnh chủ, đem vứt đứa bé vô thừa nhận. (Các cô ả làng chơi ở đô thành chỉ nuôi ròng con gái, chớ không dùng con trai vì con gái mới nối được nghiệp nhà.)
Nằm trơ trên đống rác, hòn máu bỏ rơi bị chó và quạ xúm lại bao vây, nhưng chẳng con nào dám xáp lại gần do nhờ phước báu đã sủa Đức Phật Độc Giác với tâm trìu mến trong kiếp làm chó của nó.
Thời may, trong giây phút ấy có người đàn ông đi ra đồng, thấy quạ và chó chùm chum một chỗ, nên để ý tự hỏi:
- Đằng đó có cái gì vậy?
Rảo bước đến nơi, người đàn ông thấy đứa hài nhi thì sanh lòng thương như con đẻ, bèn bế xốc nó lên và tri hô rằng:
- Ta xí được đứa con trai, đoạn người ấy bồng nó đem về nhà.
Ngày sanh đứa trẻ không cha là ngày ông Thiên hộ thành Kosambi vào triều bái mạng đức vua. Lúc vào hoàng thành ông gặp quan Khâm thiên giám từ trong cung nội đi ra, bèn nghiêng mình thi lễ và hỏi rằng:
- Kính thưa Quốc sư, chẳng hay Ngài đã xem thiên văn để tiên đoán quốc sự ngày bữa nay hay chưa?
- Thưa phú Trưởng giả, đó là bổn phận hằng ngày của bổn chức.
- Vậy thưa Ngài, trong nước có chuyện chi lạ xảy ra không?
- Chẳng có chi khác, ngoài việc đứa bé sanh ra trong đô thành ngày hôm nay, sau nầy sẽ là đệ nhất phú Trưởng giả.
Lúc ấy bà Thiên hộ cũng có thai gần ngày sanh, cho nên ông Thiên hộ hối hả sai tên gia đinh theo hầu:
- Nầy con! Con về xem coi bà đã lâm bồn chưa nghe!
Tùng giả vâng lời chạy ngay về nhà, hỏi: “Bà Thiên Hộ đã lâm bồn chưa?”.
Nghe người nhà đáp: “Bà chưa sanh”, tùng giả bèn chạy trở vô thành, lập y lại với chủ “Bà chưa sanh”.
Khi hay tin vợ chưa sanh, phú ông vào triều thỉnh an đức vua xong vội vã trở về nhà, cho đòi con tỷ tất Kālī (Hắc Nô) đến, giao cho nó một ngàn đồng vàng và dặn bảo: “Con hãy đi rảo khắp trong thành dò xét, nếu gặp đứa bé nào mới sanh ra nội ngày bữa nay thì con xuất hết một ngàn đồng vàng mua nó đem về cho ông”.
Nàng Kālī (Hắc Nô) đi hỏi thăm lần hồi, nhờ người điềm chỉ đến ngay nhà người đàn ông xí được đứa bé, liền hỏi vợ chủ nhà:
- Thằng nhỏ nầy thím sanh được bao lâu rồi?
- Dạ mới sanh bữa nay.
- Cho tôi xin nó đi.
Rồi cô kỳ kèo trả giá, từ một đồng lên tới một ngàn đồng vàng mới mua được đứa con rơi đem về cho ông Thiên hộ.
Phú ông bề ngoài làm ra vẻ yêu mến đứa con nuôi, cho cất nhà riêng để nó ở, nhưng trong thâm tâm ông dự tính rằng: “Nếu vợ ta sanh con gái thì ta sẽ gả cho thằng nầy và truyền chức Thiên hộ cho rể, nhược bằng vợ ta sanh con trai thì ta sẽ thủ tiêu nó ngay”.
Cách vài ngày sau, phú bà xổ lòng, sanh được một trai. Phú ông nghĩ rằng: “Bây giờ ta phải tìm cách hạ sát đứa con hoang thì đứa con ruột của ta sẽ giữ chức đệ nhất phú gia trong thành Kosambi nầy”.
Ông Thiên hộ gọi con tỷ tất Kālī và dặn riêng nó rằng: “Con đem thằng bé ngoại tộc nầy đến cửa chuồng bò, chờ khi người ta sắp thả bò ra, thì con bỏ nó nằm ngay giữa lối đi, cho bò cái dặm nhẹp xác nó! Con chờ coi, thấy nó bị đạp chết rồi, hãy về cho ông biết tin”.
Nữ tỳ Kālī ẵm đứa bé đi, chờ một lúc thấy mục đồng mở cửa chuồng bò, bèn đặt nó nằm ngang cửa lối đi của bò. Mọi bữa khác thì con bò đực đầu đàn đi ra sau chót hết, nhưng hôm nay nó lại ra trước nhất, đến ngay chỗ đứa bé nằm nó đứng dang bốn chân ra, che chở tứ phía.
Bầy bò cái không biết mấy trăm con, chạy túa ra làm hai hàng, chạm vào hai bên hông con bò mộng, người chăn bò thấy chuyện lạ, nói thầm rằng: “Con bò mộng nầy lúc nào cũng đi ra sau cùng, sao hôm nay lại phát chứng chạy ra trước nhất, đứng chận ngay cửa chuồng vậy cà? Không biết có cái gì ở đó?”.
Khi đến gần, trông thấy đứa bé tí hon đang nằm dưới con bò mộng, người chăn bò sanh lòng thương như con ruột của mình, bèn hô lớn lên: “Ta xí được đứa con trai” rồi ẵm luôn nó vô nhà.
Kālī về phục lịnh chủ, đem hết mọi sự trình lại cho ông Thiên hộ nghe. Phú ông lại giao cho nó một ngàn đồng vàng và dặn: “Bây giờ con đem số tiền nầy đi, ráng chuộc thằng bé về cho ông”.
Tỷ tất Kālī thực hành lịnh chủ, xuất hết một ngàn đồng vàng chuộc được đứa bé mang về cho ông Thiên hộ. Khi ấy, phú ông lại nhỏ to sở cậy đứa tớ gái tâm phúc rằng: “Nầy Kālī con, hôm nay trong đô thành có năm trăm cỗ xe bò sắp khởi hành một chuyến buôn xa, sẽ đi tờ mờ sáng vậy con hãy mang thằng bé nầy đem bỏ giữa đường lộ cho bò đạp, cho xe cán nó nát thây, đứt đầu chết đi cho rảnh, con chờ xem thấy nó chết thật rồi, hãy về cho ông hay”.
Con nữ tỳ lại mang đứa bé đi bỏ nằm ngang giữa lộ. Lúc khởi hành vị đoàn trưởng cho xe mình đi trước dẫn đường, đến chỗ đứa bé nằm, cặp bò đứng khựng lại, bị chủ la hét thúc giục, chúng lại lộn nài bẻ ống không chịu đi tới nữa. Vì cặp bò hướng đạo sanh chứng, tháo trút như vậy, nên cả đoàn xe phải dừng lại. Vị đoàn trưởng đang mãi đứng loay hoay gác ách lên cổ bò thì trời rựng sáng.
Khi ấy ông trưởng đoàn lái buôn nhìn xuống đường để xem coi: “Tại sao mấy con bò sanh chứng kỳ vậy?” khi trông thấy đứa hài nhi ông mừng thầm: “Hay lắm, công việc nầy thật phù hợp với vợ ta”, rồi ông bồng đứa bé lên và đem nó về nhà.
Thấy Kālī về, ông Thiên hộ lật đật hỏi thăm, khi nghe đứa tớ gái tường thuật hết sự tình, ông lại sai nó đi:
- Thôi con ráng đi một lần nữa, đem một ngàn đồng vàng nầy chuộc nó đem về đây.
Con nữ tỳ làm theo lời chủ dặn.
Ông Thiên hộ lại bảo nó: “Bây giờ con đem thằng nhỏ bỏ vào bãi tha ma, để cho cầm thú, nhất là chó mèo nhai xương nó, cho phi nhân, ngạ quỉ đánh đập nó chết đi, chừng con thấy nó thật chết rồi thì về cho ông biết tin”.
Kālī lại mang đứa hài nhi ra đi, quạ hay là các giống phi nhân đều không dám xáp lại gần kề bên nó, nó chỉ có một mình trơ trọi, chẳng có cha, có mẹ, có anh chị nào khác bảo bọc, che chở cho nó hết cả. Vậy thì ai hộ trì nó? Đó là nhờ phước nó đã tạo trong kiếp chó, bằng cách sủa kêu Đức Độc Giác Phật với tâm trìu mến, hộ trì nó vậy.
Khi ấy có một người chăn dê, đuổi hằng trăm ngàn con dê ra đồng cỏ cho ăn, đi xuyên qua bãi tha ma, một con dê cái đi kiếm lá cây ăn, nên tách ra đi riêng, chui vào một bụi rậm, thấy đứa bé nó dừng lại, quì hai gối đưa vú cho đứa bé bú, nghe người chăn giả tiếng kêu “be be”, nó cũng không chạy ra, người nầy định bụng ta sẽ đập cho nó mấy gậy.
Khi chui vào chỗ lùm cây bụi rậm, thấy con dê cái đang đứng chàng hảng cho đứa bé nút sữa của nó, người chăn dê cảm thấy thương đứa bé ấy như con mình, bèn tri hô lên rồi ẵm nó đem đi.
Con Kālī mục kích được chuyện nầy, trở về phúc trình tường tận cho ông phú hộ biết, ông ta lại sai nó mang một ngàn đồng tiền vàng chuộc đứa bé mang về và nó lại thi hành mệnh lệnh của chủ.
Khi ấy, ông Thiên hộ lại dặn dò cô tới gái thân tín: “Nầy Kālī con! Phen nầy con ráng đem thằng nầy trèo lên núi, tới chỗ vực thẳm mà người ta sẽ xô bọn cướp xuống hành hình (Corappabbata), con vứt nó xuống hố sâu cho nó va chạm vào vách đá đập nát thây thi, chừng con thấy nó rớt xuống đất thật chết rồi thì con về cho ông hay”.
Con nữ tỳ đai đứa bé, trèo lên chót núi rồi quăng nó xuống.
Ngay chỗ ấy, từ sườn núi phía dưới có một lùm tre lớn theo khe đá nứt mọc lên, trên đầu ngọn tre một đám cam thảo rừng (jiñjuka) bao phủ rậm rạp, đứa bé rơi nhằm trong đó như là nằm trên tấm thảm to vậy.
Ngày ấy, ông thợ cả trong nhóm người đan thúng rổ cần dùng tre, ông ta xách rựa đi với đứa con trai lên núi, đến chỗ lùm tre dọn gai gốc để đốn, bị động đứa trẻ khóc ré lên. Nghe tiếng con nít khóc dậy, ông đốn tre nói: “Tiếng gì y như tiếng con nít khóc vậy?”. Đoạn ông ta tìm lối trèo lên đầu ngọn tre, thấy đứa hài nhi ông mừng rỡ tri hô lên: “Ta xí được đứa con trai”. Rồi ông bồng nó đem đi.
Con Kālī trở về gặp ông Thiên hộ, ông hỏi thì nó thấy sao cứ nói vậy, tình thật khai ngay, phú ông lại đưa ra một ngàn đồng vàng, biểu nó đi chuộc đứa bé đem về cho ông và nó cứ y lời, không dám cãi lịnh chủ.
Mặc dù bị dưỡng phụ là ông Thiên hộ lập phương nầy thế nọ để sát hại như thế, đứa con trai mồ côi cũng chẳng hề hấn gì, nó lớn dần lên và được mọi người gọi là Ghosaka (Lôi Âm công tử) vì tiếng nói của nó vang rền như sấm, nó như là cái gai nhọn châm vào mắt Trưởng giả, ông ta thù ghét nó đến nỗi ông ta không muốn trông thấy mặt nó, bị những ý tưởng đen tối ám ảnh, ông Thiên hộ lại cố tìm cho ra mưu kế để giết nó cho khuất mắt mình, ông ta bèn đến chỗ ngụ của người làm nghề lò gốm và nói:
- Chừng nào bạn đốt lò?
- Ngày mai.
Nghe vậy, ông Thiên hộ nói: “Thế thì bạn cứ cầm lấy một ngàn đồng tiền vàng nầy mà xài, rồi tiếp theo làm việc nầy giúp tôi nhé!”.
- Việc chi vậy?
- Tôi có một thằng con nuôi, tôi sẽ sai nó đến đây bạn hãy dắt nó vào phòng kín, lấy dao bén phân thây nó ra từng mảnh, ném vào lò hầm. Đây một ngàn đồng vàng nầy tôi biếu trước cho bạn, khi nào xong việc tôi còn nhiều quà tặng thù lao cho bạn nữa.
Chủ lò gốm nhận lời đáp: “Dạ thưa, được rồi”. Hôm sau, ông Thiên hộ cho đòi Ghosaka (Lôi Âm) đến, bảo rằng:
- Con à! Hôm qua cha có đặt cho ông chủ lò gốm làm một công việc, giờ con hãy đến nhắc ông ta như vầy: “Hôm qua cha tôi có đặt cho chú làm chuyện chi đó, thì chú cứ làm đi”.
Công tử Ghosaka: “Dạ vâng”, rồi ra đi.
Khi ấy, con ruột của ông Thiên hộ đang chơi bắn cu li (Gulakīḷā) với bạn trẻ, thấy Ghosaka ra đi, kêu lại hỏi: “Anh Ghosaka, anh đi đâu đó?”.
- Cha sai anh đi đến nhà người chủ lò gốm có việc.
- Để em đi thế cho, mấy đứa nầy ăn của em nhiều đạn quá, anh hãy ở đây chơi, gỡ lại dùm em.
- Anh sợ cha rầy lắm.
- Anh đừng sợ, để em đi đưa tin thế cho anh, em bị thua nhiều lắm, anh ráng gỡ lại dùm em, trước khi em trở về nhà.
Công tử Ghosaka có tiếng là chơi bắn đạn rất giỏi nên con Trưởng giả mới theo nài nỉ như vậy.
Sau cùng công tử chiều theo ý em và bảo: “Ừ thôi, thì em đến nhắc với chủ lò gốm rằng: Nghe nói hôm qua cha tôi có đặt cho chú làm công việc chi đó vậy bây giờ chú cứ làm đi”.
Cậu con ruột của ông Thiên hộ đến tìm gặp ông chủ lò gốm và nói y theo lời Ghosaka đã dặn. Cậu ta không dè ông chủ lò gốm đã nhận tiền của cha cậu, nên y theo mật ước, giết chết và phân thây cậu và ném vào lò hầm.
Công tử Ghosaka ở chơi bắn đạn, mãi đến chiều tối mới trở về nhà. Ông Thiên hộ thấy cậu liền hỏi: “Ủa sao con chưa đi mà còn ở đây?”.
Công tử Ghosaka bèn cho dưỡng phụ biết lý do: Cậu không đi là vì em cậu đã giành đi thế cho cậu.
Nghe vừa dứt lời, ông Thiên hộ tưởng như máu nóng sôi trào trong khắp người ông, ông kêu thét lên hai tiếng: “Đừng giết,” rồi ông oằn oại chắp tay, lảo đảo đi đến lò gốm vừa đi vừa than khóc: “Chú lò gốm ơi! Chú đừng có giết hại tôi hi hi, chú đừng có giết hại tôi hi hi…”.
Chủ lò gốm thấy ông Thiên hộ đi đến vội vã chạy ra đón rước và cho biết rằng: “Thưa ông chủ, xin ông đừng to tiếng việc ấy tôi đã thi hành rồi”.
Ông Thiên hộ bị mối sầu tựa như núi đè nặng tâm tư, nhưng ông chỉ còn nước ngậm hờn, nuốt tủi, thầm ôm mối hận ngàn đời.
Đó là tội báo của kẻ nhiễm ô, manh tâm muốn hãm hại người trong sạch, đề cập đến việc nầy, Đức Thế Tôn có thuyết bài kệ Pháp Cú được ghi trong phẩm Đao Trượng (Hình phạt).
“Yo daṇḍena adaṇḍesu,
Appaduṭṭhesu dussati;
Dasannaṃ aññataraṃ ṭhānaṃ,
Khippameva nigacchati”“
Vedanaṃ pharusaṃ jāniṃ,
Sarīrassa ca bhadanaṃ;
Garukaṃ vāpi ābādhaṃ,
Cittakkhepaṃ va pāpuṇe”“
Rājato vā upassaggaṃ,
Abbhakkhānaṃ va dāruṇaṃ;
Parikkhayaṃ va ñātīnaṃ,
Bhogānaṃ va pabhaṅguṇaṃ”
“Atha v’āssa agārāni,
Aggi ḍahati pāvako;
Kāyassa bhedā duppañño,
Nirayaṃ so’papajjati”
“Cầm đao trượng đối tay không,
Ác nhân muốn hại người trong sạch thì,
Quả kia sẽ trả cấp kỳ,
Trong mười điều khổ, thọ y một điều:
Tâm thần đau đớn trăm chiều,
Hoặc thân ngộ nạn nát tiêu, rã rời,
Hoặc lâm bịnh nặng khổ đời,
Hoặc cuồng tâm, hóa ra người khùng điên,
Hoặc vua hình phạt, cùm xiềng,
Hoặc người vu cáo oan khiên tội tình,
Hoặc ly tán cả gia đình,
Hoặc là tài sản tan tành hư hao,
Hoặc là cửa rộng nhà cao,
Lửa hồng một ngọn cháy ào tan hoang.
Rã thây rồi, kẻ ngu ngoan,
Còn sa địa ngục chịu toàn khổ đau”
Tuy đau khổ vì con chết do lòng hiểm độc của mình, phú Trưởng giả vẫn chưa tỉnh ngộ hối quá, mà lại càng ghét cay ghét đắng công tử Ghosaka, muốn thủ tiêu ngay cậu cho khỏi xốn mắt, mỗi khi nhìn thấy cậu, ông lại moi óc tìm ra được một kế khác “Ta sẽ sai thằng nầy, đi đến mượn tay cậu quản lý ở Gāmasata (Ba Thôn) của ta giết nó”.
Ông liền thảo một bức thư, đại khái nói rằng: “Thằng nầy là con nuôi của ta, nhờ cậu giết nó chết và trừ cho mất xác, rồi ta sẽ đền công ơn xứng đáng”.
Trao phong thư cho công tử Ghosaka, phú ông hạ thấp giọng bảo rằng: “Nầy Ghosaka con! Cha có một viên quản lý ở Gāmasata, con mau mang thơ nầy đến trao tận tay ông ấy”.
Dặn dò xong, phú ông buộc bức thư cẩm nang vào vạt áo của cậu Ghosaka. Chàng công tử nầy đã đến tuổi thiếu niên mà còn dốt chữ vì thất học. Từ bé đến giờ, chàng bị người dưỡng phụ ác tâm cứ mãi tìm cách giết chàng cho khuất mắt, nhưng chẳng thành công, có đâu mà chăm lo đến sự học vấn của chàng.
Vì thế, chàng ta vẫn vô tình để cho dưỡng phụ buộc cẩm nang, trong đó đựng bản án của chàng vào vạt áo. Lúc ra đi chàng chỉ hỏi: “Thưa cha, con chưa có vật thực chi để ăn theo đường”.
- Con khỏi cần đem theo vật thực cho mất công. Con đi giữa đường thì đến làng mổ, nơi đó có ông Trưởng giả là bạn của cha, con ghé nhà ông ấy dùng cơm rồi hãy đi nữa.
- Dạ thưa vâng!
Công tử Ghosaka cúi lạy từ giã dưỡng phụ, đi đến làng mổ hỏi thăm nhà ông Trưởng giả, rồi đến gọi cổng thì gặp bà Trưởng giả.
- Cháu ở đâu lại đây? – Phú bà hỏi.
- Dạ thưa bác! Cháu ở thành nội. – Thiếu niên đáp
- Cháu là con ai?
- Dạ thưa bác cháu là con ông Thiên hộ.
- Phải cháu tên là Ghosaka không?
- Dạ thưa bác phải.
Bà Trưởng giả thấy mặt Ghosaka và nghe tiếng chàng đối đáp tự nhiên sanh lòng mến thương chàng như con đẻ.
Ông bà Trưởng giả chỉ có một nàng tiểu thư tuổi vừa mới cặp kê, nhan sắc mỹ miều, khả ái. Ông bà cắt riêng một đứa nữ tỳ để theo săn sóc và phục dịch cho tiểu thư. Tiểu thư ở trên từng lầu thứ bảy, tối ngày chẳng hề bước chân ra khỏi căn phòng.
Bà Trưởng giả thấy con hầu của tiểu thư xuống lầu, bèn kêu hỏi nó: “A hoàn ạ! Mầy đi đâu vậy?”.
- Bẩm bà! Tiểu thư sai con đi chợ.
Bà Trưởng giả bảo: “Thôi mầy khoan đi chợ đã! Lại đây lo sửa soạn ghế cho công tử ngồi, trải chiếu mời công tử nằm nghỉ đâu đó xong xuôi đàng hoàng, rồi hãy đi chợ nghe”.
Con a hoàn vâng lịnh bà Trưởng giả, lo xong công việc rồi mới đi chợ. Khi nó về, tiểu thư thấy nó đi lâu nên trách mắng, hăm he, nó bèn phân trần: “Thưa tiểu thư, xin tiểu thư đừng giận, mắc bị có công tử Ghosaka là trưởng nam của ông Thiên hộ mới đến, bà biểu phải làm công kia việc nọ cho công tử trước rồi hãy đi chợ sau, nên em về trễ”.
Vừa nghe đến tên công tử Ghosaka, tiểu thơ bỗng nhiên sửng sốt ngẩn ngơ: Tình yêu công tử bộc phát như xuyên qua khỏi làn da, chạm đến tận xương tủy của nàng xử nữ.
- Trong tiền kiếp công tử Ghosaka chính là chàng Kotuhaliko còn tiểu thơ là nàng Kālī vợ của chàng, nàng nhờ để bát một bát cơm cúng dường Đức Phật Độc Giác, nên kiếp nầy được sanh vào nhà đại phú, tình yêu chồng từ kiếp trước như lửa bừng cháy lại, khiến cho nàng xúc động tâm tư. Bởi thế nên Đức Thế Tôn mới thuyết kệ rằng:
“Pubbevasannivāsena,
Paccuppannahitena vā;
Evantaṃ jāyate pemaṃ,
Uppalaṃ va yathodaketi”
“Xưa từng chung chạ ra vào,
Giờ nay tái ngộ, lòng nào chẳng lay.
Men tình vừa nhắp đã say,
Bèo xanh gặp nước ngày ngày gia tăng”
Khi ấy, tiểu thư hỏi con a hoàn: “Công tử hiện nay ở đâu vậy em ?”.
- Thưa cô! Công tử đang nằm ngủ trên giường.
- Công tử có cầm vật chi trong tay không?
- Thưa tiểu thư, ở vạt áo công tử có buộc một bức cẩm nang.
Tiểu thư nghĩ thầm: “Đó là thư từ chi vậy?”.
Trong khi công tử Ghosaka còn đang say giấc nồng, tiểu thư không cho cha mẹ hay biết, rón rén lén xuống thơ phòng, mở lấy cẩm nang buộc nơi vạt áo của công tử, đoạn trở lên khuê các, đóng cửa cài then mở thơ ra đọc, tiểu thư vốn là bậc văn hay chữ giỏi, đọc suốt hết lời lẽ trong thơ rồi chép miệng than rằng: “Ôi! Công tử khờ khạo làm sao, ai lại buộc theo vạt áo một bức thơ giết mình mà đi lang thang như vậy? Nếu ta không thấy kịp còn chi là đời của công tử”.
Tiểu thư liền xé bỏ bức thư độc hại, nhái theo tuồng chữ và lời lẽ của ông Trưởng giả vắn tắt như vầy: “Đây là trưởng tử của tôi tên là Ghosaka. Xin túc hạ thay mặt tôi, tương lễ vật từ Gāmasata, lo cho nó đẹp duyên cùng ái nữ của ông Trưởng giả bạn tôi, cắt chia nửa phần đất giữa làng chỗ túc hạ ở, cất một ngôi nhà xung quanh có tường rào và thuê người canh gác cẩn mật phòng vệ chu đáo, xong rồi gởi thư phúc đáp: “Tôi đã làm như vầy… như vầy…” thì ta hậu tạ chẳng dám quên ơn”. Thảo xong bức thơ bỏ vào cẩm nang, tiểu thơ vội vã trở xuống chỗ Ghosaka đang ngủ, buộc trở lại vào áo công tử như trước.
Ngủ một giấc đỡ mệt, công tử dậy dùng cơm trưa, rồi cất bước lên đường, đi suốt cả đêm, sáng hôm sau công tử Ghosaka đến Gāmasata, gặp viên quản lý đang đi công cán trong làng. Thấy Ghosaka viên quản lý bèn hỏi:
- Có việc chi vậy công tử?
- Cha tôi gởi thơ qua cho ông đây.
- Thư gì đâu, công tử cho tôi coi thử.
Tiếp lấy bức cẩm nang viên quản lý mở thơ ra đọc rồi phân bua với dân làng: “Bà con ơi! Bà con coi đây, ông chủ thương tôi hết mình, ông gởi thư biểu tôi: “Hãy lo cưới vợ cho trưởng nam của ta”. Vậy anh em hãy ráng lo sắp đặt củi nước sẵn sàng nghe chưa”.
Phân chia công tác cho các gia chủ dự bị cuộc lễ hôn phối xong viên quản lý khiến dọn miếng đất gọn gàng giữa làng và lo kiến tạo một ngôi nhà mới.
Kế đó viên quản lý sắp sanh lễ vật cầu hôn, đến rước tiểu thư ái nữ của ông Trưởng giả về cử hành lễ tân hôn và tân gia cho công tử Ghosaka, đoạn cho người báo hỷ tín cho ông Thiên hộ biết: “Tôi đã phụng hành mệnh lệnh Thiên hộ, làm như thế… như thế…”.
Tiếp được hỷ tín, ông Thiên hộ càng thêm tức tối bội phần, ngày đêm vào thở ra than: “Việc ta chủ mưu sao không thành, còn việc ta không chủ mưu thành sự như thế làm chi”.
Lớp sầu con chết, lớp giận Ghosaka, hai mối ưu phiền dồn dập, khiến ông Thiên hộ phát chứng đau bụng sanh ra kiết lỵ.
Đây nói về tiểu thơ con ông Trưởng giả, khi về ở nhà mới, nàng dặn dò hết các gia bộc: “Nếu có người nhà của ông Thiên hộ qua đây, mà chưa gọi sai biểu các người thì các người khoan đi báo tin cho công tử biết nghe không?”.
Còn ông Thiên hộ nằm trên giường bịnh, ông tính một mình: “Nghĩa tử là kẻ ngoại thân, ta nhất định sẽ không lập nó lên là kẻ thừa kế sản nghiệp của ta”.
Nghĩ rồi, ông cho đòi quản gia đến bảo rằng: “Nầy cậu, ta muốn gặp mặt nghĩa tử của ta. Vậy cậu sai một đứa bộ hạ đi kêu nó về đây!”.
- Dạ thưa vâng! – Viên quản lý đáp, rồi ông ấy thảo một bức thư, trao cho một gia đinh cầm đi qua Gāmasata để rước công tử Ghosaka.
Khi nghe tin báo có đứa gia đinh của ông Thiên hộ mới qua, còn đứng ngoài cổng ngõ chờ lịnh, tiểu thư con ông Trưởng giả cho gọi nó vào nhà và hỏi: “Cậu qua đây có việc chi?”.
- Thưa tiểu thư, ông Thiên hộ bịnh, sai con đi rước công tử về cho ông thấy mặt.
- Nầy, cậu thấy ông bịnh mà còn khỏe hay yếu sức rồi?
- Thưa tiểu thư, ông còn khỏe, thấy ông vẫn ăn uống như thường?
- Thôi được, cậu cứ ở lại đây chơi, đợi lúc nào cô bảo về hãy về.
Tiểu thơ lấy tiền thưởng công cho tên gia đinh, sai người dọn chỗ cho nó ở lại, nhưng cấm tuyệt không ai thông báo cho công tử biết.
Ông Thiên hộ nằm chờ tin, lại hỏi viên quản gia: “Sao lâu quá vậy cậu! Hay là cậu chưa sai đứa nào kêu con ta về đây phải không?”.
- Dạ thưa Thiên hộ, tôi đã sai gia đinh đi rồi, nhưng nó chưa về.
- Nếu vậy, cậu sai đứa nào khác đi tiếp theo coi.
Viên quản gia lại sai thêm một tên gia đinh khác. Đứa sau nầy qua Gāmasata cũng bị tiểu thư đón hỏi thăm tin và lưu giữ lại như đứa trước.
Bịnh tình của ông Thiên hộ bỗng đâu biến chứng trở nên trầm trọng, cơm cháo ông cho vào một bát thì cũng cho ra một bát. Lần thứ ba, ông hỏi viên quản gia: “Sao lâu dữ vậy? Hay cậu không cho đứa nào đi gọi con ta về?”.
- Thưa Thiên hộ, tôi đã sai thêm đứa khác đi nữa rồi, nhưng nó cũng chưa về.
- Thế thì, hãy sai thêm đứa khác đi nữa đi.
Viên quản gia lại sai thêm đứa khác đi qua rước công tử.
Đứa gia đinh thứ ba nầy cũng bị tiểu thư đón lại hỏi thăm: “Bịnh tình của ông Thiên hộ lúc nầy ra sao?”. Nó đáp: “Thưa tiểu thơ ông Thiên hộ bệnh nặng lắm, ông tuyệt thực, nhắm chắc ông phải chết, ông bị ngay sống trường, ăn vô chút nào thì xổ ra hết chút nấy”.
Tiểu thơ nghĩ thầm: “Lúc nầy chính là lúc nên đi”. Tiểu thơ bèn vào thưa với chồng: “Có tin nhắn cho hay nghiêm đường thọ bệnh”.
- Hiền thê nói chi?
- Dạ thưa lang quân, phụ thân của chàng quí thể bất an.
Công tử Ghosaka lại hỏi vợ rằng: “Bây giờ ta phải làm gì đây há?”.
Tiểu thơ đáp: “Thưa lang quân! Ta nên đem theo sản phẩm ở Gāmasata để làm lễ vật khi về thăm viếng gia nghiêm”.
- Ờ phải rồi!
Công tử khiến người mang lễ vật chất đầy mấy cỗ xe bò, đem đi theo, rồi hai vợ chồng khởi hành.
Đi được nửa đường, tiểu thơ nói với chồng:
- Lịnh nghiêm đường đau yếu, ta về thăm mà mang
nhiều lễ vật kềnh càng bất tiện lắm. Thôi chàng hãy cho trả trở lại hết đi.
Nói rồi, tiểu thư cho xe đem tất cả về hết nhà ông Trưởng giả cha nàng. Tiểu thơ lại dặn chồng: “Lang quân à! Lát nữa về thăm lịnh nghiêm, chàng hãy đứng phía dưới chân, để thiếp đứng phía trên đầu nghe chàng”.
Vào tới trong nhà, công tử Ghosaka đứng phía dưới chân dưỡng phụ, còn nàng thì đứng phía trên đầu ông.
Trong giờ ấy, ông Thiên hộ nằm ngửa, mắt nhắm thiêm thiếp viên quản gia đang ngồi bóp chân cho ông, bèn lên tiếng:
- Thưa Thiên hộ, có công tử mới về đây.
- Nó đâu?
- Dạ công tử đang đứng dưới chân Thiên hộ đó.
Trông thấy công tử Ghosaka, ông Thiên hộ cho mời viên tổng quản tài sản của ông đến hỏi rằng:
- Gia tài của ta tất cả được bao nhiêu?
- Thưa Thiên hộ về tiền mặt, đồ vật dùng và xa xí phẩm độ bốn trăm triệu, còn làng ấp, ruộng vườn, sản vật lương tức, tứ túc, xe cộ, mỗi thứ được chừng nầy, chừng nầy…
Nghe viên tổng quản phúc trình xong, ông Thiên hộ có ý muốn di chúc rằng: “Chừng ấy tài sản của ta, Ghosaka là nghĩa tử, ta không cho quyền thừa kế”. Nhưng khi thốt ra lời, ông Thiên hộ nói lộn là “Ta cho quyền thừa kế”. Tiểu thơ nghe dứt tiếng, nàng mừng thầm tự nghĩ: “Nếu cho ông ấy nói sửa trở lại thì tình thế sẽ đảo ngược hết”. Tiểu thơ liền giả cách bi thương, bứt tóc dậm chân khóc kể rằng: “Cha ơi là cha, cha nói làm chi lời ấy, làm cho hai con nghe qua càng thêm đau khổ quá chừng! Cha ơi là cha ơi…”.
Dứt lời, tiểu thơ giả vờ chồm tới trước, đập đầu ngay ngực ông Thiên hộ, rồi nằm lì nơi đó khóc nỉ non tức tưởi, cốt ý không cho cha chồng mở miệng sửa lại chúc ngôn. Nhưng ông Thiên hộ cũng vừa tắt thở ngay trong phút giây ấy.
Gia nhân vào trào bái kiến đức vua Udena để báo tin: “Ông Thiên hộ đã thất lộc”. Quốc vương ban cho gấm vóc để đem về khâm liệm tống chung phú ông, đúng theo nghi lễ và phán hỏi:
- Thiên hộ có con trai hay con gái chi không?
- Muôn tâu bệ hạ, Thiên hộ có một người con trai là công tử Ghosaka. Trước khi thất lộc, Thiên hộ có chúc ngôn truyền hết tài sản lại cho công tử.
Sau đó một thời gian, đức vua triệu công tử Ghosaka vào triều bệ kiến.
Hôm ấy nhằm trời mưa to, trong sân ngự chỗ nào cũng có nước đọng vũng, công tử Ghosaka tính thầm: “Ta đi chầu vua”, rồi một mình đi vào cung nội. Đức vua đứng trong biệt điện, mở cửa sổ nhìn ra, thấy công tử đi đến đang nhảy tránh các vũng nước trong sân mà vào cung.
Đến chỗ vua ngự, công tử triều bái, tung hô vạn tuế, rồi đứng lên. Đức vua phán hỏi công tử:
- Khanh đây phải là Ghosaka không?
- Muôn tâu bệ hạ, phải! Hạ thần chẳng may nên nghiêm đường đã sớm thất lộc.
- Khanh đừng bị lụy, để trẫm phong chức Thiên hộ cho khanh, để khanh được nối chức của cha.
Phán xong, đức vua ân tứ cho công tử mấy chung ngự tửu, rồi truyền bãi chầu: “Trẫm cho phép khanh về”.
Khi Ghosaka về, đức vua còn đứng nhìn theo, thấy công tử đi thẳng một đường, lội luôn qua các vũng nước, chứ không nhảy tránh như lúc vào cung. Đức vua lấy làm lạ về cử chỉ của công tử Ghosaka, bèn triệu hồi và phán hỏi công tử:
- Nầy hiền khanh, tại sao lúc vào cung để triều kiến trẫm thì khanh nhảy tránh các vũng nước, còn khi trở về khanh lội phăng xuống nước, đi thẳng một đường?
- Muôn tâu Thánh thượng, hạ thần lúc vào cung còn là một công tử, cho nên còn giữ tánh bay nhảy bông lông, bây giờ đã được lịnh cửu trùng chẩn hứa sẽ ban cho tước lộc triều đình hạ thần không dám khinh suất như trước, cho nên phải đi đứng chỉnh tề như thế.
Nghe công tử biện bạch, Quốc vương Udena cảm mến, khen rằng:
- Thiếu niên nầy có đủ tư cách, đáng được thụ phong ngay từ bây giờ.
Phán rồi, đức vua hạ chiếu chỉ, phong cho công tử Ghosaka giữ chức Thiên hộ của cha, được phép thu thuế công đền công thổ một trăm thôn ấp như trước.
Công tử Ghosaka về nhà vinh qui bái tổ, công tử đứng trên một chiếc xe hoa, nhiễu qua thành phố dân chúng khắp nơi tưng bừng chào đón, tiếng hoan hô vang dậy.
Tiểu thơ ở nhà đang trò chuyện với bà vú Kāḷī, tiểu thơ hỏi rằng: “Nhủ mẫu Kāḷī vú có biết rằng tất cả sản nghiệp của con trai vú, nhờ một tay con mà có không?”.
- Nhờ bằng cách nào hả con?
- Lúc trước công tử qua nhà con, bên vạt áo có buộc một phong thư mượn người hạ sát chàng. Khi ấy chính tay con xé bỏ bức thư độc hại ấy và viết tráo một bức thư khác, mượn người đứng chủ hôn cho công tử đứng cưới con. Nhờ con cứu mạng mà công tử mới được sống sót đến ngày nay.
- Con à! Con chỉ biết thấy có bao nhiêu đó thôi. Chớ thật ra lão Thiên hộ đã lập tâm mưu sát công tử nhiều lần, kể từ thuở công tử hãy còn bé thơ. Nhưng lão đã thất bại hoàn toàn mặc dầu lão đã tung ra rất nhiều tiền của.
- Nhủ mẫu à! Lão Thiên hộ đã tạo thật nhiều nghiệp hết sức nặng nề, tội lỗi phải không?
Thấy công tử đã nhiễu qua thành phố, trở về đến nhà, Tiểu thơ cười rằng: “Công tử nhờ một tay thiếp mới được vinh hiển như thế”.
Thiên hộ Ghosaka thấy vợ cười thì hỏi:
- Tại sao nàng cười?
- Tại vì một lẽ riêng.
- Lẽ gì? Nói ta nghe thử.
Tiểu thư nín thinh, làm ra vẻ bí mật. Ghosaka rút kiếm ra giả vờ hăm dọa: “Nếu thực không chịu khai, ta sẽ chém mi đứt hai bây giờ”.
Tiểu thơ nói: “Thiếp cười vì chàng nhờ thiếp mới được làm chủ bấy nhiêu sản nghiệp nầy đây?”.
Ghosaka bảo vợ: “Tất cả tư sản nầy là của gia nghiêm truyền giao cho ta, ta thừa hưởng là lẽ dĩ nhiên, nàng có công lao chi mà kể lể”.
Thiên hộ vẫn vô tình, không biết chi về ác tâm của dưỡng phụ trong thời gian qua, nên khi nghe vợ kể công, thì chàng không tin.
Tiểu thơ bèn đem tất cả những điều uẩn khúc thuật lại một hồi: “Dưỡng phụ sai chàng mang thơ, mượn tay người thủ tiêu chàng, mà chàng vô tình nào biết. Nhờ thiếp đã làm như vậy… như vậy… để cứu mạng và che chở cho chàng sống đến ngày nay”.
- Không tin, chàng cứ hỏi bảo mẫu Kāḷī thì biết.
- Thưa bảo mẫu vợ con nói đây có thật không?
- Thật thế con à, dưỡng phụ con mưu tính giết con khi con còn măng sữa nhưng không được. Người đã xuất rất nhiều tiền sai đem bỏ con bảy lần ở bảy chỗ, mà con đều thoát chết. Nên bây giờ con mới sống mà thừa hưởng di sản, được vua phong chức Thiên hộ và ân tứ quyền thu thuế một trăm thôn ấy đó con.
Nghe hết tự sự, Thiên hộ Ghosaka giựt mình, than thầm: “Ôi! Nghiệp báo của ta quả thật nặng nề, cho nên mới chết hụt nhiều lần như vậy. May sao mà ta còn toàn mạng… Nếu ta cứ buông lung phóng dật chẳng là trái đạo lắm ư? Từ rày ta không nên dễ duôi nữa!”.
Nghĩ rồi, mỗi ngày Thiên hộ xuất ra một ngàn đồng vàng để làm việc phước thiện, như giúp kẻ lỡ đường, nuôi người tàn phế, châu cấp cho kẻ cô bần quả nhược… Thiên hộ giao phó công việc chuẩn thí cho Trưởng giả Mittakuṭumbika trông coi.
DỨT TÍCH THIÊN HỘ GHOSAKA
Thuở ấy, nơi kinh thành Bhaddavatī, có viên ngoại là bạn đồng điệu “tương giao tương kiến” (adiṭṭhapubbasahāyako) của Thiên hộ Ghosaka.
Do những lái buôn từ thành Bhaddavatī đến Kosambi, Thiên hộ được nghe danh tiếng giàu sang của nhà cự phú ở nước láng giềng, sanh lòng ái mộ, muốn kết tình hữu nghị nên gởi tặng phẩm đến cho viên ngoại. Bánh ích đi bánh qui lại, hai nhà giao hảo như thế, nhưng chưa có dịp gần nhau. Một thời gian sau, nhà viên ngoại Bhaddavatī bị nhiễm bịnh thiên thời (ahivātarogo). Ruồi lằn chết trước tiên, kế đến kiến mối, chuột, bọ, gà vịt, heo, chó, mèo, bồ câu, tớ gái, tớ trai. Sau cùng tất cả gia nhân đều chết rụi, những người sợ chết lây, bỏ nhà chạy đi lánh nạn thì còn được sống sót. Trong số đó có viên ngoại Bhaddavatī, bà vợ và cô con gái tên là Sāmā (Ô Nhi: Con đen).
Chạy thoát nơi tử địa rồi viên ngoại tính muốn qua thăm Thiên hộ Ghosaka, bèn cùng vợ con lên đường đi Kosambi. Họ đi mới được nửa đường thì hết lương thực.
Dầu dãi phong sương, nhịn đói, nhịn khát thân thể mệt mỏi, tay chân rũ liệt, gian nan lắm họ mới đi đến thành Kosambi. Kiếm chỗ có nước tắm rửa sạch sẽ cho mát mẻ, rồi họ vào nghỉ trong một ký túc xá (sālā) ở đầu cổng thành.
Tạm trú yên nơi viên ngoại bảo vợ rằng: “Bà ơi! Chúng ta tiều tụy như vầy mà đến nhà ai, dầu là nhà mẹ sanh đi nữa, coi cũng khiếm nhã, nghe đồn bạn ta là Thiên hộ Ghosaka hằng ngày xuất cả trăm ngàn đồng vàng để cứu giúp những người lỡ chân trái bước, áo rách đói cơm, ta hãy sai con Sāmā đến đó xin vật thực, ta dùng đỡ một đôi ngày cho lại sức, rồi hãy đến nhà viếng thăm bằng hữu của ta vậy”.
Bà Bhaddavatī cũng đồng tình: “Phải đó ông à”. Đêm ấy ba người ngủ luôn nơi ký túc xá, sáng hôm sau, khi thấy đám bần nhân kéo đến xin vật thực, ông bà viên ngoại kêu con gái:
- Con ơi! Con đi xin vật thực về cho cha mẹ đi con.
Than ôi! Một thiên kim tiểu thơ đến hồi mạt vận, cũng phải ráng dằn lòng chịu nhục, ôm bát đi chung với đám ăn mày, đến đứng trước cửa nhà Trưởng giả Mitta.
- Cô bé đây lãnh mấy phần?
Nghe Trưởng giả hỏi, tiểu thơ đáp:
- Dạ thưa ba phần.
Trưởng giả cấp cho nàng ba phần ăn.
Lãnh thực phẩm xong, tiểu thư đem về ký túc xá cùng ngồi ăn chung với cha mẹ.
Bà viên ngoại nói: “Gia tài sự nghiệp của ta đều tiêu tan, nhưng cũng có ngày tạo lại được cái khác, bây giờ ông nên bảo trọng thân thể, cứ ăn cho no đi, đừng lo cho mẹ con tôi, mà cũng đừng nghĩ ngợi gì nữa”.
Bị hai người cố nài nỉ ép ăn viên ngoại Bhaddavatī thọ thực quá nhiều, nên bị trúng thực phát ách, đau bụng cả đêm và trút hơi thở cuối cùng vào lúc mặt trời mới rạng.
Hai mẹ con bà viên ngoại vật mình than khóc, tình cảnh ái ly tử biệt thật là thống thiết bi ai…
Sáng hôm ấy, tiểu thư Sāmā vừa gạt lệ sầu vừa đi đến chỗ phát chẩn. Thấy tiểu thư, Trưởng giả Mitta lại hỏi:
- Cô bé lãnh mấy phần?
Tiểu thư đáp: “Dạ thưa hai phần”.
Trưởng giả bèn cấp cho tiểu thư hai phần ăn, tiểu thư đem thực phẩm xin được về dâng hết cho mẹ và yêu cầu bà ăn cho no, chiều theo lòng con gái, bà viên ngoại dùng bữa ăn quá sức mình vật thực không tiêu hóa được làm cho bà sình bụng, phát ách và từ trần luôn ngày ấy.
Tiểu thư Sāmā còn sống một mình, hết khóc lại than, muôn sầu vạn thảm, quê người vò võ, tứ cố vô thân, chút phận liễu yếu đào tơ, luống chịu truân chuyên nhiều nỗi.
Đã khổ tâm còn đói bụng, ngày sau tiểu thư phải gắng gượng đi xin ăn vừa đi vừa gạt lệ sầu.
Cô bé lãnh mấy phần ăn?
Dạ thưa, chỉ một phần.
Từ ba ngày nay, Trưởng giả Mitta thấy cô bé nầy mỗi ngày mỗi giảm một phần ăn, nên khi nghe cô đáp “một phần”, thì nói giọng khinh miệt rằng: “À cô bé ăn mày! Bữa nay mày mới tiết độ rồi hả?”.
Tiểu thư Sāmā cảm thấy xót xa tủi nhục như vừa bị ai xát muối vào vết thương lòng, nhưng cũng còn gượng hỏi lại rằng:
- Dạ thưa, ông nói chi?
- Bữa đầu mầy lãnh ba phần ăn, hôm qua lãnh hai phần, hôm nay lãnh một. Vậy là hôm nay mầy biết tiết độ rồi đó.
- Dạ thưa ông chủ, xin ông đừng hiểu lầm là tôi xin về ăn một mình tôi.
- Thế thì tại sao cô bé đã lãnh tới ba phần?
- Bữa đầu, chúng tôi cả thảy ba người, hôm qua còn hai, bữa nay còn một mình tôi mà thôi.
Trưởng giả chưa hiểu rõ nguyên nhân, hỏi tiếp: “Tại làm sao, đâu em nói rành rẽ cho ta nghe thử?”.
Sau khi tiểu thư Sāmā kể hết nỗi nhà tan tác vì tai biến, trôi nổi thân lạc loài. Trưởng giả Mitta cầm lòng không được, nước mắt tuôn rơi.
Trưởng giả an ủi tiểu thư: “Thôi chuyện đã qua rồi, em đừng khêu gợi lại nữa. Con gái của viên ngoại Bhaddavatī cũng như con gái của ta, từ giờ trở đi ta nhận con làm nghĩa nữ”.
Nói rồi, Trưởng giả hôn lên đầu Sāmā, dắt nàng vào nhà, lập nàng lên làm trưởng nữ của mình.
Khi ấy, trong phước xá (Dānagga) có nhiều tiếng ồn ào huyên náo. Tiểu thư Sāmā hỏi dưỡng phụ rằng:
- Thưa cha, sao cha không bảo đám người kia êm lặng và cha không bố thí cho họ vậy?
- Không có cách nào làm cho họ im lặng được con à!
- Thưa cha, con có cách làm được.
- Làm sao được hả con?
- Thưa cha! Cha hãy cho xây rào ngang phía trước phước xá chỉ chừa hai bên cửa ra vào, rồi cha dặn họ: “Đi vô bên nầy, đi ra bên kia”. Làm như vậy thì cha sẽ giữ được trật tự. Họ hết chen lấn ồn ào, ai cũng đi vô lãnh phần mình và đi ra êm thắm.
Trưởng giả Mitta nghe dứt lời khen rằng: “Hay quá, phương pháp của con hay quá”. Rồi Trưởng giả làm y như lời đề nghị của cô nghĩa nữ.
Tiểu thư trước đây tên là Sāmā, nay vì có sáng kiến làm hàng rào trước phước xá, nên được người gọi là Sāmāvatī. Từ đó về sau, trong phước xá dứt hẳn tiếng ồn ào náo nhiệt, sự thay đổi nầy làm cho Thiên hộ Ghosaka để ý, lúc trước mỗi khi nghe tiếng người lao xao vọng đến nhà mình, Thiên hộ rất hài lòng, nói thầm: “Tiếng huyên náo ở phước xá ta đó”. Cách hai ba bữa nay, nghe trong phước xá lặng trang, Thiên hộ lấy làm lạ, bèn đích thân đến gặp Trưởng giả Mitta để gạn hỏi cho biết nguyên nhân.
- Công việc chẩn thí vẫn tiếp tục như thường chứ.
- Dạ vâng, thưa Thiên hộ.
- Tại sao hai ba bữa nay nghe lặng trang, không có tiếng tăm chi hết vậy?
- Thưa Thiên hộ vì tôi áp dụng phương pháp khiến họ được im lặng trước khi lãnh phần cấp thí.
- Thế sao từ trước ông không áp dụng phương pháp ấy?
- Thưa Thiên hộ vì trước kia tôi chưa biết.
- Sao bây giờ lại biết?
- Thưa Thiên hộ, nhờ có trưởng nữ của tôi nó bày cách cho tôi.
- Ủa lạ, từ hồi trước tới giờ, ta chưa nghe nói là ông có con gái mà.
Trưởng giả Mitta bèn đem hết lai lịch của tiểu thư Sāmāvatī, từ khi viên ngoại chết đi cho đến lúc Trưởng giả nhận tiểu thư Sāmāvatī làm trưởng nữ của mình, thuật lại một hồi. Nghe xong, Thiên hộ Ghosaka trách rằng:
- Chuyện như vậy, mà sao ông không cho ta hay? Con gái của bạn ta tức là con gái của ta. Ông kêu nó ra đây cho ta hỏi coi.
Thiên hộ nói tiểu thư Sāmāvatī rằng:
- Con là ái nữ của viên ngoại Bhaddavatī phải không?
- Dạ thưa Ngài, phải.
- Nếu vậy con đừng buồn lo nữa, ta nhận con làm con gái của ta, con chịu chăng?
Thiên hộ Ghosaka hôn lên mái tóc đen huyền của cô gái mồ côi, cấp cho cô năm trăm nữ tỳ và đặt lên địa vị tiểu thư, trưởng nữ của Thiên hộ.
Ngày lễ Quốc khánh trong thành Kosambi, nhân dân vui chơi tưng bừng, rộn rịp. Theo tục lệ, ngày nầy ai ai cũng được tự do, mấy cô thiếu nữ “khuê môn bất xuất” đều dắt cả nhóm thị tỳ của mình đi bộ ra bờ sông để tắm gội.
Nhân dịp lễ hội, tiểu thư Sāmāvatī cùng với năm trăm thị nữ dắt nhau đi tắm sông. Họ diễu ngang qua sân ngự trước đền vua.
Quốc vương Udena đứng trong hoàng cung nhìn qua song cửa sổ, thấy tiểu thư Sāmāvatī, bèn phán hỏi thị thần: “Vũ nữ nầy là của ai?”.
- Tâu bệ hạ, nàng nầy không phải là vũ nữ.
- Vậy nàng là con ai?
- Tâu bệ hạ! Nàng là ái nữ của Thiên hộ Ghosaka, mỹ danh là Sāmāvatī.
Quốc vương Udena từ lúc thấy tiểu thư Sāmāvatī thì đem lòng sủng ái, bèn hạ chiếu chị truyền lệnh cho Thiên hộ Ghosaka đưa tiểu thư tiến cung.
- Muôn tâu Thánh thượng, thần không thể nào đưa con gái tiến cung. – Thiên hộ Ghosaka đáp.
- Khanh chớ vi lịnh quả nhân như thế. Hãy mau đưa lịnh ái tiến cung lập tức.
- Muôn tâu chúa thượng, luật nước tuy nghiêm minh, không có lệ xử phạt, giam cầm người vô tội. Quyền cha thì hữu hạn thì làm sao hạ thần áp chế, đánh đập, ép uổng duyên con. Hạ thần không thể đem con gái mình mà hiến nạp vào cung.
Đức vua nổi trận lôi đình chi bộ, ra lịnh cho quan quân niêm phong nhà cửa của Thiên hộ Ghosaka, dắt hai ông bà đại phú đuổi tống ra bên ngoài.
Tiểu thư đi tắm về bị cấm cửa, không vào nhà được, bèn hỏi ông Thiên hộ:
- Sao có việc nầy vậy thưa cha?
- Nầy con, đức vua đưa sứ đến, đòi tuyển con vào cung, cha mẹ không phục tùng vương lịnh. Đức vua phẫn nộ ra lịnh niêm phong nhà cửa, đuổi tống cha mẹ ra ngoài như vậy đây.
- Thưa cha, – tiểu thư nói – Cha đã phạm tội khi quân, tội ấy rất nặng. Phàm đạo làm tôi không nên cãi lịnh nhà vua. Thưa cha, con thiết tưởng, cha nên tâu cùng đức vua, xin cho cả đoàn thị nữ cùng nhập cung với con.
- Hay thay! Nếu con đã thuận tình gần gũi quân vương thì cha mẹ sẽ chiều ý con mà tâu lên Thiên tử.
Nói rồi Thiên hộ Ghosaka cho người dâng sớ tâu lên Thiên tử. Đức vua chấp nhận bằng lời chuẩn tấu, đoạn khiến quân binh đến rước tiểu thư Sāmāvatī với đoàn thị nữ nhập cung. Đức vua tấn phong tiểu thư là chánh cung Hoàng hậu, còn năm trăm thị nữ của tiểu thư đều được chuẩn nhận làm cung nữ.
DỨT TÍCH TIỂU THƯ SĀMĀVATĪ
Đức vua Udena còn có một bà Thứ hậu tên là Vāsuladatta (Hòa Tu Lạc Thí), là công chúa con vua Caṇḍapajjota (Huy Đăng) trị vì Ujjenīya.
Hoàng đế Caṇḍapajjota là một vị vua có nhiều tham vọng hằng mong đi chinh phạt các nước nhược tiểu để mở rộng bờ cõi nước mình.
Một hôm, trên đường du ngoạn trở về nhà vừa háo chiến vừa tự đắc nhìn ngắm giang san của mình, rồi phán hỏi quần thần: “Có lãnh thổ của quốc vương nào bì kịp với lãnh thổ của trẫm đây chăng?”.
Bá quan tâu rằng: “Muôn tâu Chúa thượng, nếu so với lãnh thổ của Quốc vương Udena thì đất nước của chúng ta chưa thấm vào đâu cả vì xứ Kosambi là một xứ rộng lớn vô cùng”.
Nghe vậy, Hoàng Đế Caṇḍapajjota phán rằng:
- Thế thì trẫm sẽ tương tập binh, thôn tính xứ
Kosambi.
- Muôn tâu Thánh thượng, không thể được.
- Tại vì sao thế?
- Vì vua Udena biết phép điều tượng, miệng niệm mật chú, tay khảy đàn thần vua ấy có thể huy động đàn voi chiến chạy tới chạy lui đúng theo binh pháp. Nước ta không có tượng binh hùng hậu và người tài giỏi như vua ấy đâu?
- Trẫm không bắt sống được vua ấy sao?
- Muôn tâu chúa thượng, nếu chúa thượng quyết bắt cho được vua Udena thì phải dụng mưu kế như vầy: Chúa thượng nên khiến thợ mộc rành nghề, chế tạo một con tượng bằng gỗ, rồi cho quân đem thả gần ranh giới nước vua Udena. Hễ vua ấy nghe đồn có voi chiến, hoặc ngựa chiến ở đâu, thì dầu cho xa xôi cách mấy cũng tìm đến tận nơi, khi ấy ta phục binh thì bắt được vua Udena dễ dàng như trở bàn tay.
Hoàng đế Caṇḍapajjota nghe tâu rất đẹp ý, bèn khiến tuyển nhiều thợ khéo, đặt cho họ làm một con tượng máy bằng gỗ, bên ngoài lấy vải cũ xù xì như da voi phủ lên, bên trong sắp đặt cơ quan điều động, đứng xa trông có vẻ linh hoạt như là voi sống thật sự, xong rồi Hoàng đế Caṇḍapajjota khiến quân sĩ đem tượng máy đến tận biên thùy, đặt nó đứng trên bờ của một hồ nước, trong bụng voi có đến sáu mươi quân sĩ điều khiển cho nó đi tới đi lui chỗ nầy, chỗ nọ. Họ đem theo phẩn voi để trải đường voi đi. Một người thợ rừng xứ Kosambi trông thấy con bạch tượng trước nhất “Thớt tượng nầy rất xứng với quân vương ta”. Nghĩ vậy, người ấy về trào tâu với vua Udena:
- Muôn tâu chúa thượng! Hạ thần đi rừng gặp một con voi trắng, mình trắng phau nhau như ngọn núi tuyết. Thật là một thứ bạch tượng quí rất xứng đôi với chúa thượng.
Lập tức vua Udena phong cho thợ rừng làm hướng đạo viên, rồi vua cỡi voi cùng với đoàn quân hộ giá lên đường đi săn bạch tượng.
Thấy vua Udena trúng kế, bọn thám tử thông tin cho Hoàng đế Caṇḍapajjota hay.
Vua Caṇḍapajjota ngự giá đến nửa đường, khiến quân sĩ an dinh hạ trại, đoạn bố trí hai đội quân mai phục hai bên con đường chẹt, chờ vua Udena đến.
Vua Udena không hay biết cơ mưu của địch, chỉ cứ mải miết rượt theo con bạch tượng giả, bị đuổi gần, bọn người trong mình con voi gia tăng tốc độ, hướng về nơi có phục binh chạy tới.
Vua Udena giở thuật niệm chú, khảy đàn để trục hồi tượng chúa, nhưng con voi gỗ không tuân theo phép, bỏ chạy đi luôn.
Thấy cỡi voi rượt không kịp, đức vua Udena liền bỏ voi, thót lên một con tuấn mã, thúc ngựa đuổi theo.
Ngựa vua phi nước đại, bỏ cả đoàn quân hộ tống rớt lại phía sau, đưa một mình vua vào nơi hiểm địa.
Khi ấy hai đội binh của Hoàng đế Caṇḍapajjota rời chỗ mai phục, xông ra đón đường vây bắt được vua Udena, đem về nạp cho chúa tướng.
Đoàn quân hộ giá của vua Udena chạy trờ tới, thấy vua mình bị sa lưới địch, đã bị sanh cầm, bèn lập tức thối lui, đồn trú ngoài biên giới.
Sau khi dùng mưu bắt sống được vua Udena, Hoàng đế Caṇḍapajjota ra lịnh hạ ngục nhà vua thất thế, sai lính canh phòng cẩn mật, đoạn mở tiệc khao quân, ăn mừng thắng trận trong ba ngày liền. Đến ngày thứ ba vua Udena kêu gọi các lính canh: “Chúa tướng các ngươi đâu ?”.
- Đang uống rượu mừng bắt được vua nước địch.
Nghe vậy vua Udena quát mắng rằng: “Chúa tướng của chúng bây hành động y như là hạng phụ nữ. Lẽ thường, trên chiến địa hễ bắt được vua nước nghịch, một là tha, hai là giết, chớ có đâu mà giam cầm cô gia mãi, để cùng nhau uống rượu ăn mừng”.
Bọn lính canh chạy đi tâu lại những lời trên đây với chúa tướng, Hoàng đế Caṇḍapajjota thân ngự đến đề lao, hỏi vua Udena: “Phải quốc vương đã buông lời khiển trách khiếm nhã đối với quả nhân như thế chăng ?”.
- Tâu đại vương, phải.
- Quả nhân nghe đồn Quốc vương biết pháp điều khiển tượng, nếu Quốc vương truyền dạy quả nhân phép ấy, quả nhân sẽ thả Quốc vương ra ngay.
- Được rồi, cô gia sẽ dạy, những trước khi thọ giáo, đại vương phải làm lễ bái sư, nào đại vương đảnh lễ đi.
- Quả nhân chẳng đảnh lễ ai cả.
- Đại vương không khứng hạ mình làm lễ bái sư hay sao?
- Quả nhân không làm lễ bái sư.
- Thì cô gia cũng không truyền phép điều tượng.
- Nếu Quốc vương giấu nghề, quả nhân sẽ đưa Quốc vương theo chầu tiên đế.
- Thân ta như cá nằm trên thớt, đại vương cứ giết phứt ta đi, chớ đừng mong làm chủ được tâm ta.
Nghe tù nhân phẫn uất la to, Hoàng đế Caṇḍapajjota biết không thể thị oai, nghĩ rằng: “Bây giờ ta phải tìm cách nào học lấy mật chú nầy cho kỳ được. Ta không nên để tiết lộ ra ngoài. À hay ta hãy cho Công chúa con ta đến học với hắn, rồi sau đó ta sẽ học lại của Công chúa”.
Suy nghĩ chín chắn rồi, Hoàng đế Caṇḍapajjota hỏi lại vua Udena: “Nếu có ai khác đảnh lễ Quốc vương để thọ giáo thì quốc vương sẽ truyền dạy mật chú cho người ấy phải chăng?”.
- Tâu đại vương, phải.
- Nếu vậy, trong hoàng cung có đứa con gái lưng gù, để quả nhân bảo nó ngồi bên trong bức rèm đảnh lễ, còn Quốc vương thì hãy đứng bên ngoài mà dạy nó học.
- Tâu đại vương! Gù lưng hay què cẳng chi cũng được, miễn là làm lễ bái sư, thì cô gia sẽ truyền bí thuật.
Hoàng đế Caṇḍapajjota liền trở về cung điện bảo công chúa Vāsuladatta: “Nầy Công chúa, có một thanh niên cùi phong lở lói mà biết câu mật chú quí giá vô cùng, phụ vương không muốn hắn tiết lộ cho kẻ nào biết được. Vậy con hãy ngồi sau bức rèm làm lễ bái sư, rồi học câu chú ấy. Còn hắn ta, phụ vương sẽ khiến đứng phía ngoài bức rèm mà dạy con học, thôi để phụ vương dắt hắn đến đây”.
Hoàng đế Caṇḍapajjota đã bịa ra cô gái gù lưng và gã thanh niên cùi như thế, để cho hai bên nam nữ ghê sợ lẫn nhau mà không dám suồng sã lả lơi.
Bị bức rèm ngăn cách, hai đàng không trông thấy rõ nhau. Chờ Công chúa đảnh lễ và ngồi xuống xong vua Udena đứng bên ngoài nói vọng vào để truyền dạy mật chú.
Suốt cả ngày hôm ấy, ông thầy nhắc đi nhắc lại có một câu chú, mà cô học trò nói theo cũng không đúng giọng. Vua Udena bực mừng gắt gỏng: “Cô gái lưng gù nầy đây, môi và má cô dầy quá đi thôi. Tôi phải tát tay cô mới được. Cô phải đọc trúng giọng như vầy nè”.
Công chúa nổi giận cũng mắng trả lại: “Cái thằng cha cùi phong lở lói nầy đừng có ăn nói hàm hồ, người như ta mà ngươi dám kêu là cô gái gù lưng phải không?”.
Công chúa vén rèm lên nhìn vua Udena. Vua Udena hỏi:
- Tiểu thư là ai?
- Ta là Công chúa Vāsuladatta.
- Đại vương đã nói với ta rằng: “Công chúa là cô gái lưng gù”.
- Phụ vương cũng nói với ta rằng: “Quốc vương là gã thanh niên cùi phong lở lói”.
Hai người đồng chung một ý nghĩ: “Chắc phụ hoàng sợ chúng ta gần gũi thân mật nhau nên nói vậy”.
Rồi họ đưa nhau vào bên trong bức rèm tư tình với nhau. Từ đó về sau, không còn có chuyện dạy chú thuật, học thuật chi nữa cả. Hoàng đế Caṇḍapajjota không hay biết chuyện nầy và thường hỏi thăm Công chúa: “Con có học pháp thuật không con ?”.
- Tâu phụ vương, con vẫn đang học.
Nấn ná ở nước người được ít lâu. Một hôm vua Udena than thở cùng Công chúa Vāsuladatta: “Công chúa ơi! Tình nghĩa vợ chồng đậm đà, thắm thiết dù cho cha mẹ, anh em ruột cũng chẳng sánh bằng. Nếu Công chúa thật dạ yêu ta, thì ráng giúp ta được đào sanh cùng nhau trở về cố quốc, ta sẽ phong cho Công chúa làm Hoàng hậu và cấp cho năm trăm cung phi mỹ nữ theo hầu”.
- Nếu như quân vương đoan thệ giữ lời kim thạch thì thần thiếp nguyện sẽ tận tình mà khai lộ đào sanh.
- Ái hậu ơi! Trẫm sẽ giữ đúng như lời đã hứa.
- Thôi được rồi, xin Quân vương hãy vững dạ.
Hôm ấy, Công chúa vào vương cung bái kiến phụ hoàng, rồi đứng qua một bên. Hoàng đế Caṇḍapajjota liền phán hỏi:
- Công chúa, con học hết phép điều tượng rồi phải không?
- Tâu phụ vương, con học chưa hết.
Vua lại phán:
- Thế thì con có điều chi muốn tỏ trần?
- Tâu phụ vương! Chúng con cần có một cửa thành
riêng biệt và một con vật thần hành (Vāhana).
- Để làm chi vậy con?
- Tâu phụ vương, người thí nghiệm thần chú cần phải ra phía ngoài thành trong lúc ban đêm để kiếm một vị thuốc, cho nên chúng con cần phải có một cửa thành đặc biệt và một con vật thần hành để tiện dụng trong lúc xuất thành chánh thời hoặc phi thời cũng được.
Đức vua chuẩn tấu. Đôi tình nhân vui mừng hớn hở, đích thân ra khai một cửa thành đặc biệt.
Hoàng đế Caṇḍapajjota có đến năm vật thần hành. Một con voi cái tên là Bhaddavatī (Hiền Ly) mỗi ngày đi được năm mươi do tuần. Một quan nội thị tên Kāla (Ô Nha) mỗi ngày đi sáu mươi do tuần, hai con thiên lý mã là Velakaṃsi và Muñjakesi mỗi ngày chạy được một trăm do tuần và con voi chúa Nāḷāgiri mỗi ngày đi được một trăm hai mươi do tuần.
Tương truyền rằng: Trong tiền kiếp, trước thời kỳ Đức Phật Tổ Gotama giáng sanh, Hoàng Đế Caṇḍapajjota là bộ hạ của quan Tổng trấn (Issara).
Một ngày nọ, nhằm lúc quan tổng trấn ra ngoài ngoại ô để tắm, đang đi trở về thì gặp vị Phật Bích Chi (Pacceka buddha) vào thành khất thực, bị Ma vương cản trở khiến toàn thể dân chúng không ai để bát, nên Ngài chẳng thọ dụng chút ít vật thực nào hết, bèn ôm bát không trở ra.
Đã vậy, Ma vương còn hóa hiện ra một người lạ mặt đúng đón Ngài tại cổng thành để hỏi: “Bạch Ngài! Ngài đi bát có được chút ít gì không?”. Đức Phật Độc Giác hỏi lại Ma vương:
- Vì cớ nào mà ngươi phá rối, làm cho ta đi bát không được chi hết vậy?
- Thế thì Ngài hãy trở lại thành, phen nầy tôi không phá Ngài nữa đâu.
Kỳ thật nếu Đức Phật Độc Giác trở vào thành thì Ma vương sẽ nhập vào mình toàn thể dâng chúng khiến cho họ vỗ tay cười rộ lên chế nhạo Ngài. Nhưng Đức Phật từ khước không vào lại thành, thấy gạt Đức Phật không được, Ma vương biến mất.
Khi ấy, quan Tổng trấn trông thấy Đức Phật Độc Giác ôm bát không đi ra, bèn kính cẩn đảnh lễ Ngài, rồi hỏi rằng:
- Bạch Ngài, chẳng hay Ngài đi bát có được chút chi chăng?
- Nầy đạo hữu! Đi vào rồi, bây giờ ta đi ra.
Quan Tổng trấn ngẫm nghĩ: “Đại đức không trả lời câu hỏi của ta, mà lại nói lảng qua chuyện khác, chắc là Ngài không được chi hết”.
Khi đến xin Đức Phật Bích Chi cho xem bát, quan Tổng trấn nhìn thấy bát trống không, ý muốn xin thỉnh bát mà chưa dám vì không biết chắc ở nhà mình cơm nước đã chín sẵn chưa?
- Bạch Ngài! Xin thỉnh Ngài đi thong thả lại một chút.
Nói rồi quan Tổng trấn bươn bả trở về nhà, hỏi rằng: “Ở nhà cơm nước có chín sẵn chưa hả?”.
- Thưa sẵn cả rồi.
Nghe vậy, quan Tổng trấn gọi tên bộ hạ thân tín, bảo rằng:
- Nầy con! Nội nhà không có ai chạy lẹ bằng con vậy con ráng hết tốc lực chạy theo cho kịp Ngài Đại đức, bạch Ngài cho con thỉnh cái bát, rồi ôm bát chạy bay trở về đây.
Quan Tổng trấn vừa dứt tiếng nói thì tên bộ hạ đã phát sải như giông, chạy lấy bát đem về tức khắc. Quan Tổng trấn đem phần cơm ăn của mình đặt vào đầy bát rồi trao cho tên bộ hạ: “Nầy con, con chạy ra cho mau dâng bát thực phẩm nầy lên Ngài Đại đức! Phần phước của sự cúng dường nầy, ông cho con hết đó”.
Tên bộ hạ nhận lãnh bát vật thực, lại vội vã chạy thật nhanh, đến dâng bát lên Đức Phật Độc Giác, rồi gieo năm vóc xuống đất, đảnh lễ Ngài xong, phát nguyện rằng: “Bạch Ngài, do phước báu đã chạy đi cấp tốc, chạy về cũng cấp tốc của tôi hôm nay, xin cho tôi làm chủ được năm vật thần hành thiên lý, đi được năm mươi, sáu mươi, một trăm và một trăm hai mươi do tuần mỗi ngày trong đời cận lai. Do sự nồng nhiệt của thân tôi khi chạy đi chạy lại dưới ánh mặt trời gay gắt, xin cho tôi tái sanh lên cõi nào cũng được oai lực sáng chói như ánh mặt trời. Do nơi phước báu để bát của chủ tôi cho tôi, xin cho tôi chứng được phép mầu cũng như Ngài vậy”.
Đức Phật Bích Chi đáp: “Mong cho được như ý” và Ngài đọc bài kệ phúc chúc như sau:
“Icchitaṃ patthitaṃ tuyhaṃ,
Khippameva samijjhatu;
Sabbe pūrentu saṅkappā,
Cando paṇṇaraso yathā”
“Icchitaṃ patthitaṃ tuyhaṃ,
Khippameva samijjhatu;
Sabbe pūrentu saṅkappā,
Maṇi joti raso yathā”
“Cầu cho bao nhiêu phước đã ước nguyền,
Của thí chủ mau kết quả nhãn tiền.
Bao nhiêu tư duy đạt thành viên mãn,
Như tối rằm, trăng chiếu sáng khắp miền.
Cầu cho bao nhiêu phước đã ước nguyền,
Của thí chủ mau kết quả nhãn tiền.
Bao nhiêu tư duy đạt thành viên mãn,
Như ngọc Ma ni, như ý chơn truyền”
Theo huyền thoại, hai bài kệ phúc chúc nầy đã có từ thời Đức Phật Bích Chi và được truyền tụng mãi đến ngày nay.
Trong bài kệ sau, thành ngữ Maṇijotiraso chỉ thứ ngọc Ma ni bảo châu, giúp cho sở hữu chủ có thể thành tựu tất cả mọi điều mong ước.
Tên bộ hạ của quan tổng trấn trong thời dĩ vãng, nay là Hoàng đế Caṇḍapajjota, do phước báu của tiền nghiệp đã kể, mà năm món vật thần hành phát sanh đến Hoàng đế vậy.
Một hôm, Hoàng đế xuất thành du ngoạn trong vườn thượng uyển. Vua Udena nghĩ: “Hôm nay, ta phải nhân lúc đại vương đi vắng mà tẩu thoát cho mau”. Vua tom góp vàng, bạc dồn đầy mỗi thứ trong một cái bao da thật lớn, chất lên lưng con voi cái Bhaddavatī, rồi cùng với Công chúa Vāsuladatta cỡi voi bôn đào.
Huỳnh môn quan trông thấy hai người chạy trốn, bèn tức tốc báo với Hoàng đế Caṇḍapajjota. Hoàng đế hạ lịnh cho tướng sĩ dẫn binh rượt theo truy nã, thấy đại quân đuổi gần theo phía sau. Vua Udena mở miệng bao đựng tiền vàng ra, ném rải xuống đất, quân sĩ đang chạy nhanh, bỗng dừng lại tranh nhau lượm cho hết tiền vàng, rồi mới lên ngựa rượt đuổi theo nữa. Vua Udena lại mở miệng cái bao đựng bạc, ném rải tứ tung theo đường, tướng sĩ mãi ham lo lượm bạc nên đình bộ lần thứ hai.
Nhờ vậy vua Udena với Công chúa Vāsuladatta chạy vượt qua khỏi biên giới về tới địa phận xứ Kosambi.
Đội quân đồn trú nơi biên ải, thấy vua Udena đã về, liền nhổ trại hộ tống Quốc vương trở lại kinh đô. Về đến nơi vua Udena giữ lời hứa tấn phong Công chúa Vāsuladatta làm thứ cung Hoàng hậu.
DỨT TÍCH HOÀNG HẬU VĀSULADATTA
Ngoài hai bà chánh cung và thứ cung, Hoàng đế Udena còn có một người ái phi tên là Māgandiyā (Tam Địa), sau khi nàng tiến cung, được vua Udena phong làm Hoàng hậu thứ ba.
Nghe nói, nàng nầy người gốc Kuru, con giòng Bà la môn, cả cha và mẹ nàng cùng trùng một tên với bà là Māgandiyā. Bà có một người chú (Cūḷapitu) cũng tên là Māgandiyā.
Tiểu thư Māgandiyā có nhan sắc hoa nhường nguyệt thẹn, đẹp như là tiên nữ giáng trần, mặc dầu đã có nhiều bậc vương tôn công tử, con nhà quyền quí đến cầu hôn. Tiểu thư vẫn còn treo giá ngọc vì phụ thân nàng chưa kén được rể đồng sàng. Ông nói ngay: “Các cậu không xứng với con gái ta”. Khiến cho bọn người rắp ranh bắn sẻ tiu nguỷu rút lui về sau không còn ai dám nuôi hy vọng được làm chồng của tiểu thư nữa.
Một bữa nọ, theo lệ thường vào lúc tinh sương, Đức Bổn Sư dùng tuệ nhãn quan sát thế gian, thấy ông Bà la môn Māgandiyā với vợ ông, đều có căn lành có thể đắc quả A Na Hàm trong ngày hôm ấy. Vì thế, Ngài tự mang y bát một mình ngự đến ngôi đền thờ thần lửa của ông Bà la môn ở ngoại ô thị trấn.
Ngắm nhìn tướng hảo quang minh siêu phàm tuyệt sắc của Đức Như Lai. Ông Bà la môn nghĩ thầm: “Trên đời nầy nhất định không có cậu trai nào khác có thể sánh cặp với cậu trai nầy. Cậu nầy thật xứng đôi vừa lứa với con gái ta, ta sẽ dắt con gái ta ra tại đây mà gả không cho cậu”.
Nghĩ vậy, ông Bà la môn kêu Đức Bổn Sư và nói:
- Nầy ông Sa môn! Lão có một đứa con gái mà lâu
nay lão vẫn kén rể đồng sàng, nhưng chưa gặp cậu trai nào có thể sánh duyên cùng con gái lão, nay lão gặp ông nếu đem so ông với nó thì hai đàng thật là xứng đôi vừa lứa, sắc cầm hảo hiệp. Vậy ông hãy đứng đây chờ, lão về dắt con gái ra mà gả cho ông.
Đức Bổn Sư im lặng, không đáp lời chi cả, ông Bà la môn lật đật chạy về nhà gọi bà vợ: “Bà ơi! Bà à! Ta đã gặp được chàng rể xứng đáng với nhà ta, bà lo trang điểm con gái lẹ lẹ lên đi”. Khi tiểu thư đã trang điểm tươm tất rồi, ông Bà la môn với vợ dắt con gái chạy ra kiếm Đức Bổn Sư. Khắp cả châu thành đều xôn xao náo động, dân chúng bàn tán rằng: “Ông lão nầy lúc trước rêu rao là không có ai xứng đáng với con gái của lão và không chịu gả con cho ai hết cả. Bây giờ phát thinh nói: “Hôm nay lão đã gặp được người xứng với con gái lão. Để ta tới xem mắt chàng rể quí của ông lão xem ra sao?”.
Thế là, người nọ rủ người kia, họ ùn ùn chạy theo ông Bà la môn. Khi ông Bà la môn dắt con gái đến chỗ hẹn với Đức Bổn Sư, thì Ngài không còn đứng ở chỗ đó nữa, nhưng Ngài có lưu lại một dấu chân, trước khi sang qua đứng ở chỗ khác.
Pháp Phật thật là kỳ diệu vô cùng, sau khi đã nguyện, chư Phật dậm chân lên tại chỗ nào thì ngay tại chỗ ấy có dấu bàn chân của Ngài in hình rõ rệt, còn ở những chỗ khác ngoài chỗ nguyện thì không thấy dấu vết chi cả.
Vả lại, những dấu chân của chư Phật không ai có thể xóa nhòa, dầu cho người ấy có phép hô phong hoán vũ, đảo hải di sơn, khiến cho gió táp mưa sa, tượng dày thú đạp đi nữa để làm mất dấu Phật tích nầy cũng không thể được.
Khi ấy, bà Bà la môn hỏi chồng: “Chàng rể đâu?”.
- Cậu ấy mới vừa đứng đây, sao bây giờ đi đâu rồi?
Vừa nói, ông Bà la môn đưa mắt nhìn quanh, thấy dấu chân Đức Phật, ông bảo bà: “Đây dấu chân cậu ấy ràng ràng đây”.
Bà Bà la môn vốn là người thông suốt ba bộ kinh Phệ Đà (Veda), rành về khoa tướng số, nên lẩm nhẩm duyệt lại những bài kệ “thân tướng”, xem kỹ dấu chân Đức Phật, rồi quyết đoán rằng: “Nầy ông Bà la môn, dấu chân nầy không phải là của người phàm tục đâu!”.
Rồi bà đọc kệ rằng:
“Rattassa hi ukkuṭikaṃ padaṃ bhave,
Duṭṭhassa hoti sahasānupīḷitaṃ;
Mūḷhassa hoti avakaḍḍhitaṃ padanti,
Vivaṭṭachadassa idamīdisaṃ padanti”
“Đầu chân túm người đầy tham dục,
Dấu lõm sâu phàm tục xấu xa,
Dấu kéo lê, tánh la cà,
Dấu nầy hiển lộ, quả là chánh tâm”
Ông Bà la môn vội ngăn vợ: “Thôi thôi hãy dẹp mấy câu chú ngữ của bà đi, đừng có giở giọng thầy bói nói đui, hít tới hít lui, hít ra kẻ trộm nằm trên máng xối…”.
- Nầy ông Bà la môn! Ông muốn nói chi thì nói, chớ dấu chân nầy, theo tôi nhận biết, thì không phải của người đắm nhiễm ngũ trần.
Ông Bà la môn ngó quanh quất, trông thấy Đức Bổn Sư thì kêu lên:
- Cậu ấy đây rồi.
Ông ta đi ngay đến chỗ Đức Phật và gọi: “Nầy ông Sa môn lão đem con gái lão ra mà gả không cho ông đây”.
Đức Bổn Sư không đáp ngay: “Ta cần hoặc ta không cần dùng con gái của ông”. Ngài ôn tồn bảo rằng: “Nầy ông Bà la môn, để Như Lai kể lại cho ông nghe một câu chuyện”.
- Ông Sa môn kể đi.
Thế rồi, Đức Bổn Sư nhắc lại lộ trình hành đạo của Ngài, từ khi mới phát đại nguyện xuất gia cho tới khi cảm thắng Ma vương dưới cội Bồ Đề và kết luận: “Dưới gốc cây Bồ Đề, Như Lai đã vượt qua ngũ dục ấy rồi”.
Thấy chuyện trên đây chưa dứt được nỗi ưu phiền tuyệt vọng của ông Bà la môn, Đức Bổn Sư giảng thêm chuyện ba cô Ma nữ, con gái của Ma vương đã từng dùng kế mỹ nhân để cám dỗ Ngài một cách vô ích: “Khi ấy Như Lai cũng chẳng còn thèm nữa là”. Nói rồi, Đức Bổn Sư ngâm kệ rằng:
“Disvāna taṇhaṃ aratiñca rāgaṃ,
Nā hosi chando api methunasmiṃ;
Kimevidaṃ muttakarīsapuṇṇaṃ,
Pādāpimaṃ samphusitaṃ na iccheti”
“Khát vọng, tật đố, dục tình,
Đã từng bạo dạng trêu hình mà chơi.
Chán chường bướm lả ong lơi,
Xá chi phẩn uế đầy người thế a.
Chớ mong đây đó hiệp hòa,
Dầu đưa chân đụng cũng là chẳng ưng”
Bài kệ vừa dứt, cả hai ông bà Bà la môn, đều chứng đắc A Na Hàm quả, còn tiểu thư Māgandiyā bị chạm tự ái, nên sanh lòng thù hận mà buộc oan trái với Đức Bổn Sư: “Nếu Sa môn nầy không cần ta thì ông ta nên nói ngay là ông không cần ta mới phải. Sao ông lại miệt thị ta là phẩn uế đầy người với mức sang giàu trẻ đẹp như ta, nguyện sao ta đạt đến địa vị mẫu nghi thiên hạ, cao quí tột phẩm triều đình, để chừng ấy ta sẽ liệu phương chước mà hạ nhục Sa môn Gotama nầy mới được”.
(Đức Bổn Sư biết hay không biết việc tiểu thư Māgandiyā kết buộc oan trái với Ngài vì bài kệ trên đây? Cố nhiên là Ngài biết chớ lẽ nào không, Ngài biết mà tại sao Ngài ngâm kệ ấy?
Vì Ngài muốn tiếp độ cho hai người kia, bao giờ cũng vậy chư Phật chỉ thuyết pháp tiếp độ cho chúng sanh chứng đắc đạo quả mà thôi, chớ không phải để gây oan trái.).
Ông Bà la môn Māgandiyā dắt tiểu thư đến gởi nhà chú út của tiểu thư là Cūḷa Māgandiya, bảo bọc chu toàn. Rồi cả hai người đến xin xuất gia với Đức Bổn Sư và về sau đều đắc quả A La Hán.
Ông Cūḷa Māgandiyā sau khi nhận lãnh trách nhiệm thành toàn giai ngẫu cho tiểu thư Māgandiyā thì suy tính rằng:
- Cháu gái ta, nếu đem gả cho kẻ thấp hèn dân dã thì không xứng đáng. Chỉ có bậc vua chúa mới xứng với nó mà thôi.
Nghĩ rồi, ông bèn đưa cháu gái lên thành Kosambi, mua sắm đủ thứ thời trang lộng lẫy để tô điểm cho tiểu thư thêm mỹ lệ, dắt tiểu thư hiến nạp vua Udena và tâu rằng: “Muôn tâu Thánh thượng, bảo nữ (Itthīratana) nầy xứng với chúa thượng, hạ thần mong ân chúa thượng doãn nạp”.
Vua Udena thấy tiểu thư Māgandiyā quả là một trang quốc sắc thiên hương, bèn đem lòng sủng ái vua cấp cho năm trăm cung nữ theo hầu tiểu thư, phong cho tiểu thư làm Hoàng hậu thứ ba, được dự vào hàng mẫu nghi thiên hạ.
DỨT TÍCH TIỂU THƯ MĀGANDIYĀ
Thế là Quốc vương Udena có đến ba Hoàng hậu với tổng số một ngàn năm trăm cung nữ hầu hạ dưới trướng.
Đồng thời trong thành Kosambi cũng có ba nhà Thiên hộ là Thiên hộ Ghosaka, Thiên hộ Kukkuṭa (Hùng Kê) và Thiên hộ Pāvārika (Hắc Y).
Hằng năm cứ đến mùa mưa, thì có năm trăm vị đạo sĩ từ miền Tuyết Sơn về thành để kiết hạ an cư. Một hôm ba nhà Thiên hộ thấy các đạo sĩ đang đi khất thực thì phát tâm thành tín, mời các đạo sĩ vào ngồi trong nhà, cúng dường vật thực xong, thỉnh cầu các vị ấy nhập hạ bốn tháng ở gần nhà mình; mãn hạn kỳ, ba nhà đại phú lại tiếp thỉnh các Ngài trở lại nhập hạ mùa sau, rồi mới tiễn đưa các vị ấy lên đường về núi.
Sau tám tháng hành đạo trong miền Tuyết Sơn, các đạo sĩ lại về thành an cư gần trú xứ của ba nhà Thiên hộ.
Từ đó trở đi, họ cứ luân lưu như thế mãi cho đến một kỳ hạ nọ, các đạo sĩ cũng quen lệ, rời miền tuyết giá, đi xuyên qua một khu rừng, thấy một cây da to, họ đến ngồi xung quanh gốc cây ấy để nghỉ mệt. Vị đạo sĩ trưởng đoàn nghĩ thầm: “Vị thọ thần ngự trên cây nầy không phải là hạng tầm thường thấp kém đâu? Chắc hẳn là một vị Thiên vương có nhiều oai lực, ước gì Ngài ban cho cả đoàn đạo sĩ nước uống giải khát”.
Quả nhiên, thọ thần ban cho họ nước giải khát vị trưởng đoàn ước muốn có nước để tắm, thọ thần ban cho họ nước tắm. Đạo sĩ ước muốn có cơm ăn, thọ thần cũng cho họ cơm ăn. Kế đó đạo sĩ trưởng nói thầm: “Ta mong ước vật kia vật nọ. Thiên vương nầy đều ban cho tất cả, ước gì ta được giáp mặt Thiên vương”.
Thọ thần làm cho cây nứt đôi và hiện hình trong chỗ nứt ấy. Các đạo sĩ xúm nhau hỏi: “Tâu Thiên vương! Quyền lực của Ngài thật to tát, chẳng hay Ngài đã tạo nghiệp gì mà được hưởng phước nầy?”.
- Bạch xin các Ngài đừng tra hỏi tôi.
- Tâu Thiên vương! Xin Ngài hoan hỷ trả lời.
Hổ thẹn vì tiền nghiệp của mình quá nhỏ nhen, thọ thần không muốn phô trương ra, nhưng bị các đạo sĩ nài ép, yêu cầu mãi, thọ thần phải chiều theo: “Thôi vậy, xin các Ngài lắng nghe”.
Thế rồi, Thiên vương bắt đầu kể chuyện: Theo lời tự thuật, thọ thần kiếp trước là một người đàn ông nghèo khó, đi xin việc làm để kiếm ăn, may được ông Anāthapiṇḍika thu nhận, cho ở làm công, nhờ đó mà yêu thân, tạm sống qua ngày.
Một hôm nhằm ngày Bát quan trai, ông Anāthapiṇḍika đi chùa về, hỏi gia nhân: “Có ai nói chú mới đến ở mướn biết: Hôm nay cả nhà ta giữ bát quan không?”
- Dạ thưa ông chủ! Không có ai nói cả.
- Vậy thì hãy lo nấu nướng cơm chiều cho chú ấy nghe.
Vâng lịnh chủ, người nhà lo nấu cơm chiều, để dành phần cho chủ mới đến ở. Chú ấy làm lụng cả ngày trong rừng, đến chiều mới trở về nhà, kêu lên: “Nấu cơm rồi thì dọn cho tôi ăn, tôi đói bụng quá”.
Gia nhân dọn cơm ra, nhưng chú ấy bỗng nhiên ngừng lại, chưa vội ăn: “Mọi bữa thì giờ nầy trong nhà rần rần, đầu nầy kêu cơm, đầu kia gọi canh, đầu nọ xin thêm đồ ăn, om sòm tở lở, bữa nay ai nấy đều nằm ngủ im lìm. Họ dọn cơm chỉ một mình ta ăn, có việc chi vậy cà?”.
Chú làm mướn quay lại hỏi gia nhân: “Bộ mấy người kia ăn cơm hết rồi phải không?”.
- Họ không ăn.
- Tại vì lý do gì vậy?
- Nhà nầy không có ai dùng cơm chiều trong những ngày Bát quan cả vì tất cả đều là những người thọ trì Bát giới. Cho đến trẻ con còn bú, phú Trưởng giả cũng bắt cho súc miệng rồi cho ngậm kẹo bộ dầu (catumadhura) để làm người thọ trì Bát giới nữa. Tối đến, khi lũ trẻ nhỏ lớn gì đều đi ngủ rồi, người ta đốt đèn và hương trầm lên ngồi tham thiền đề mục ba mươi hai thể trược. Vì quên không nói cho chú biết bữa nay trong nhà giữ Bát quan trai, nên tôi phải ráng nấu cơm chiều cho chú ăn. Thôi chú cứ dùng cho no bữa đi.
Chú làm rừng nói: “Nếu bữa nay trong nhà giữ Bát quan trai thì tôi cũng xin giữ nữa”.
Gia nhân đáp: “Nếu muốn vậy phải bẩm cho ông chủ biết!”.
- Ồ! Anh hỏi dùm ông chủ coi.
Gia nhân đi hỏi ý kiến phú Trưởng giả, ông đáp: “Nếu bây giờ chú ấy chưa ăn, chú ấy súc miệng cho sạch rồi nguyện thọ trì Bát quan phần (uposathaṅgāni) thì chú sẽ hưởng được phước báu của nửa ngày Bát quan”.
Chú mới ở nghe vậy, bèn làm theo cách ấy vì ráng nhịn đói sau một ngày làm lụng cực nhọc, chú ấy bị cảm gió đau bụng. Chú phải lấy một dây lưng thắt chặt ngang bụng, một tay đè giữ mối thắt, nằm úp sấp mà chịu.
Hay tin nầy, phú Trưởng giả sai gia nhân cầm đuốc và đem theo kẹo mật, bơ dầu đi với ông đến thăm người bịnh, ông hỏi: “Con đau làm sao?”.
- Con bị trúng gió, đau bụng.
- Không sao, con ráng ngồi dậy, lấy kẹo, mật, bơ dầu nầy ngậm đi.
- Dạ, mà ông chủ cũng ngậm kẹo nầy chứ.
- Không vì ông không có bịnh, con có bịnh thì ngậm lấy kẹo mà ăn.
Chú ở không chịu ăn, đáp rằng:
- Dạ, thưa ông chủ, con đã trót lỡ không được thọ trì Bát quan trọn cả một ngày, thì bây giờ con nguyện giữ đừng cho đứt giới Bát quan phần trong nửa ngày còn lại.
- Con đừng làm vậy, không nên.
Dầu cho ông chủ nói gì thì nói, chú ở vẫn một mực từ chối và rồi chú ấy tắt thở vào lúc mặt trời mọc, bỏ xác nằm trơ như một đóa hoa tàn. Tâm thức của chú thọ sanh làm vị Thiên vương, ngự trên cây đa nầy đây.
Sau khi kể hết tiền nghiệp của mình, thọ thần kết luận:
- Phú Trưởng giả Anāthapiṇḍika là người tín ngưỡng Đức Phật (Buddhamāmako), là người tín ngưỡng Đức Pháp, là người tín ngưỡng Đức Tăng. Nhờ làm theo lời ông chủ biểu, thọ trì nửa ngày Bát quan trai, ta mới tạo được phước báu là nhân duyên sanh quyền lực của ta vậy.
Nghe đến tiếng Đức Phật (Buddho), năm trăm vị đạo sĩ đồng thời đứng lên, chắp tay yêu cầu Thiên vương hãy niệm Đức Phật ba lần cho chúng tôi niệm theo với. Tiếng niệm Đức Phật vang lên nghe như rung chuyển cả một góc trời.
Các đạo sĩ bồi hồi cảm kích, buột miệng tự nhủ: “Tiếng niệm vang rền như vậy, cũng khó mà được nghe trong thế gian”. Đoạn họ thốt lời cảm tạ thọ thần: “Thiên vương ơi! Cái tiếng mà chưa từng nghe từ vô lượng kiếp, trăm ngàn đại kiếp, nhờ Thiên vương mà chúng tôi mới được nghe đây!”.
Khi ấy, các đạo sĩ đệ tử bạch cùng đạo sĩ trưởng:
- Vậy chúng ta đi tìm Đức Phật ngay bây giờ đi.
- Nầy các trò, từ lâu nay chúng ta đã nhờ ân ba nhà Thiên hộ giúp đỡ rất nhiều vậy mai nầy sau khi thọ thực tại nhà ba vị ấy, ta phải báo tin cho họ biết và từ giã họ. Các trò hãy khoan, đừng vội đi gấp.
Các đệ tử vâng lệnh thầy, đều ở nán lại.
Ngày hôm sau, khi nhớ chừng hôm nay là ngày quí vị đạo sĩ của mình trở về, ba nhà Thiên hộ khiến gia nhân nấu cơm cháo, sắp (soạn) chỗ ngồi trước sẵn sàng, rồi ra đi nghinh tiếp các đạo sĩ, thỉnh vào ngồi trong nhà và cúng dường vật thực.
Sau bữa cơm, các đạo sĩ đứng dậy nói: “Chúng tôi xin cáo từ gia chủ để đi nơi khác”.
- Bạch các Ngài! Các Ngài đã nhận lời thỉnh cầu của chúng tôi, hứa ở đây nhập hạ bốn tháng mà sao các Ngài còn định đi nữa?
- Nghe rằng: Đức Phật, Đức Pháp, Đức Tăng đã giáng thế, cho nên chúng tôi đi tìm gặp Đức Bổn Sư.
- Ngoài các Ngài ra, những người khác có thể tháp tùng với quí Ngài, đi đến gặp Đức Đạo Sư được chăng?
- Những người khác đi cũng được, không có chi trở ngại đâu đạo hữu.
- Bạch Ngài, nếu vậy xin các Ngài khoan đi, chờ sắp đặt hành trang, chúng tôi cùng đi nữa.
- Nếu chờ quí gia chủ sắp đặt hành trang thì sợ e trì hoãn lâu lắc mất nhiều thì giờ, thôi để bần đạo chúng tôi khởi hành đi trước, rồi quí gia chủ sẽ nối gót theo sau.
Nói rồi, đoạn đạo sĩ vội vã đăng trình đến gặp Đức Chánh Biến Tri, họ vội vàng quì xuống đảnh lễ Ngài rồi nép qua một bên. Khi ấy, Đức Bổn Sư thuyết thời pháp gọi là Tuần Tự Pháp Thoại (Anupubbīkathaṃ), nghe hết thời pháp, tất cả năm trăm đạo sĩ đều đắc A La Hán quả với Tuệ phân tích, nên ngỏ lời xin xuất gia.
Đức Bổn Sư lại phán: “Lại đây, hỡi các Tỳ khưu”. Ngài vừa dứt lời, thì tự nhiên do thần thông của Ngài, các vị sư mới liền được đắp y mang bát giống như các vị Đại đức hàng trăm tuổi hạ.
Sau các đạo sĩ, ba nhà triệu phú cùng nhau ra đi, mỗi người cùng mang theo năm trăm cỗ xe bò, chở đủ thứ thập vật đồ cúng dường như là vải, y phục, đường, mật, bơ, dầu… đến Đại Tự Jetavana, đi bộ vào chùa, đảnh lễ Đức Bổn Sư rồi ngồi nghe pháp. Nghe hết thời pháp, họ đắc chứng Tu Đà Hườn quả. Họ ở nán lại Jetavana độ nửa tháng để làm phước Trai Tăng ngày ngày được gần gũi Đức Bổn Sư.
Khi muốn trở về Kosambi, ba nhà Thiên hộ đến đảnh lễ cáo từ Đức Bổn Sư và xin Ngài ngự sang xứ mình để hoằng dương chánh pháp, Đức Bổn Sư chuẩn nhận bằng lời dạy rằng:
- Nầy các gia chủ, chư Như Lai chỉ an cư tịnh lạc trong chỗ rừng xa, nhà vắng mà thôi.
Nghe vậy, ba nhà triệu phú đáp: “Bạch Ngài, chúng con hiểu rồi. Để chúng con lo liệu về sắp đặt chỗ nơi, xong rồi sẽ phái người sang thỉnh Ngài”.
Về đến Kosambi, ba nhà cự phú bèn xúc tiến công việc kiến thiết cảnh già lam (ārāma), Thiên hộ Ghosaka cất Ghositārāma (Lôi Âm Tự), Thiên hộ Kukkuṭa thì cất Kukkuṭārāma (Hùng Kê Tự), Thiên hộ Pāvarika thì cất Pāvarikārāma (Hắc Y Tự). Xong rồi, họ phái người đi thỉnh Đức Bổn Sư. Khi nghe tin sai của ba nhà Thiên hộ đến cung thỉnh. Đức Bổn Sư liền ngự sang thành Kosambi.
Ba nhà cự phú ra khỏi thành nghinh tiếp Đức Bổn Sư, lần lượt thỉnh Ngài vào ngồi nơi chùa mới của mình và tuyên bố trong cuộc lễ: “Ngôi đạo tràng nầy, chúng tôi xin dâng đến tứ phương Tỳ khưu Tăng, có Đức Phật làm hội chủ”.
Sau cuộc lễ dâng chùa, ba nhà cự phú thay nhau hộ độ chư Tăng. Đức Bổn Sư mỗi ngày ngự trong mỗi một ngôi chùa, hễ ở chùa của vị nào thì Ngài trì bình đến trước cửa nhà vị ấy mà thọ bát.
Thuở ấy có ông Sumana (Hảo Ý) là nhà chuyên môn làm tràng hoa để cung cấp cho ba nhà Thiên hộ. Một hôm, ông Sumana nói với ba vị thân chủ của mình rằng: “Tôi là người phục vụ cho ông chủ đã lâu rồi, bây giờ tôi muốn để bát cúng dường Đức Bổn Sư, tôi phải nghỉ việc một ngày đặng lo sắp đặt sự cúng dường”.
- Nếu vậy, ngày mai chú để bát đi.
- Dạ vâng, thưa ông chủ.
Hôm sau, ông Sumana cung thỉnh Đức Bổn Sư đến nhà và cúng dường thực phẩm.
Vào thời ấy vua Udena ban cho Hoàng hậu Sāmāvatī mỗi ngày tám đồng vàng để mua hoa, số tiền đó thường được giao cho một thế nữ tên là Khujjuttarā đi lấy hoa ở nhà ông Sumana.
Ngày ấy, khi cô thể nữ lưng gù đến, ông Sumana nói: “À! Hôm nay tôi mới vừa thỉnh được Đức Bổn Sư, tôi phải để dành những thứ hoa đẹp quí thượng hạng mà cúng dường Ngài, cô ở đây phụ tiếp với tôi, một lát nữa nghe pháp xong rồi thì cô lấy số hoa còn lại mà đem đi”. Cô thể nữ đáp: “Dạ được”, rồi cô ở lại chờ.
Sau khi để bát cúng dường chư Tỳ khưu Tăng có Đức Phật làm hội chủ xong, ông Sumana phát nguyện hồi hướng phước báu đến chư Thiên và các bậc hữu ân đã quá vãng. Nhân đó, Đức Bổn Sư thuyết giảng về công đức hồi hướng phước báu. Ngồi chăm chú theo dõi thời pháp của Đức Bổn Sư, cô Khujjuttarā chứng đắc quả vị Tu Đà Hườn. Cô gái lưng gù nầy trong những ngày khác thì cô chỉ mua có bốn đồng hoa mà thôi, còn bốn đồng thì cô ăn lời, nhưng trong ngày ấy cô mua đủ tám đồng hoa đem về. Thấy nhiều hoa, Hoàng hậu hỏi cô thể nữ:
- Nầy con! Có lẽ hôm nay đức vua tăng lên gấp đôi số tiền mua hoa cho ta phải chăng?
- Tâu Chánh Hậu, không phải.
- Không thì tại sao hôm nay nhiều hoa thế?
- Những ngày khác thì con ăn lời, cất bớt bốn đồng vàng, chỉ mua đem về có bốn đồng mà thôi.
- Bữa nay, sao con không ăn lời?
- Nhờ nghe thời pháp của Đức Bổn Sư con đã chứng ngộ được chánh pháp.
Khi ấy, thay vì hăm he trách mắng cô thể nữ “Mi là con thị tỳ xấu xa, bấy lâu nay mi đã ăn cắp giữ bao nhiêu đồng vàng, thì mi phải trả hết lại cho ta”, Hoàng hậu lại phán bảo:
- Nầy con, con đã hữu duyên uống được nước nguồn bất tử vậy con hãy cho chúng ta uống với.
Cô Khujjuttarā đáp:
- Nếu vậy, xin cho con được tắm gội sạch sẽ đã.
Nghe vậy, Hoàng hậu cho các cung nữ lo tắm rửa cho cô thể nữ bằng mười sáu bầu nước thơm và ban cho cô hai cái y choàng bằng lụa thật tốt, cô lấy một cái để mặc một cái cô choàng lên phủ kín mình. Cô chỉ biểu cho cung nữ dọn một pháp tòa và đem đến cho cô một cây quạt.
Lên ngồi đàng hoàng trên pháp tọa, một tay cầm cây quạt tuyệt đẹp, cô Khujjuttarā mở lời kêu gọi năm trăm cung nữ và thuyết lại cho họ nghe y nguyên thời Pháp mà cô đã được nghe Đức Bổn Sư thuyết.
Xong rồi, tất cả năm trăm cung nữ ấy đều đắc quả Tu Đà hườn.
Tất cả đều đảnh lễ cô gái gù lưng và nói: “Chị ơi! Từ giờ trở đi xin chị đừng làm các công việc gì nặng nhọc nữa, xin chị giữ địa vị làm mẹ và bà giáo của chúng tôi. Chị cứ ở không để đi nghe pháp của Đức Bổn Sư để về cùng thuyết lại cho chúng tôi nghe với”.
Cô Khujjuttarā làm y như lời yêu cầu về sau trở thành một nữ Tam Tạng Pháp Sư.
Khi ấy, Đức Bổn Sư đặt cô lên hàng đệ tử ưu tú: “Nầy các Tỳ khưu! Cao minh nhất trong các nữ cận sự Thinh Văn về đệ nhất thuyết pháp là thể nữ Khujjuttarā nầy vậy”.
Năm trăm cô cung nữ yêu cầu cô thể nữ lưng gù:
- Chị ơi! Chúng tôi muốn bái kiến Đức Bổn Sư. Chị làm sao đưa dùm chúng tôi đến gặp Ngài để chúng tôi cúng dường hương hoa lễ vật đến Ngài.
- Thưa quí nàng! Thể thống của hoàng gia rất trọng đại, tôi không dám dắt đưa các nàng ra khỏi hoàng cung.
- Chị ơi! Đừng để chúng tôi mỏi mòn thất vọng, chị ráng làm cách nào giúp chúng tôi được bái kiến Đức Bổn Sư.
- Thôi thì các nàng, mỗi người trổ một lỗ trống trong vách phòng của mình, rộng vừa đủ để trông thấy rõ bên ngoài và cho người mang lễ vật, hương hoa để sẵn nơi đó, chờ khi Đức Bổn Sư đi ngang qua để đến cổng ba nhà Thiên hộ, thì các nàng lại chỗ lỗ trống của phòng mình mà nhìn xem, hay là giơ tay ra ngoài lễ bái và dâng cúng lễ vật.
Các phi tần làm y theo như vậy, họ chờ Đức Bổn Sư đi ngang qua, lúc Ngài ngự đến hoặc lúc trở về để nhìn ngắm kim quang hoặc lễ bái, cúng dường tùy theo sở thích.
Bất ngờ, một hôm Thứ hậu Māgandiyā từ trong tư cung bước ra, trong khi thung thăng bách bộ, bà đi đến chỗ ngự của năm trăm nàng cung phi ấy.
Trông thấy các lỗ trống trong vách cung phòng, Thứ hậu bèn hỏi: “Lỗ gì vậy?”.
Các nàng cung nữ không biết việc Thứ hậu Māgandiyā ôm lòng thù hận, ngầm buộc oan trái với Đức Bổn Sư, nên tình thật đáp rằng: “Khi nào Đức Bổn Sư ngự vào thành, chúng tôi đứng đó mà lễ bái và dâng cúng lễ vật đến Ngài”.
Thứ hậu nghĩ thầm: “Sa môn Gotama vào thành lúc nầy, thật là dịp may ta lập cách tẩy thù, phục hận, rửa được cái nhục ngày xưa. Còn mấy con tiện tỳ nầy là bọn a dua, thị tùng của hắn, thì ta cũng sẽ làm cho biết tay”.
Lập tâm như thế rồi, Thứ hậu Māgandiyā vào trào, mật tấu với vua Udena: “Tâu đại vương! Năm trăm cung nữ của Chánh hậu Sāmāvatī âm mưu tư thông với bên ngoài, dự bị hành thích đại vương trong vài ngày tới đây”.
Đức vua không tin đáp rằng: “Các cung nữ ấy không dám làm việc tày đình ấy đâu”.
Mặc dầu Thứ hậu tâu đi tâu lại, đức vua cũng không lưu ý, thấy vu cáo đến ba lần mà đức vua cũng không tin lời mình, Thứ hậu bèn tâu rằng: “Nếu đại vương không tin, thì xin đại vương quang lâm đến chỗ ngụ của các cung nữ ấy mà quan sát thì sẽ rõ ngay gian”.
Đức vua ngự đến các cung phòng, trông thấy những lỗ trổ trong vách, phán hỏi lỗ gì đây vậy.
Sau khi nghe các cung nữ trình bày hợp lý, đức vua chẳng giận hờn trách mắng chi họ, mà còn cho lịnh đến lắp các lỗ trống lại và gắn cửa sổ mắt cáo (khuddacchiddakavātapānāni) vào vách của tất cả các cung nữ. Tương truyền rằng: “Những cửa sổ mắt cáo có từ khi nầy vậy”.
Bị thất bại trong việc vu cáo các cung nữ, Thứ hậu Māgandiyā tự nghĩ: “Bây giờ ta phải đối phó với Sa môn Gotama trước đã!”.
Thứ Hậu bèn vãi tiền ra mướn dân chúng trong thành: “Ai thấy Sa môn Gotama vào thành thì kéo hết kẻ ăn người làm trong gia đình ra mà mắng nhiếc, lăng mạ xua đuổi ông ta đi”. Bọn người tà kiến, không có đức tin nơi Tam Bảo, sau khi lớn tiếng mắng chửi, lăng mạ Ngài: “Ngươi là kẻ cướp, là kẻ ngu, là kẻ khùng, ngươi là con lạc đà, là con bò, là con lừa, ngươi là giống quỉ sứ, là giống súc sanh, ngươi sẽ không bao giờ được siêu sanh lên nhàn cảnh, ngươi nhất định sẽ sa vào ác đạo”. Bị xúc phạm bằng mười thứ thô ác ngữ như trên. Đại đức Ānanda bạch với Đức Bổn Sư: “Bạch Ngài, dân chúng miền nầy mắng nhiếc, lăng mạ ta. Vậy ta hãy đi qua nơi khác”.
- Đi đâu hở Ānanda?
- Bạch Ngài, ta đi qua thành khác.
- Nếu dân chúng ở đó mắng nhiếc ta thì ta sẽ đi đâu nữa hở Ānanda?
- Bạch Ngài! Thì ta sẽ bỏ đó mà đi qua thành khác nữa.
- Nầy Ānanda! Không nên làm như vậy, chỗ nào có sự khẩu thiệt (adhikaraṇa) phát sanh, thì ta phải lưu lại đó cho đến khi những tiếng thị phi lắng dịu hết rồi mới nên đi qua chỗ khác. Họ mắng nhiếc bằng những lời lẽ nào vậy Ānanda?
- Bạch Ngài, họ giăng đủ cả thập ác thô ngữ.
- Nầy Ānanda! Như Lai chẳng khác nào con tượng chúa khi lâm trận phải hứng chịu tất cả bao nhiêu mũi tên địch từ bốn phía bắn vào, cũng như nơi đây, dầu cho những kẻ không giới hạnh có thốt ra nhiều lời bất nhã như thế kia, Như Lai cũng vẫn nhẫn nhục chịu đựng được hết.
Nói rồi, Đức Bổn Sư thuyết pháp, tự đề cập đến Ngài và kết thúc bằng ba bài kệ Pháp Cú sau đây, được ghi chép trong Phẩm Voi:
“Ahaṃ nāgo va saṅgāme,
Cāpāto patitaṃ saraṃ;
Ativākyaṃ titikkhissaṃ,
Dussīlo hi bahujjano”
“Dantaṃ nayanti samitiṃ,
Dantaṃ rājābhirūhati;
Danto seṭṭho manussesu,
Yoti vākyaṃ titikkhati”
“Varamassatarā dantā,
Ājānīyā ca sindhavā;
Kuñjarā ca mahānāgā,
Attadanto tato varanti”
“Như voi xuất trận gan lì,
Hứng tên cung bắn vào bì chẳng nao.
Như Lai hứng chịu biết bao,
Những lời phỉ báng thấp cao tục tằn”
“Thế gian lắm kẻ làm nhăn,
Phá hư giới hạnh thiện căn của mình.
Voi thuần được đến hội đình,
Voi thuần được chúa thích tình ngự du.
Cao hơn nhân loại người tu,
Nhịn lời phỉ báng phàm phu tục tằn.
”Quí thay là giống la thuần!
Quí thay ngựa tuấn người hằng khéo nuôi!
Quí thay tượng chúa đàn voi!
Người tự điều chế hẳn hòi quí hơn”
Sau khi thuyết giảng như thế, Đức Bổn Sư phán:
- Nầy Ānanda! Ngươi chớ nên tư lự, họ chỉ mắng
nhiếc trong vòng bảy ngày mà thôi. Đến ngày thứ tám họ sẽ tự động im lặng ngay.
Quả nhiên đối với chư Phật, mọi sự khẩu thiệt chỉ tồn tại trong bảy ngày chớ không bao giờ kéo dài hơn nữa.
Khi thấy mướn người mắng nhiếc, xua đuổi Đức Bổn Sư không kết quả, Thứ hậu Māgandiyā tự nghĩ: “Bây giờ ta sẽ làm gì đây? À lũ cung tần và Sāmāvatī là những kẻ hậu thuẫn của Sa môn Gotama. Ta phải tiêu diệt lũ nó”.
Một hôm nọ, Thứ hậu được chỉ định trông coi việc ngự thiện, làm quản đốc nơi tòa ngự yến lâu (Rañño surāpānaṭṭhāna). Nhân cơ hội đó, Thứ hậu gởi mật thư cho chú mình như vậy: “Xin tin cho Quốc trượng rõ, con đang cần dùng gà trống, tám con sống và tám con chết. Quốc trượng nên mang gà đến ngự yến lâu, đứng túc trực nơi chân cầu thang và thông tin cho con biết tin Quốc trượng đến. Khi có lệnh truyền cho vào. Quốc trượng cũng đừng lên lầu, lần đầu tiên Quốc trượng gởi cho nội thị tám con gà trống còn sống và lần sau hãy gởi mấy con kia”.
Mặc khác, Thứ hậu đút lót vàng bạc mua chuộc viên quan hầu rượu của vua (Cūḷupatthāko) và căn dặn: “Khanh nhớ ráng làm đúng theo lời ta ủy thác nha”.
Tiếp được mật thơ, Quốc trượng Cūḷa Māgandiyā thân hành đi vào hoàng cung, khiến nội thị thông báo cho đức vua biết. Quốc vương truyền lịnh cho vào. Quốc trượng thối thác với nội thị rằng: “Nơi Quốc vương yến ẩm, ta không dám lên”.
Thứ hậu bèn phán bảo bồi yến quan: “Hiền khanh hãy xuống tiếp kiến Quốc trượng đi”.
Quan bồi yến xuống lầu, được Quốc trượng gởi tám con gà trống còn sống đem lên dâng đức vua: “Tâu Quốc vương, đây là lễ vật của Quốc trượng hiến nạp”.
Quốc vương rất đẹp ý, phán rằng: “Quí hóa thay! Được thêm món trân tu mỹ vị nầy cô gia không biết nên giao cho ai nấu nướng đây”.
Thứ hậu Māgandiyā tâu: “Tâu đại vương, năm trăm cung phi do Chánh hậu Sāmāvatī chưởng quản hiện đang ở không, đi dông đi dài. Xin đại vương gởi món nầy đến bảo họ nấu nướng rồi mang lại đây”.
Quốc vương ra lịnh cho quan bồi yến:
- Khanh đem mấy con gà nầy đến giao tận tay các
cung nữ, chớ đừng giao cho ai khác và tâu rằng: “Đức vua muốn quí lịnh bà tự tay mình làm thịt gà và nấu món ăn dâng lên đức vua”.
- Hạ thần xin tuân Thánh lịnh.
Nói rồi, quan bồi yến ra đi, đến gặp các cung nữ và truyền lịnh vua. Các cung nữ từ chối, đáp rằng: “Chúng tôi giữ giới không dám sát sanh”.
Quan bồi yến trở về phục lịnh đức vua. Khi ấy Thứ hậu Māgandiyā tâu rằng:
- Tâu đại vương! Muốn biết thật các cung nữ nầy có giữ giới cấm sát sanh hay là họ chỉ mượn cớ thối thác, không tuân vương lịnh, thì xin đại vương thử phán bảo họ: “Nấu xong thực phẩm đem dâng cúng dường Sa môn Gotama”, xem ra sao?
Quốc vương y tâu, lại sai viên quan hầu rượu ra đi một lần nữa. Bồi yến quan đem gà xuống lầu, giả cách như đem thẳng vào thâm cung, nhưng sự thật thì ông giao trả Quốc trượng tám con gà trống sống mà tráo lấy tám con gà trống chết, đem qua chánh cung, tâu với vương phi rằng: “Có lịnh vua khiến quí vương phi làm thịt mấy con gà nầy, nấu thành thực phẩm gởi đến cúng dường Đức Tôn Sư”.
Các cung nữ ra rước lấy mấy con gà chết và nói:
- Bây giờ, công việc này là phận sự của chúng tôi đây.
Thấy quan hầu rượu trở về phục lịnh, đức vua phán hỏi:
- Thế nào vậy khanh?
Bồi yến quan tâu: “Muôn tâu chúa thượng vừa nghe nói nấu để cúng dường Sa môn Gotama, thì các cung nữ liền chạy ra đón đường hạ thần và rước mấy con gà rồi. Thấy vậy, Thứ hậu Māgandiyā liền tâu rằng:
- Đại vương hãy coi đó, có phải rõ ràng là các cung phi ấy chỉ có tâm xu hướng ngoại nhân chớ không có lòng tín ngưỡng đại vương chăng, thế mà đại vương còn chẳng tin lời thần thiếp.
Quốc vương làm thinh giữ vẻ trầm ngâm để cho Thứ hậu Māgandiyā tha hồ tâu rỗi. Thấy vậy, Thứ hậu nghĩ thầm: “Bây giờ, ta phải làm sao đây?”.
Thời ấy đức vua luân phiên ngự vào cung của ba bà Hoàng hậu Sāmāvatī vasuladatta và Māgandiyā. Vua tuần tự lưu lại trong mỗi hậu cung bảy ngày đêm liền.
Sau khi hỏi vua để biết trước “Mai hay mốt đức vua sẽ ngự hành sang qua chánh cung”, Thứ hậu Māgandiyā sai một người thân tín đến dinh Quốc trượng Cūḷa Māgandiyā, để xin một con rắn độc đã nhổ hết mấy cái răng độc về cho mình cần dùng. Quốc trượng làm y như lời đứa cháu gái cưng.
Quốc vương Udena, mỗi khi thân hành ngự đến nơi nào cũng mang cây đàn điều tượng đem theo, thùng đàn có một lỗ nhỏ, Thứ hậu Māgandiyā lùa cho con độc xà chui qua lỗ ấy mà vào trong thùng đàn, đoạn lấy một chùm hoa nhét trám miệng lỗ. Đến ngày Quốc vương xuất hành, Thứ hậu giả vờ hỏi:
- Hôm nay đại vương ngự đến cung nào?
- Đến cung Chánh hậu Sāmāvatī.
Nghe vậy, Thứ hậu can rằng: “Tâu đại vương! Đêm hôm quan thần thiếp nằm mộng, thấy một điềm bất thường là lịnh Thiên tử không nên ngự qua chánh cung được”.
- Trẫm nhất định qua đó.
Thứ hậu can ngăn đức vua đủ ba lần, rồi mới nói:
- Nếu đại vương quyết như thế, thì thần thiếp xin cùng đi với đại vương.
Nói rồi, Thứ hậu theo sát cánh Quốc vương, ra khỏi phạm vi đệ tam cung, Thứ hậu cũng không quay về, lại nói rằng:
- Tâu Chúa thượng! Thần thiếp rất e ngại, không biết sắp xảy ra biến cố nào đây.
Khi Quốc vương ngự đến chánh cung, Hoàng hậu Sāmāvatī và đoàn cung nữ ra nghinh tiếp, khoác lên long thể những đồ trang điểm quí giá tràng hoa và hương trầm. Đức vua cứ để nguyên các phục sức ấy mà ngự dụng các món thiện soạn (subhojanaṃ). Xong bữa rồi, đức vua ngự lên long sàng để an giấc, buông bỏ cây đàn kế bên đầu nằm.
Thứ hậu Māgandiyā giả vờ đi quan sát chỗ nọ, chỗ kia, rồi thừa lúc vắng người lén đến rút bỏ chùm hoa nhét trám cái lỗ trên thùng đàn.
Con rắn nằm yên trong thùng đàn hai ba ngày qua, liền theo lỗ trống bò ra ngoài, ngóc đầu lên phùng mang thở khem khem rồi trườn lên nằm trên long sàn. Thấy vậy, Māgandiyā kêu thét lên: “Chúa thượng ơi! Có con rắn!”. Rồi như ngây như dại, Thứ hậu mắng nhiếc cả Quốc vương, Chánh hậu cùng các cung nữ:
- Hôn quân bất hạnh, không nghe lời ta can gián. Lũ tiện tỳ nầy cũng vô phước vậy mà cũng học đòi chầu chực Quốc vương. Có lẽ chúng bây mong mỏi đức vua thăng hà để cho bây được sống an vui, nếu đức vua còn tại vị thì chúng bây sống chịu cực khổ phải không?
Chúa thượng ơi! Sáng nay thần thiếp đã thấy triệu bất thường, biết là Chúa thượng chẳng nên ngự đến cung của Chánh hậu Sāmāvatī nầy. Thần thiếp đã hết lời can gián mà Chúa thượng chẳng tin nghe thần thiếp.
Nhìn thấy con rắn, Quốc vương kinh hoàng, nghĩ đến cái chết:
“Mấy cung nữ nầy có thể làm cho trẫm thăng hà được lắm. Ôi! Thật trẫm quá ngu khờ mới không tin lời Thứ hậu đã lắm lần chỉ rõ ác tâm của bọn họ cho trẫm thấy. Lần đầu tiên họ khoét lỗ vách cung phòng để ngồi ngó ra ngoài, lần kế đó họ trả mấy con gà trống của trẫm đưa đến cho họ làm thịt và bữa nay họ thả rắn lên long sàn trong lúc trẫm ngủ say”.
Nghĩ đến đây, Quốc vương phừng phừng lửa giận, nộ khí xung thiên.
Chánh hậu Sāmāvatī điềm tĩnh bảo năm trăm cung nữ:
- Nầy các em. Chẳng có ai có thể che chở cho chị em mình hết. Vì các Thiên vương, Thiên hậu với chị em mình cũng ngang đồng bậc, chẳng khác chi nhau, các em cứ lo rải tâm từ đừng ái ngại chi hết.
Quốc vương lấy chiếc cung vàng có sức bắn đi mạnh gấp ngàn cây cung thường (sahassathāmasiṅgadhanu), cầm lên tay búng thử dây cung, lấp một mũi tên có tẩm thuốc độc vào, rồi truyền lịnh bắt Chánh hậu Sāmāvatī đứng đầu, cả đoàn cung phi sắp hàng đứng nối theo sau. Đoạn Quốc vương nhắm ngay ngực Hoàng hậu Sāmāvatī bắn mũi tên ra.
Do mãnh lực từ tâm của Hoàng hậu, mũi tên quay đầu trở lại bay thẳng về phía Quốc vương, suýt đâm thủng tim Quốc vương mới dừng lại. Quốc vương giật mình, ngẫm nghĩ rằng: “Mũi tên của trẫm bắn ra, dầu cho gặp đá cứng nó cũng xuyên thủng đi qua, còn trên hư không nó đâu có đụng bá chỗ nào, sao tự nhiên nó quay đầu trở lại, chực bay xỉa vào tim của trẫm? Ôi! Rất đỗi là một mũi tên, là thứ đồ bắn bỏ, là giống vô tình, là vật vô sanh mà nó còn nhận thức được giới đức của Hoàng hậu, trẫm là giống con người mà sao trẫm thua vật vô tri”. Quốc vương ném phăng chiếc cung vàng xuống đất, chắp tay ngồi xổm bên chân Hoàng hậu Sāmāvatī rồi đọc kệ rằng:
“Sammuyhāmi pamuyhāmi,
Sabbā muyhanti me disā;
Sāmāvatī maṃ tāyassu,
Tvañca me saraṇaṃ bhavāti.
”Trẫm quên, trẫm lạc mất đường,
Trẫm không còn nhớ hướng phương đi về.
Ô Nhi Ly hãy phá mê,
Cho trẫm nương tựa cận kề được chăng?”.
Nghe Quốc vương thốt ra những lời khiêm tốn, tự hạ mình như vậy, Chánh hậu không nói “Phải đó Chúa thượng, Chúa thượng hãy qui y với thần thiếp”. Nhưng Chánh hậu lại tâu rằng:
- Tâu đại vương! Hễ thần thiếp qui y với vị nào thì đại vương cũng nên quy y với vị đó.
Hoàng hậu bèn đọc bài kệ rằng:
“Idaṃ vatvā sāmāvatī,
Sammāsambuddhasāvikā;
Mā maṃ tvaṃ saraṇaṃ gaccha,
Yamahaṃ saraṇam gatā.
Esa buddho mahārāja,
Esa buddho anuttaro;
Saraṇaṃ gaccha taṃ buddhaṃ,
Tvañcame saraṇaṃ bhavāti”
“Ô Nhi Ly nữ Thinh Văn.
Của Đức Toàn Giác đáp rằng: Chúa ơi!
Chúa đừng qui ngưỡng theo tôi,
Hãy qui ngưỡng Phật đang ngồi từ bi.
Mà tôi cũng đã qui y,
Phật đó cao thượng không chi sánh bằng.
Phật đó, đại vương nhớ chăng?
Để tôi nương tựa hầu gần Đại vương”
Đức vua Udena nghe dứt bài kệ của Hoàng hậu
Sāmāvatī, bèn nói: “Bây giờ, trẫm càng hoang mang lo sợ hơn bao giờ hết”.
Đoạn vua lại ngâm kệ rằng:
“Esa bhiyyo pamuyhāmi,
Sabbā muyhanti me disā;
Sāmāvati maṃ tāyassu,
Tvañca me saraṇaṃ bhavāti”
“Phật càng làm trẫm lạc đường,
Trẫm không còn nhớ hướng phương đi về.
Ô Nhi Ly hãy phá mê,
Cho trẫm nương tựa cận kề ái khanh”
Dầu cho đức vua yêu cầu mấy lượt, Hoàng hậu cũng vẫn từ nan như trước.
- Thôi thì để trẫm quy y với Đức Bổn Sư và đồng thời trẫm ban cho ái khanh một ân huệ tùy ý ái khanh chọn lựa.
Nghe vua chuẩn hứa, Chánh hậu đáp: “Tâu đại vương, thần thiếp vui lòng nhận lãnh ân huệ vua ban”.
Quốc vương Udena bèn đến chỗ Đức Bổn Sư đang ngự xin quy y với Ngài, rồi cung thỉnh Tỳ khưu Tăng quang lâm vào hoàng cung thọ thực, sau cuộc lễ Trai Tăng liên tiếp bảy ngày, Quốc vương phán bảo Hoàng hậu Sāmāvatī: “Bây giờ ái khanh muốn được trẫm ân tứ vật gì, ái khanh cứ nói cho trẫm biết”.
- Tâu đại vương! Thần thiếp không cần dùng châu báu, bạc vàng chi cả. Thần thiếp chỉ xin chúa thượng ban cho ân huệ nầy là: Chúa thượng thỉnh Đức Bổn Sư với năm trăm Tỳ khưu hằng ngày vào hoàng cung để thần thiếp và các cung nhân được nghe thuyết pháp.
Quốc vương bèn đảnh lễ Đức Bổn Sư, rồi bạch rằng:
- Bạch Ngài! Trẫm xin cung thỉnh Ngài với năm trăm vị Tỳ khưu, hằng ngày vào thọ thực nơi đây để cho Chánh hậu cùng đoàn cung nhân được dịp đảnh lễ và thính pháp.
- Tâu đại vương! Đồng danh với chư Phật Như Lai, không nên đi mãi một chỗ nào vì đại chúng ở khắp nơi còn đang ngóng đợi Như Lai.
- Bạch Ngài! Nếu vậy xin Ngài biệt phái một Tỳ khưu đại diện cho Ngài.
Đức Bổn Sư bèn chỉ định Đại đức Ānanda.
Từ đó về sau, mỗi ngày Đại đức Ānanda đều dắt năm trăm vị Tỳ khưu vào hoàng cung thọ thực, Chánh hậu cùng đoàn cung nhân vẫn chăm lo sớt bát cúng dường và nghe kinh, thính pháp đều đều không ngớt.
Một hôm, sau khi nghe dứt thời pháp do Đại đức Ānanda thuyết, đoàn cung nhân phát tâm thành tín hết sức trong sạch bèn dâng năm trăm lá y vai trái (Uttarasaṅgā) để cúng dường Pháp Bảo, thứ y nầy rất quí, mỗi lá trị giá đến năm trăm đồng vàng.
Khi thấy các cung nhân không còn một lá y quí báu nào hết, Quốc vương phán hỏi:
- Những y vai trái của các ái khanh để đâu?
- Chúng tôi đã cúng dường Ngài Đại đức.
- Đại đức đã nhận hết cả ư?
- Tâu chúa thượng, Đại đức đã thu nhận hết cả.
Quốc vương đến đảnh lễ Đại đức Ānanda và phán hỏi về các cung nhân cúng dường năm trăm lá y Uất Đà La Tăng. Khi Đại đức xác nhận rằng: Các cung nhân có cúng dường và Đại đức có thọ lãnh số y ấy, Quốc vương bèn hỏi: “Bạch Ngài bấy nhiêu y đó há chẳng phải là quá nhiều lắm sao? Vậy Ngài dùng làm gì cho hết?”.
- Tâu đại vương, ta chỉ thọ dụng vừa phải thôi, còn dư ra thì ta bố thí cho các vị mặc y cũ rách.
- Có y mới, các vị ấy sẽ dùng y cũ của mình làm gì?
- Họ sẽ bố thí cho những vị có y cũ rách hơn.
- Rồi các vị sau nầy sẽ làm gì với những y cũ rách của mình.
- Chư Tăng sẽ lấy làm tấm trải lót giường.
- Còn những tấm trải lót giường cũ, chư Tăng để làm gì?
- Chư Tăng sẽ lấy làm tấm trải lót dưới đất.
- Những tấm trải lót dưới đất cũ, chư Tăng để làm gì?
- Tâu đại vương! Chư Tăng dùng làm giẻ chùi chân.
- Giẻ chùi chân cũ, chư Tăng để làm gì?
- Chư Tăng xé nhỏ ra, quết cho nhuyễn rồi nhào lộn với đất sét để tô trên vách.
- Bạch Ngài, nếu chư Tăng làm như thế thì những vật cúng dường quý Ngài quả thật không uổng chút nào.
- Tâu đại vương phải.
Quốc vương phát khởi đức tin trong sạch, bèn hạ lịnh cho quân hầu mang thêm năm trăm lá y nữa đến cúng dường, đặt xuống bên chân Đại đức Ānanda.
Tương truyền rằng: “Mỗi khi có năm trăm lá y quí giá cúng dường thí chủ chia ra làm năm trăm phần, dâng đến bên chân của Đại đức và Đại đức thọ lãnh đủ năm trăm lần. Mỗi khi có một ngàn bộ y quí giá cúng dường, thí chủ chia ra làm một ngàn phần dâng đến bên chân Đại đức và Đại đức thọ lãnh đủ một ngàn lần, mỗi khi có một trăm ngàn lá y quí giá cúng dường, thí chủ cũng chia ra một trăm ngàn phần dâng đến bên chân Đại đức và Đại đức cũng thọ lãnh đủ một trăm ngàn lần. Nhưng y phát sanh đến Đại đức vô số kể, không phải chỉ có một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười hay một đôi chục đâu.
Theo truyền ngôn: Khi Đức Như Lai Níp Bàn rồi, Đại đức đi vân du ta bà khắp cõi Diêm Phù Đề, đến chùa nào Đại đức cũng bố thí những y bát của mình cho tất cả Tỳ khưu trong chùa ấy.
Thử hỏi: Đại đức nhờ tạo nghiệp gì trong quá khứ mà trong kiếp nầy có được y phát sanh dồi dào như thế?
Tương truyền rằng: Xưa kia trong một kiếp làm thợ dệt Đại đức có cúng dường một cây kim và một nắm vải vụn đến một vị Phật Độc Giác. Nhờ quả phước của sự cúng dường cây kim kiếp nầy Đại đức có được Trí Bát Nhã (Mahāpañño), nhờ quả phước của sự cúng dường vải vụn, kiếp nầy Đại Đức mới có được nhiều y như thế.
Nói về Thứ hậu Māgandiyā từ khi thất bại trong các việc vu cáo, thấy Chánh hậu cùng đoàn cung nhân, chẳng những đã không bị thiệt hại mà còn được Quốc vương trọng dụng thì càng đem lòng căm tức. Thứ hậu nghĩ thầm: “Cơ mưu của ta sắp đặt đều sai lạc hết, thật là hoài công vô ích, bây giờ ta phải tính sao đây? À ta còn một cách nầy”.
Chờ lúc Quốc vương xuất thành, ngự đi du ngoạn, Thứ hậu thảo bức mật thư gởi cho chú mình: “Quốc trượng mau đến cung của Sāmāvatī, mở cửa kho chứa vải và kho chứa dầu, rồi đem quấn vòng hết mấy cây cột, nhốt chung tất cả cung nhân vào một chỗ, khóa kín cửa cung phòng, bên ngoài cho một nhóm thợ máy, sắp đặt hỏa tiễn phóng vào, chừng lửa bốc cháy cung phòng, Quốc trượng lánh mặt đi”.
Cūḷa Māgandiyā lập tức trèo lên cung điện của Chánh hậu, mở các cửa kho lấy vải nhúng vào dầu, rồi đem quấn vòng các cây cột. Khi ấy, Chánh hậu Sāmāvatī cùng đoàn cung nhân xúm nhau đến hỏi: “Quốc trượng làm chi đó vậy?”.
- Tâu Chánh hậu, Quốc vương hạ lịnh phải quấn vải dầu vào hết mấy cây cột nầy. Lịnh của vua ra thì thần chỉ biết tuân theo chứ không dám bàn cãi chi cả. Xin quí lịnh bà đừng đến gần các cây cột nầy.
Kế đó Quốc trượng lùa hết cung nhân nhốt vào trong cung thất, khóa trái cửa lại, bên ngoài cho quân đốt lửa, dùng máy phóng hỏa, bắn xả vào các cung phòng, lửa cháy bốc lên ngùn ngụt. Thấy vậy, Chánh hậu Sāmāvatī ban huấn từ phủ dụ các cung phi: “Chị em chúng ta đã từng là những kẻ phiêu bạt lang thang trong vòng luân hồi sanh tử từ đời vô thủy cho đến nay, dầu cho ngọn lửa hồng như thế kia có thiêu rụi thân xác chúng ta trong một kiếp nầy cũng không thể nào chúng ta cắt đứt cái vòng tái sanh lẩn quẩn và chứng đắc Tuệ giác chư Phật. Vậy chị em chúng ta hãy ráng chuyên cần chớ khá dễ duôi”.
Thế rồi, trong tòa hậu cung bừng bừng lửa cháy dậy trời, Hoàng hậu Sāmāvatī cùng với các cung phi lấy sự thọ khổ làm đề mục tham thiền, gia công chuyên chú niệm, nên người đắc Nhị quả, người đắc Tam quả trong lúc lâm chung.
Hay tin hỏa hoạn thiêu rụi chánh cung, có nhiều Tỳ khưu sau bữa Trai Tăng, hoặc đi khất thực rồi trở về đến chỗ ngự của Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi nép qua một bên.
Khi đã ngồi yên, chư Tỳ khưu bạch cùng Đức Thế Tôn: “Bạch Ngài! Hôm nay trong lúc Quốc vương Udena xuất ngoại ngự du, lửa cháy hậu cung, cả đoàn năm trăm vương phi có Sāmāvatī là Chánh hậu đều thiệt mạng. Bạch Ngài, các cung phi ấy đều là tín nữ, chẳng hay họ sẽ được chuyển kiếp, siêu sanh về cảnh giới nào?”.
- Nầy các Tỳ khưu! Trong nhóm cận sự nữ ấy có người đắc Tu Đà Hườn, có người đắc Tư Đà Hàm, có người đắc A Na Hàm. Nầy các Tỳ khưu, tất cả các cận sự nữ ấy đều đắc Thánh quả, không còn ai là phàm phu trong lúc lâm chung cả.
Khi ấy, nhận xét cái chết vì hỏa tai của đoàn cung phi và Chánh hậu không ngoài định lý nhân quả. Đức Thế Tôn cảm khái ngâm bài kệ sau đây:
“Mohasambandhano loko,
Bhabbarūpova dissati;
Upadhibandhano bālo,
Tamasā parivārito;
Sassatī viya khāyati,
Passato natthi kiñcananti
“Thế gian liên kết bởi vô minh,
Chỉ thấy nhãn tiền cảnh sắc thinh,
Kẻ dại đắm chìm trong biển tối,
Vì mang thủ chấp buộc theo mình,
Cho rằng thế giới lưu tồn mãi,
Người thấy không gì thoát tử sinh”
Sau bài kệ, Đức Thế Tôn thuyết luôn một thời pháp tóm tắt như vậy: “Nầy các Tỳ khưu! Tất cả chúng sanh khi còn lang thang trong vòng luân hồi, nếu có chuyên cần mãi mãi thì tạo được phước nghiệp luôn luôn, còn nếu lúc nào dễ duôi thì lúc ấy cũng tạo gây ác nghiệp vậy, bởi thế cho nên chúng sanh khi thì thọ vui, khi thì thọ khổ đều do tiền nghiệp của mình trong kiếp nầy hoặc kiếp xa xưa!”
Quốc vương Udena đang ngự du, nghe tin phi báo cung điện của Chánh hậu Sāmāvatī phát hỏa, bèn cấp tốc hồi loan để đốc thúc việc cứu chữa. Quốc vương ngự về đến nơi thì đã muộn. Tòa chánh cung đã bị hỏa thiêu, chỉ còn trơ lại những đống tro tàn.
Lòng buồn rười rượi, Quốc vương ngồi phịch trên chiếc cẩm đôn, quần thần xúm nhau khuyên giải, Quốc vương vẫn lặng thinh. Càng tưởng nhớ đến ân đức của người quá cố, Quốc vương càng thêm ảo não, tự hỏi: “Kẻ nào ác tâm gây ra cảnh chia lìa tang tóc nầy đây? Chắc có lẽ Thứ hậu Māgandiyā chớ không phải ai đâu xa lạ”. Tuy hiểu biết như thế, nhưng Quốc vương lại nghĩ thầm: “Nếu dùng biện pháp hăm he, tra tấn, sợ e Thứ hậu không chịu khai ngay, trẫm phải dùng mẹo mà tra hỏi một cách êm thấm mới mong tìm ra manh mối được”. Nghĩ rồi, Quốc vương đổi buồn làm vui, phán bảo các quan cận thần tư vấn rằng: “Chư hiền khanh, lúc trước trẫm ăn ngủ không yên, ngày đêm cứ phập phồng lo sợ vì trẫm nghĩ: Sāmāvatī đang rình rập mong chờ cơ hội để ra tay hành thích trẫm. Bây giờ Sāmāvatī thác rồi, trẫm mới vững dạ yên lòng, toại hưởng một đời hạnh phúc”.
- Tâu chúa thượng việc nầy do kẻ nào gây ra vậy.
- Chắc là do một người nào đó có lòng yêu mến trẫm.
Thứ hậu Māgandiyā đứng gần đó nghe Quốc vương đáp lời như vậy, thì vội vã tâu rằng:
- Tâu Chúa thượng việc nầy do tay thần thiếp gây nên, chớ ngoài thần thiếp ra không ai có thể làm được. Thần thiếp đã triệu Quốc trượng vào cung và ra lịnh cho Quốc trượng thi hành việc ấy.
Quốc vương phán: “Trừ ái Hậu ra, trẫm không còn ai thật lòng yêu quí trẫm. Ái hậu ơi! Trẫm phát tâm trong sạch muốn ban bố cho ái hậu một ân huệ. Vậy ái khanh hãy triệu cả gia nhân quyến thuộc của ái hậu vào đây”.
Thứ hậu bèn gởi thư kêu gọi thân nhân: “Đức vua phát tâm trong sạch đối với ta, Ngài sẽ ban bố ân huệ, tất cả bà con hãy đến cho mau”.
Những gia nhân của Thứ hậu Māgandiyā lũ lượt kéo nhau vào hoàng cung đều được Quốc vương ban thưởng rất trọng hậu. Thấy vậy, nhiều người không phải quyến thuộc của Thứ hậu cũng ráng lo lót để được chứng nhận là: “Gia nhân của Māgandiyā để vào cung lãnh thưởng”.
Sau khi đã kiểm kê gia nhân của Thứ hậu Māgandiyā, Quốc vương ra lịnh bắt hết những người ấy trói lại, dẫn họ ra chỗ sân ngự, xô họ xuống ngồi dưới những hố cá nhân đã đào sẵn, rồi lấp đất lại, rải rơm lên trên và châm lửa đốt. Khi lửa bén cháy da tội nhân, Quốc vương truyền lịnh lấy cây sắt cày qua cày lại nhiều lượt để phân thây họ ra từng mảnh. Còn Thứ hậu Māgandiyā cũng bị Quốc vương ra lịnh lấy dao bén lóc hết những mảng thịt nạc trong người của Thứ hậu bỏ vào chảo dầu sôi, chiên chín như bánh cam, rồi bắt Thứ hậu phải ăn.
Một hôm, trong phòng pháp hội, nhân khi nhắc đến vụ hỏa thiêu hậu cung, chư Tăng đồng kết luận rằng: “Nầy các đạo hữu, thật là không hợp lý khi những tín nữ có những đức tin trong sạch như thế, sao lại phải hứng chịu cái chết thê thảm như thế?”.
Đức Thế Tôn ngự đến phán hỏi: “Nầy các Tỳ khưu các ông ngồi thảo luận việc chi đó?”.
- Bạch Ngài, như thế… như thế…
Nghe chư Tăng đáp xong, Đức Bổn Sư dạy rằng:
- Nầy các Tỳ khưu! Trong kiếp nầy đoàn cung nhân có Sāmāvatī là Chánh hậu tử nạn như thế là vì họ trả quả của nghiệp tiền khiên, chớ không có chi lạ.
- Bạch Ngài! Xin Ngài từ bi hoan hỷ giải rõ tiền nghiệp của họ cho chúng con được biết.
Nghe chư Tăng yêu cầu, Đức Thế Tôn bèn nhắc lại tích xưa:
Thời quá khứ, dưới triều đại của Quốc vương Brahmadatta, có tám vị Phật Độc Giác đóng đô tại thành Bārāṇasī, hằng ngày ngự đến thọ thực trong vương cung, năm trăm cung nữ lo việc hộ độ chư Phật.
Khi bảy vị Phật ngự về núi Hy Mã (Himavanta), còn một vị ở lại đang ngồi nhập đại định trong một đám cỏ rậm gần bên bờ sông.
Một hôm, nhân thấy chư Phật đi vắng, Quốc vương dắt đoàn cung nữ xuống sông để bơi lội. Các cung nữ ham vui đắm mình dưới nước cả ngày, đến khi lên bờ họ cảm thấy lạnh run, nên muốn nhóm lửa để hơ cho ấm.
“Chúng ta đi kiếm lửa nhúm”, nói rồi họ kéo nhau đi tìm chỗ nọ, chỗ kia, đưa mắt lục soát tứ phía. Trông thấy đám cỏ rậm rạp tưởng là đám cỏ không họ bèn châm lửa đốt rồi đứng xúm xít quanh để hơ. Khi đám cỏ cháy rạp xuống, các cung nữ mới thấy Đức Phật Độc Giác ngồi yên trong đám lửa. Họ hoảng sợ kêu bảo nhau: “Thôi chết rồi, chết mình rồi chị em ơi. Đức Phật Độc Giác của Quốc vương mà chết cháy, Quốc vương hay được thì chị em mình chắc không toàn tánh mạng. Bây giờ đã trót lỡ như thế, chúng ta phải thiêu Ngài luôn cho mất tích”.
Thế là, cả đoàn năm trăm cung nữ rối rít chạy túa ra đi, quơ củi khô gom lại, chất thành một đống cao lớn. Họ châm lửa đốt củi rồi bỏ đi, yên chí là lần nầy chắc Ngài sẽ cháy tiêu mất xác.
(Các cung nữ ấy ban đầu không có tác ý, nhưng bây giờ thì họ cố ý vì lẽ đó họ phải mắc nghiệp quả về sau.).
Tuy nhiên, dầu họ có gom cả trăm cả ngàn khúc củi chất đống rồi đốt cháy bừng lên, họ cũng không làm cho Đức Phật Độc Giác đang nhập đại định phải bị tác hại hay nóng nảy một chút nào. Bởi vậy, đến ngày thứ bảy, Đức Phật Độc Giác xuất định ra đi bình yên vô sự. Do ác nghiệp đã tạo, các cung nữ bị sa vào hỏa ngục, bị lửa thiêu trong nhiều trăm ngàn năm, do quả còn dư, khi tái sanh lên làm người, họ còn bị chết cháy cả trăm kiếp và kiếp chót nầy họ bị hỏa thiêu trong tòa hậu cung như thế. Đó là do tiền nghiệp của họ vậy.
Nghe dứt tích nầy, chư Tăng hỏi Đức Bổn Sư:
- Bạch Ngài! Còn cô Khujjuttarā do ác nghiệp gì mà cô bị tật gù lưng, do thân nghiệp gì mà cô có trí tuệ đại Bát nhã, do phước nghiệp gì cô chứng quả vị Tu Đà Hườn và do ác nghiệp gì cô phải chịu làm nô tỳ cho người khác?
- Nầy các Tỳ khưu! Cũng dưới triều đại của Quốc vương Brahmadatta đó, ở tại thành Bārāṇasī, có một vị Phật Độc Giác có tật hơi gù lưng.
Khi ấy có người nữ là người phục dịch cho Đức Phật. Lấy các mền nỉ làm y trùm, lại lấy cái chén chum làm bát (bằng vàng), giả cách gù lưng nhái theo Đức Phật Độc Giác cho mọi người coi chơi và nói: “Đức Phật Độc Giác của chúng ta có tướng đi như vầy, như vầy…”. Do quả nghiệp của ác hành ấy mà cô Khujjuttarā phải mang tật gù lưng.
Khi chư Phật vào vương cung thọ thực lần đầu tiên, Quốc vương thỉnh các Ngài an tọa xong, cho người thỉnh bát không của các Ngài, đơm đầy cơm trắng rồi đem dâng trở lại, cơm nóng quá khiến chư Phật phải trở tay liền liền.
Thấy vậy, cô phục dịch lấy tám chiếc vòng tay bằng ngà của mình đem dâng chư Phật và bạch: “Xin các Ngài để bát lên trên cái vòng nầy mà bưng”. Chư Phật lấy vòng ngà lót kê đít bát rồi nhìn cô cung nữ. Cô hiểu ý chư Phật nên bạch: “Bạch các Ngài, chúng con không cần dùng những chiếc vòng ấy, xin dâng đứt luôn đến các Ngài, các Ngài cứ nhận lấy đi”.
Chư Phật Độc Giác nhận lãnh các vòng tay ngà ngự luôn về núi Nandamūlaka, cho tới ngày nay, những chiếc vòng ngà ấy vẫn còn nguyên vẹn.
Do thiện nghiệp ấy, bây giờ cô Khujjuttarā có trí đại Bát nhã, thông suốt Tam tạng và do phước báu của sự phục dịch chư Phật Độc Giác cô chứng đắc Tu Đà Hườn.
Trên đây là tiền nghiệp của cô Khujjuttarā có trí đại Bát nhã (Mahāpañño) thông suốt Tam tạng và do phước báu phục dịch chư Phật Độc Giác cô ta chứng đắc Tu Đà Hườn.
Còn đây là tiền nghiệp của nàng Khujjuttarā trong thời kỳ không có Đức Phật Độc Giác.
Đến thời Đức Phật Tổ Kassapa (Ca Diếp), cô là một tiểu thư của ông Trưởng giả thành Bārāṇasī. Một buổi chiều kia cô đang ngồi soi kiếng để tự trang điểm. Khi ấy, có một Tỳ khưu Ni là bậc Lậu Tận (A La Hán) quen thân với tiểu thư đến nhà để thăm (các Tỳ khưu Ni A La Hán thường hay đến viếng thăm những gia đình hộ độ mình vào buổi xế chiều). Ngay phút ấy, cô không có tớ gái nào đứng hầu gần đó để làm tay sai cho cô tiểu thơ cả.
Khi ấy vị Tỳ khưu Ni đến, tiểu thư nói: “Con xin đảnh lễ Sư cô, Xin Sư cô hoan hỷ trao dùm cái hộp nữ trang qua cho con”.
Sư cô nghĩ thầm: “Nếu ta không lấy cái hộp nầy trao qua cho tiểu thơ thì cô ấy sẽ buộc oan trái với ta và rồi về sau cô ta sẽ đi địa ngục, còn nếu ta làm theo lời cô thì cô sẽ làm tôi tớ trong đời vị lai. Thà để cô phải làm tôi tớ cho người, còn hơn là để cô phải chịu thiêu đốt trong cảnh địa ngục”.
Quán xét thấy rõ nguyên nhân như thế vị Tỳ khưu Ni Lậu Tận bèn lấy cái hộp đồ nữ trang trao qua cho cô tiểu thư. Do tiền nghiệp đã sai khiến một vị A La Hán mà cô Khujjuttarā phải mang kiếp làm kẻ tôi đòi vậy.
Qua ngày sau, chư Tăng lại nhóm trong phòng pháp hội, câu hỏi sau đây được nêu lên: “Một nhóm năm trăm phụ nữ có nàng Sāmāvatī đứng đầu bị hỏa thiêu trong tòa hậu cung, một nhóm nữa gồm các quyến thuộc của bà Māgandiyā bị ủ rơm đốt cháy, rồi bị cây sắt phân thây. Bà Māgandiyā bị lóc xẻo thịt chiên trong chảo dầu. Trong số người trên đây, những ai đáng gọi là còn sống, những ai đáng gọi là đã chết?”.
Đức Bổn Sư ngự vào phòng nhóm phán hỏi chư Tăng: “Nầy các Tỳ khưu! Các thầy đang thảo luận việc chi đây?”.
- Bạch Ngài! Việc như vậy, như vậy…
Nghe chư Tăng đáp xong, Đức Thế Tôn phán bảo rằng: “Nầy các Tỳ khưu những kẻ giải đãi biếng nhác, dầu cho còn sống một trăm năm nữa, cũng đáng gọi là đã chết. Những người chuyên cần tinh tấn, dầu cho chết rồi cũng vẫn như còn sống y nhiên. Cho nên Māgandiyā sống cũng vậy, chết rồi cũng vậy, đều đáng gọi là tử vong, còn năm trăm cung nữ có Sāmāvatī đứng đầu tuy đã chết nhưng cũng đáng gọi là đang còn sống. Quả thật nầy, các Tỳ khưu những người chuyên cần không đời nào chết đi”.
Nói rồi, Đức Thế Tôn ngâm liên tiếp ba bài kệ:
“Appamādo amataṃ padaṃ,
Pamādo maccuno padaṃ;
Appamattā na mīyanti,
Ye pamattā yathā matā”
“Etaṃ visesato ñatvā,
Appamādamhi paṇḍitā;
Appamāde pamodanti,
Ariyānaṃ gocare ratā”
“Te jhāyino sātatikā,
Niccaṃ daḷhaparakkamā;
Phusanti dhīrā nibbānaṃ,
Yogakkhemaṃ anuttaranti”
“Chuyên cần là lộ trường tồn,
Buông lung là lộ đưa hồn âm cung.
Người cần chuyên sống vô cùng,
Kẻ buông lung sống, lâm chung khác nào.
Hiền nhân biết rõ thấp cao,
Cần chuyên thủ phận dám nào buông lung.
Cần chuyên ngày tháng thung dung,
An vui tự tại sánh cùng Thánh nhân,
Nhờ tu thiền định tinh cần,
Ngày đêm tinh tấn, trí nhân siêu phàm,
Chứng ngay vô thượng Níp Bàn,
Não phiền giũ sạch, tịnh an cõi lòng”
CHÚ GIẢI:
Appamādo: Sự chuyên cần, không buông lung. Trong câu kệ nầy, Đức Thế Tôn nêu rõ sự lợi ích lớn lao mà người tu tập chuyên cần hằng đạt được và một khi đạt được sự lợi ích lớn lao (tức là Níp Bàn) ấy rồi, hành giả hằng trú vững trong đó.
Quả thật dầu cho ai có dầy công học hết Phật ngôn trong toàn bộ Tam tạng, rồi đem ra thuyết giảng cũng không được sự lợi ích bằng người chuyên cần tu tập, bởi thế Đức Phật có dạy rằng: “Nầy các Tỳ khưu! Ví như ta đem dấu chân voi mà so sánh với bất cứ dấu chân nào khác của các giống thú rừng, thì ta thấy dấu chân voi bao giờ cũng to lớn vượt bật, lấn át tất cả các dấu khác.
Cũng như thế! Nầy các Tỳ khưu, nếu ta đem pháp chuyên cần mà so sánh với bất cứ những thiện pháp nào chẳng hạn thì bao giờ chuyên cần (appamādo) cũng có sự lợi ích to lớn vượt bật, lớn hơn những thiện pháp khác.
Người mà không xa lìa pháp ghi nhớ đến sự lợi ích ấy, có tâm thường trú trong chánh niệm, gọi là người chuyên cần vậy”.
Amataṃ padaṃ (Con đường bất tử): Đức Thế Tôn dùng danh từ bất tử (amataṃ) để ám chỉ Níp Bàn là cõi Vô sanh (Ajatatta) vì nơi đó không có sự sống, chết cho nên gọi là cõi bất tử. Con đường đưa đến cõi bất tử, con đường mà hành giả cần noi theo để đạt đến cõi bất tử. Đức Thế Tôn gọi là con đường bất tử (amataṃ padaṃ).
Pamādo (Giải đãi): Là sự lười biếng, sự phóng dật, sự buông lung dễ duôi, tiếng nầy chỉ trạng thái của người bỏ mất pháp ghi nhớ, thường hay quên, mà ta quen gọi là lãng trí (muṭṭhāsacca).
Maccuno padaṃ (Lộ suy vong): Maccu là cõi chết, chỗ tử vong, padaṃ là con đường lối đi, đạo lộ.
Quả nhiên giải đãi (Pamatto) không vượt qua khỏi biển luân hồi, chỉ lẩn quẩn trong vòng sanh tử, sanh ra để mà chết mãi vậy thôi.
Con đường đưa kẻ giải đãi đến chỗ suy vong gọi là lộ suy vong (maccuno padaṃ).
Appmattā (Những người chuyên cần): Tức là những người có chánh niệm, luôn luôn có đầy đủ pháp ghi nhớ đến điều lợi ích lớn lao.
Na mīyanti (Chẳng chết): Ta chẳng nên nghĩ tưởng là họ chẳng già, không chết vì thật ra chẳng có chúng sanh nào không già, không chết cả. Những người dễ duôi thì bất chấp thiện ác, hành động của họ vô giới hạn, họ không có lý tưởng chánh kiến, cho nên họ không thoát khỏi con đường sanh tử triền miên. Dầu họ đang còn sống thì cũng kể như họ đã chết rồi vậy. Còn những người chuyên cần, gia công nỗ lực, chứng đắc đạo quả một cách mau chóng, thì khỏi phải tái sanh kiếp thứ nhì thứ ba… Cho nên dầu họ đang còn sống hay là họ đã chết cũng đáng gọi là chẳng chết vậy.
Ye pamattā yathā matā (Những kẻ biếng như đã chết): Những chúng sanh nào lười biếng, giải đãi thì sống cũng như không, ta có thể xem họ như đã chết vì lười, cũng như xác chết vì đã đứt mạng căn, như khúc củi mục, không có tâm thức, nếu là người tại gia họ chẳng hề khi nào có ý nghĩ khắc kỷ lợi tha, chẳng hạn như: “Ta sẽ bố thí vợ con, ta sẽ thọ trì Ngũ giới giữ, Bát quan trai giới…”.
Nếu là người là xuất gia, họ chẳng hề phát tâm nhẫn nại, cầu tiến, chẳng hạn như: “Ta sẽ hầu hạ thầy tế độ, thầy tiếp dẫn, hoặc các Đại đức Cao Tăng, ta sẽ giữ hạnh Đầu đà, ta sẽ hành thiền…” Do các lý đã nêu, Đức Thế Tôn mới thuyết câu kệ ngôn trên đây vậy.
Etaṃ visesato ñatvā (Nhờ giác tri như thế): nghĩa là biết rõ rằng: Kẻ giải đãi không thể nào thoát khỏi vòng sanh tử, còn người chuyên cần thì chắc chắn là sẽ thoát khỏi biển luân hồi.
Appamādamhi paṇḍitā (Các bậc trí chẳng buông lung): Hiền nhân hay trí giả là những bậc thông minh trí tuệ, tự mình kềm lấy mình, đã không dám buông lung mà còn tinh cần thêm lên mãi mãi, các bậc ấy biết rõ hai con đường sanh và tử đã nêu trong hai câu kệ đầu (1 và 2).
Appamāde pamodanti (Mãi chuyên cần hoan hỷ): Là các bậc hiền trí biết rõ lý trên, hằng hoan hỷ vui thích thỏa mãn trong sự chuyên cần.
Ariyānaṃ gocare ratā (Cõi Thánh được thung dung): Các vị hoan hỷ trong sự chuyên cần, càng ngày càng tinh tấn thêm, ắt được hưởng sự an vui tịnh lạc, tự tại ung dung trong cảnh giới thiền định đạo quả của bậc Thánh nhân, gọi là cõi Thánh của hàng Thinh Văn đệ tử Phật Độc Giác và chư Chánh Đẳng Giác, gồm có bốn chỗ niệm, ba mươi bảy pháp trợ đạo và chín pháp siêu thế…
Te jhāyino (Người tu thiền định) chỉ các bậc hiền trí hằng tu tập theo hai pháp hành Thiền định (Samādhi) và Chỉ quán (Samātha vipassamā) để đắc thiền định và đạo quả, bằng cách định tâm trên đối tượng gọi là Bát thiền (aṭṭhasamāpatti) và pháp quan sát ba tướng (Vô thường, Khổ não, Phi ngã), gọi là Minh sát (vipassanā).
Sātatikā (Chuyên): Từ khi xuất gia về sau, hành giả cứ một mực tinh tấn, chuyên cần rèn luyện tâm mãi cho đến bao giờ chứng đạt A La Hán quả mới thôi.
Niccaṃ daḷhaparakkamā (Hằng tinh tấn dụng công): Pháp nào mà ta cần nên chứng đắc với sức mạnh với sự hăng hái với sự cố gắng của một người nam. Nếu chưa chứng đắc pháp ấy, ta nhất định chưa đình chỉ sự tinh tấn, nhờ quyết tâm như thế, bậc hiền trí không thối chuyển trên đường hành đạo và hằng tinh tấn nỗ lực, không bỏ dở sự công phu.
Phusanti (Chứng đạt): Trong Phật giáo có hai danh từ dùng để chỉ sự chứng đắc đạo quả là: Tuệ chứng (ñāṇaphusana) và Dị thục chứng (vipākaphusana).
Nói về bốn đạo (Cattāri magga) thì gọi là Tuệ chứng, nói về bốn quả là Dị thục chứng (cattāri phalāni: bốn quả). Nơi đây Đức Phật thuyết về Dị thục chứng.
Câu nói: “Các bậc trí tuệ (dhīrā) hằng làm cho thấu rõ Níp Bàn bằng Thánh quả (Ariyāphalena nibbānaṃ sacchikarontā) đồng nghĩa với câu do nơi Dị thục chứng (Vipākaphusanāya) của Thánh quả ấy mà các bậc hiền trí (dhīrā paṇḍitā) làm cho thấu rõ Níp Bàn.
Yogakkhemaṃ anuttaranti (Thoát phiền trược vô thượng): Yoga nơi đây chỉ cho bốn cái ách mà chúng sanh bị trói chặt vào, càng làm cho họ chìm đắm mãi trong biển sanh tử, là nguyên nhân của mọi phiền não nhiễm ô: Đó là dục ách (Kāmāyoga), hữu ách (Bhavayoga), kiến ách (Diṭṭhiyoga) và vô minh ách (avijjāyogo).
Khemaṃ là an toàn, tự tại, không còn lo sợ vì đã thoát khỏi bốn ách.
Anuttaraṃ là vô thượng vô song vì Níp Bàn là pháp cao thượng quí báu hơn tất cả các pháp thế gian (phàm) và siêu thế gian (Thánh).
Sau thời pháp của Đức Thế Tôn, có nhiều người đắc chứng Thánh quả, nhất là Tu Đà Hườn quả, kỳ dư đại chúng thính pháp đều hưởng được sự lợi ích.
Sanh tử hai đường, hệ ở đâu?
Mưu cao chi lắm họa càng sâu!
Khổ vui nhớ xét nhân tiền nghiệp,
Lành dữ chờ xem quả đáo đầu.
Trắng cỡ Ma Phi sao Phật gớm?
Đen như Ô Hậu lại vua cầu?
Ai người trí tuệ ham thinh sắc?
Thánh Đức miên trường, mặc bể dâu.
DỨT TÍCH HOÀNG HẬU SĀMĀVATĪ
Sāmāvatīvatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Appamādo amatapadanti imaṃ dhammadesanaṃ satthā kosambiṃ upanissāya ghositārāme viharanto sāmāvatippamukhānaṃ pañcannaṃ itthisatānaṃ, māgaṇḍiyappamukhānañca etissā pañcannaṃ ñātisatānaṃ maraṇabyasanaṃ ārabbha kathesi.
Tatrāyaṃ anupubbikathā – atīte allakapparaṭṭhe allakapparājā nāma, veṭhadīpakaraṭṭhe veṭhadīpakarājā nāmāti ime dve daharakālato paṭṭhāya sahāyakā hutvā ekācariyakule sippaṃ uggaṇhitvā attano attano pitūnaṃ accayena chattaṃ ussāpetvā āyāmena dasadasayojanike raṭṭhe rājāno ahesuṃ. Te kālena kālaṃ samāgantvā ekato tiṭṭhantā nisīdantā nipajjantā mahājanaṃ jāyamānañca jīyamānañca mīyamānañca disvā “paralokaṃ gacchantaṃ anugacchanto nāma natthi, antamaso attano sarīrampi nānugacchati, sabbaṃ pahāya gantabbaṃ, kiṃ no gharāvāsena, pabbajissāmā”ti mantetvā rajjāni puttadārānaṃ niyyādetvā isipabbajjaṃ pabbajitvā himavantappadese vasantā mantayiṃsu – “mayaṃ rajjaṃ pahāya pabbajitā, na jīvituṃ asakkontā. Te mayaṃ ekaṭṭhāne vasantā apabbajitasadisāyeva homa, tasmā visuṃ vasissāma. Tvaṃ etasmiṃ pabbate vasa, ahaṃ imasmiṃ pabbate vasissāmi. Anvaḍḍhamāsaṃ pana uposathadivase ekato bhavissāmā”ti. Atha kho nesaṃ etadahosi – “evampi no gaṇasaṅgaṇikāva bhavissati, tvaṃ pana tava pabbate aggiṃ jāleyyāsi, ahaṃ mama pabbate aggiṃ jālessāmi, tāya saññāya atthibhāvaṃ jānissāmā”ti. Te tathā kariṃsu.
Atha aparabhāge veṭhadīpakatāpaso kālaṃ katvā mahesakkho devarājā hutvā nibbatto. Tato aḍḍhamāse sampatte aggiṃ adisvāva itaro “sahāyako me kālakato”ti aññāsi. Itaropi nibbattakkhaṇeyeva attano devasiriṃ oloketvā kammaṃ upadhārento nikkhamanato paṭṭhāya attano tapacariyaṃ disvā “gantvā mama sahāyakaṃ passissāmī”ti taṃ attabhāvaṃ vijahitvā maggikapuriso viya tassa santikaṃ gantvā vanditvā ekamantaṃ aṭṭhāsi. Atha naṃ so āha – “kuto āgatosī”ti? “Maggikapuriso ahaṃ, bhante, dūratova āgatomhi. Kiṃ pana, bhante, ayyo imasmiṃ ṭhāne ekakova vasati, aññopi koci atthī”ti? “Atthi me eko sahāyako”ti. “Kuhiṃ so”ti? “Etasmiṃ pabbate vasati, uposathadivase pana aggiṃ na jāleti, mato nūna bhavissatī”ti. “Evaṃ, bhante”ti? “Evamāvuso”ti. “Ahaṃ so, bhante”ti. “Kuhiṃ nibbattosī”ti? “Devaloke mahesakkho devarājā hutvā nibbattosmi, bhante, ‘ayyaṃ passissāmī’ti puna āgatomhi. Api nu kho ayyānaṃ imasmiṃ ṭhāne vasantānaṃ koci upaddavo atthī”ti? “Āma, āvuso, hatthī nissāya kilamāmī”ti. “Kiṃ vo, bhante, hatthī karontī”ti? “Sammajjanaṭṭhāne laṇḍaṃ pātenti, pādehi bhūmiyaṃ paharitvā paṃsuṃ uddharanti, svāhaṃ laṇḍaṃ chaḍḍento paṃsuṃ samaṃ karonto kilamāmī”ti. “Kiṃ pana tesaṃ anāgamanaṃ icchathā”ti? “Āmāvuso”ti. “Tena hi tesaṃ anāgamanaṃ karissāmī”ti tāpasassa hatthikantavīṇañceva hatthikantamantañca adāsi. Dadanto ca pana vīṇāya tisso tantiyo dassetvā tayo mante uggaṇhāpetvā “imaṃ tantiṃ paharitvā imasmiṃ mante vutte nivattitvā oloketumpi asakkontā hatthī palāyanti, imaṃ tantiṃ paharitvā imasmiṃ mante vutte nivattitvā pacchato olokentā olokentā palāyanti, imaṃ tantiṃ paharitvā imasmiṃ mante vutte hatthiyūthapati piṭṭhiṃ upanāmento āgacchatī”ti ācikkhitvā, “yaṃ vo ruccati, taṃ kareyyāthā”ti vatvā tāpasaṃ vanditvā pakkāmi. Tāpaso palāyanamantaṃ vatvā palāyanatantiṃ paharitvā hatthī palāpetvā vasi.
Tasmiṃ samaye kosambiyaṃ pūrantappo nāma rājā hoti. So ekadivasaṃ gabbhiniyā deviyā saddhiṃ bālasūriyatapaṃ tappamāno abbhokāsatale nisīdi. Devī rañño pārupanaṃ satasahassagghanikaṃ rattakambalaṃ pārupitvā nisinnā raññā saddhiṃ samullapamānā rañño aṅgulito satasahassagghanikaṃ rājamuddikaṃ nīharitvā attano aṅguliyaṃ pilandhi. Tasmiṃ samaye hatthiliṅgasakuṇo ākāsena gacchanto dūrato rattakambalapārupanaṃ deviṃ disvā “maṃsapesī”ti saññāya pakkhe vissajjetvā otari. Rājā tassa otaraṇasaddena bhīto uṭṭhāya antonivesanaṃ pāvisi. Devī garugabbhatāya ceva bhīrukajātikatāya ca vegena gantuṃ nāsakkhi. Atha naṃ so sakuṇo ajjhappatto nakhapañjare nisīdāpetvā ākāsaṃ pakkhandi. Te kira sakuṇā pañcannaṃ hatthīnaṃ balaṃ dhārenti. Tasmā ākāsena netvā yathārucitaṭṭhāne nisīditvā maṃsaṃ khādanti. Sāpi tena nīyamānā maraṇabhayabhītā cintesi – “sacāhaṃ viravissāmi, manussasaddo nāma tiracchānagatānaṃ ubbejanīyo, taṃ sutvā maṃ chaḍḍessati. Evaṃ sante saha gabbhena jīvitakkhayaṃ pāpuṇissāmi, yasmiṃ pana ṭhāne nisīditvā maṃ khādituṃ ārabhissati, tatra naṃ saddaṃ katvā palāpessāmī”ti. Sā attano paṇḍitatāya adhivāsesi.
Tadā ca himavantapadese thokaṃ vaḍḍhitvā maṇḍapākārena ṭhito eko mahānigrodho hoti. So sakuṇo migarūpādīni tattha netvā khādati, tasmā tampi tattheva netvā viṭapabbhantare ṭhapetvā āgatamaggaṃ olokesi. Āgatamaggolokanaṃ kira tesaṃ dhammatā. Tasmiṃ khaṇe devī, “idāni imaṃ palāpetuṃ vaṭṭatī”ti cintetvā ubho hatthe ukkhipitvā pāṇisaddañceva mukhasaddañca katvā taṃ palāpesi. Athassā sūriyatthaṅgamanakāle gabbhe kammajavātā caliṃsu. Sabbadisāsu gajjanto mahāmegho uṭṭhahi. Sukhedhitāya rājamahesiyā “mā bhāyi, ayye”ti vacanamattampi alabhamānāya dukkhaparetāya sabbarattiṃ niddā nāma nāhosi. Vibhātāya pana rattiyā valāhakavigamo ca aruṇuggamanañca tassā gabbhavuṭṭhānañca ekakkhaṇeyeva ahosi. Sā meghautuñca pabbatautuñca aruṇautuñca gahetvā jātattā puttassa utenoti nāmaṃ akāsi.
Allakappatāpasassapi kho tato avidūre vasanaṭṭhānaṃ hoti. So pakatiyāva vassadivase sītabhayena phalāphalatthāya vanaṃ na pavisati, taṃ rukkhamūlaṃ gantvā sakuṇehi khāditamaṃsānaṃ aṭṭhiṃ āharitvā koṭṭetvā rasaṃ katvā pivati. Tasmā taṃ divasaṃ “aṭṭhiṃ āharissāmī”ti tattha gantvā rukkhamūle aṭṭhiṃ pariyesento upari dārakasaddaṃ sutvā ullokento deviṃ disvā “kāsi tva”nti vatvā “mānusitthimhī”ti. “Kathaṃ āgatāsī”ti? “Hatthiliṅgasakuṇenānītāmhī”ti vutte “otarāhī”ti āha. “Jātisambhedato bhāyāmi, ayyā”ti. “Kāsi tva”nti? “Khattiyāmhī”ti. “Ahampi khattiyoyevā”ti. “Tena hi khattiyamāyaṃ kathehī”ti. So khattiyamāyaṃ kathesi. “Tena hi āruyha puttaṃ me otārehī”ti. So ekena passena abhiruhanamaggaṃ katvā abhiruhitvā dārakaṃ gaṇhi. “Mā maṃ hatthena chupī”ti ca vutte taṃ achupitvāva dārakaṃ otāresi. Devīpi otari. Atha naṃ assamapadaṃ netvā sīlabhedaṃ akatvāva anukampāya paṭijaggi, nimmakkhikamadhuṃ āharitvā sayaṃjātasāliṃ āharitvā yāguṃ pacitvā adāsi. Evaṃ tasmiṃ paṭijaggante sā aparabhāge cintesi – “ahaṃ neva āgatamaggaṃ jānāmi, na gamanamaggaṃ jānāmi, imināpi me saddhiṃ vissāsamattampi natthi. Sace panāyaṃ amhe pahāya katthaci gamissati, ubhopi idheva maraṇaṃ pāpuṇissāma, yaṃkiñci katvā imassa sīlaṃ bhinditvā yathā maṃ na muñcati, tathā taṃ kātuṃ vaṭṭatī”ti. Atha naṃ dunnivatthaduppārutadassanena palobhetvā sīlavināsaṃ pāpesi. Tato paṭṭhāya dvepi samaggavāsaṃ vasiṃsu.
Athekadivasaṃ tāpaso nakkhattayogaṃ ullokento pūrantappassa nakkhattamilāyanaṃ disvā “bhadde kosambiyaṃ pūrantapparājā mato”ti āha. “Kasmā, ayya, evaṃ vadesi? Kiṃ te tena saddhiṃ āghāto atthī”ti? “Natthi, bhadde, nakkhattamilāyanamassa disvā evaṃ vadāmī”ti, sā parodi. Atha naṃ “kasmā rodasī”ti pucchitvā tāya tassa attano sāmikabhāve akkhāte āha – “mā, bhadde, rodi, jātassa nāma niyato maccū”ti. “Jānāmi, ayyā”ti vutte “atha kasmā rodasī”ti? “Putto me kulasantakassa rajjassa anucchaviko, ‘sace tatra abhavissa, setacchattaṃ ussāpayissa. Idāni mahājāniko vata jāto’ti sokena rodāmi, ayyā”ti. “Hotu, bhadde, mā cintayi, sacassa rajjaṃ patthesi, ahamassa rajjalabhanākāraṃ karissāmī”ti. Athassa hatthikantavīṇañceva hatthikantamante ca adāsi. Tadā anekāni hatthisahassāni āgantvā vaṭarukkhamūle nisīdanti. Atha naṃ āha – “hatthīsu anāgatesuyeva rukkhaṃ abhiruhitvā tesu āgatesu imaṃ mantaṃ vatvā imaṃ tantiṃ pahara, sabbe nivattitvā oloketumpi asakkontā palāyissanti, atha otaritvā āgaccheyyāsī”ti. So tathā katvā āgantvā taṃ pavattiṃ ārocesi. Atha naṃ dutiyadivase āha – “ajja imaṃ mantaṃ vatvā imaṃ tantiṃ pahareyyāsi, sabbe nivattitvā olokentā palāyissantī”ti. Tadāpi tathā katvā āgantvā ārocesi. Atha naṃ tatiyadivase āha – “ajja imaṃ mantaṃ vatvā imaṃ tantiṃ pahareyyāsi, yūthapati piṭṭhiṃ upanāmento āgamissatī”ti. Tadāpi tathā katvā ārocesi.
Athassa mātaraṃ āmantetvā, “bhadde, puttassa te sāsanaṃ vadehi, ettova gantvā rājā bhavissatī”ti āha. Sā puttaṃ āmantetvā, “tāta, tvaṃ kosambiyaṃ pūrantapparañño putto, maṃ sagabbhaṃ hatthiliṅgasakuṇo ānesī”ti vatvā senāpatiādīnaṃ nāmāni ācikkhitvā “asaddahantānaṃ imaṃ pitu pārupanakambalañceva pilandhanamuddikañca dasseyyāsī”ti vatvā uyyojesi. Kumāro tāpasaṃ “idāni kiṃ karomī”ti āha. “Rukkhassa heṭṭhimasākhāya nisīditvā imaṃ mantaṃ vatvā imaṃ tantiṃ pahara, jeṭṭhakahatthī te piṭṭhiṃ upanāpetvā upasaṅkamissati, tassa piṭṭhiyaṃ nisinnova raṭṭhaṃ gantvā rajjaṃ gaṇhāhī”ti. So mātāpitaro vanditvā tathā katvā āgatassa hatthino piṭṭhiyaṃ nisīditvā kaṇṇe mantayi – “ahaṃ kosambiyaṃ pūrantapparañño putto, pettikaṃ me rajjaṃ gaṇhitvā dehi sāmī”ti. So taṃ sutvā “anekāni hatthisahassāni sannipatantū”ti hatthiravaṃ ravi, anekāni hatthisahassāni sannipatiṃsu. Puna “jiṇṇā hatthī paṭikkamantū”ti hatthiravaṃ ravi, jiṇṇā hatthī paṭikkamiṃsu. Puna “atitaruṇā hatthī nivattantū”ti hatthiravaṃ ravi, tepi nivattiṃsu. So anekehi yūthahatthisahasseheva parivuto paccantagāmaṃ patvā “ahaṃ rañño putto, sampattiṃ patthayamānā mayā saddhiṃ āgacchantū”ti āha. “Tato paṭṭhāya manussānaṃ saṅgahaṃ karonto gantvā nagaraṃ parivāretvā ‘yuddhaṃ vā me detu, rajjaṃ vā”’ti sāsanaṃ pesesi. Nāgarā āhaṃsu – “mayaṃ dvepi na dassāma. Amhākañhi devī garugabbhā hatthiliṅgasakuṇena nītā, tassā atthibhāvaṃ vā natthibhāvaṃ vā mayaṃ na jānāma. Yāva tassā pavattiṃ na suṇāma. Tāva neva yuddhaṃ dassāma, na rajja”nti. Tadā kira taṃ paveṇirajjaṃ ahosi. Tato kumāro “ahaṃ tassā putto”ti vatvā senāpatiādīnaṃ nāmāni kathetvā tathāpi asaddahantānaṃ kambalañca muddikañca dassesi. Te kambalañca muddikañca sañjānitvā nikkaṅkhā hutvā dvāraṃ vivaritvā taṃ rajje abhisiñciṃsu. Ayaṃ tāva utenassa uppatti.
Allakapparaṭṭhe pana dubbhikkhe jīvituṃ asakkonto eko kotuhaliko nāma manusso kāpiṃ nāma taruṇaputtañca kāḷiṃ nāma bhariyañca ādāya “kosambiṃ gantvā jīvissāmī”ti pātheyyaṃ gahetvā nikkhami. “Ahivātarogena mahājane marante disvā nikkhamī”tipi vadantiyeva. Te gacchantā pātheyye parikkhīṇe khudābhibhūtā dārakaṃ vahituṃ nāsakkhiṃsu. Atha sāmiko pajāpatiṃ āha – “bhadde, mayaṃ jīvantā puna puttaṃ labhissāma, chaḍḍetvā naṃ gacchāmā”ti. Mātu hadayaṃ nāma mudukaṃ hoti. Tasmā sā āha – “nāhaṃ jīvantameva puttaṃ chaḍḍetuṃ sakkhissāmī”ti. “Atha kiṃ karomā”ti? “Vārena naṃ vahāmā”ti. Mātā attano vāre pupphadāmaṃ viya naṃ ukkhipitvā ure nipajjāpetvā aṅkena vahitvā pituno deti. Tassa taṃ gahetvā gamanakāle chātakatopi balavatarā vedanā uppajji. So punappunaṃ āha – “bhadde, mayaṃ jīvantā puttaṃ labhissāma, chaḍḍema na”nti. Sāpi punappunaṃ paṭikkhipitvā paṭivacanaṃ nādāsi. Dārako vārena parivattiyamāno kilanto pitu hatthe niddāyi. So tassa niddāyanabhāvaṃ ñatvā mātaraṃ purato katvā ekassa gacchassa heṭṭhā paṇṇasanthare taṃ nipajjāpetvā pāyāsi. Mātā nivattitvā olokentī puttaṃ adisvā, “sāmi, kuhiṃ me putto”ti pucchi. “Ekassa me gacchassa heṭṭhā nipajjāpito”ti. “Sāmi, mā maṃ nāsayi, puttaṃ vinā jīvituṃ na sakkhissāmi, ānehi me putta”nti uraṃ paharitvā paridevi. Atha naṃ nivattitvā ānesi. Puttopi antarāmagge mato hoti. Iti so ettake ṭhāne puttaṃ chaḍḍetvā tassa nissandena bhavantare satta vāre chaḍḍito. “Pāpakammaṃ nāmetaṃ appaka”nti na avamaññitabbaṃ.
Te gacchantā ekaṃ gopālakulaṃ pāpuṇiṃsu. Taṃ divasañca gopālakassa dhenumaṅgalaṃ hoti. Gopālakassa gehe nibaddhaṃ eko paccekabuddho bhuñjati. So taṃ bhojetvā maṅgalamakāsi. Bahu pāyāso paṭiyatto hoti. Gopālako te āgate disvā, “kuto āgatatthā”ti pucchitvā sabbaṃ pavattiṃ sutvā mudujātiko kulaputto tesu anukampaṃ katvā bahukena sappinā pāyāsaṃ dāpesi. Bhariyā “sāmi, tayi jīvante ahampi jīvāmi nāma, dīgharattaṃ ūnodarosi, yāvadatthaṃ bhuñjāhī”ti sappiñca dadhiñca tadabhimukhaññeva katvā attanā mandasappinā thokameva bhuñji. Itaro bahuṃ bhuñjitvā sattaṭṭhadivase chātatāya āhārataṇhaṃ chindituṃ nāsakkhi. Gopālako tesaṃ pāyāsaṃ dāpetvā sayaṃ bhuñjituṃ ārabhi. Kotuhaliko taṃ olokento nisīditvā heṭṭhāpīṭhe nipannāya sunakhiyā gopālakena vaḍḍhetvā diyyamānaṃ pāyāsapiṇḍaṃ disvā “puññā vatāyaṃ sunakhī, nibaddhaṃ evarūpaṃ bhojanaṃ labhatī”ti cintesi. So rattibhāge taṃ pāyāsaṃ jīrāpetuṃ asakkonto kālaṃ katvā tassā sunakhiyā kucchimhi nibbatti.
Athassa bhariyā sarīrakiccaṃ katvā tasmiṃyeva gehe bhatiṃ katvā taṇḍulanāḷiṃ labhitvā pacitvā paccekabuddhassa patte patiṭṭhāpetvā, “dāsassa vo pāpuṇātū”ti vatvā cintesi – “mayā idheva vasituṃ vaṭṭati, nibaddhaṃ, ayyo, idhāgacchati, deyyadhammo hotu vā, mā vā, devasikaṃ vandantī veyyāvaccaṃ karontī cittaṃ pasādentī bahuṃ puññaṃ pasavissāmī”ti. Sā tattheva bhatiṃ karontī vasi. Sāpi sunakhī chaṭṭhe vā sattame vā māse ekameva kukkuraṃ vijāyi. Gopālako tassa ekadhenuyā khīraṃ dāpesi. So na cirasseva vaḍḍhi. Athassa paccekabuddho bhuñjanto nibaddhaṃ ekaṃ bhattapiṇḍaṃ deti. So bhattapiṇḍaṃ nissāya paccekabuddhe sinehamakāsi. Gopālakopi nibaddhaṃ dve vāre paccekabuddhassupaṭṭhānaṃ yāti. Gacchantopi antarāmagge vāḷamigaṭṭhāne daṇḍena gacche ca bhūmiñca paharitvā “susū”ti tikkhattuṃ saddaṃ katvā vāḷamige palāpeti. Sunakhopi tena saddhiṃ gacchati.
So ekadivasaṃ paccekabuddhaṃ āha – “bhante, yadā me okāso na bhavissati, tadā imaṃ sunakhaṃ pesessāmi, tena saññāṇena āgaccheyyāthā”ti. Tato paṭṭhāya anokāsadivase, “gaccha, tāta, ayyaṃ ānehī”ti sunakhaṃ pesesi. So ekavacaneneva pakkhanditvā sāmikassa gacchapothanabhūmipothanaṭṭhāne tikkhattuṃ bhussitvā tena saddena vāḷamigānaṃ palātabhāvaṃ ñatvā pātova sarīrapaṭijagganaṃ katvā paṇṇasālaṃ pavisitvā nisinnassa paccekabuddhassa vasanaṭṭhānaṃ gantvā paṇṇasāladvāre tikkhattuṃ bhussitvā attano āgatabhāvaṃ jānāpetvā ekamante nipajjati, paccekabuddhe velaṃ sallakkhetvā nikkhante bhussanto purato gacchati. Antarantarā paccekabuddho taṃ vīmaṃsanto aññaṃ maggaṃ paṭipajjati. Athassa purato tiriyaṃ ṭhatvā bhussitvā itaramaggameva naṃ āropeti. Athekadivasaṃ aññaṃ maggaṃ paṭipajjitvā tena purato tiriyaṃ ṭhatvā vāriyamānopi anivattitvā sunakhaṃ pādena paharitvā pāyāsi. Sunakho tassa anivattanabhāvaṃ ñatvā nivāsanakaṇṇe ḍaṃsitvā ākaḍḍhanto itaramaggameva naṃ āropesi. Evaṃ so tasmiṃ balavasinehaṃ uppādesi.
Tato aparabhāge paccekabuddhassa cīvaraṃ jīri. Athassa gopālako cīvaravatthāni adāsi. Tamenaṃ paccekabuddho āha – “āvuso, cīvaraṃ nāma ekakena kātuṃ dukkaraṃ, phāsukaṭṭhānaṃ gantvā kāressāmī”ti. “Idheva, bhante, karothā”ti. “Na sakkā, āvuso”ti. “Tena hi, bhante, mā ciraṃ bahi vasitthā”ti. Sunakho tesaṃ kathaṃ suṇantova aṭṭhāsi, paccekabuddhopi “tiṭṭha, upāsakā”ti gopālakaṃ nivattāpetvā vehāsaṃ abbhuggantvā gandhamādanābhimukho pāyāsi. Sunakhassa taṃ ākāsena gacchantaṃ disvā bhukkaritvā ṭhitassa tasmiṃ cakkhupathaṃ vijahante hadayaṃ phalitvā mato. Tiracchānā kira nāmete ujujātikā honti akuṭilā. Manussā pana aññaṃ hadayena cintenti, aññaṃ mukhena kathenti. Tenevāha – “gahanañhetaṃ, bhante, yadidaṃ manussā, uttānakañhetaṃ, bhante, yadidaṃ pasavo”ti (ma. ni. 2.3).
Iti so tāya ujucittatāya akuṭilatāya kālaṃ katvā tāvatiṃsabhavane nibbatto accharāsahassaparivuto mahāsampattiṃ anubhosi. Tassa kaṇṇamūle mantayantassa saddo soḷasayojanaṭṭhānaṃ pharati, pakatikathāsaddo pana sakalaṃ dasayojanasahassaṃ devanagaraṃ chādeti. Tenevassa “ghosakadevaputto”ti nāmaṃ ahosi. “Kissa panesa nissando”ti. Paccekabuddhe pemena bhukkaraṇassa nissando. So tattha na ciraṃ ṭhatvā cavi. Devalokato hi devaputtā āyukkhayena puññakkhayena āhārakkhayena kopenāti catūhi kāraṇehi cavanti.
Tattha yena bahuṃ puññakammaṃ kataṃ hoti, so devaloke uppajjitvā yāvatāyukaṃ ṭhatvā uparūpari nibbattati. Evaṃ āyukkhayena cavati nāma. Yena parittaṃ puññaṃ kataṃ hoti, tassa rājakoṭṭhāgāre pakkhittaṃ ticatunāḷimattaṃ dhaññaṃ viya antarāva taṃ puññaṃkhīyati, antarāva kālaṃ karoti. Evaṃ puññakkhayena cavati nāma. Aparopi kāmaguṇe paribhuñjamāno satisammosena āhāraṃ aparibhuñjitvā kilantakāyo kālaṃ karoti. Evaṃ āhārakkhayena cavati nāma. Aparopi parassa sampattiṃ asahanto kujjhitvā kālaṃ karoti. Evaṃ kopena cavati nāma.
Ayaṃ pana kāmaguṇe paribhuñjanto muṭṭhassati hutvā āhārakkhayena cavi, cavitvā ca pana kosambiyaṃ nagarasobhiniyā kucchimhi paṭisandhiṃ gaṇhi. Sāpi jātadivase “kiṃ eta”nti dāsiṃ pucchitvā, “putto, ayye”ti vutte – “handa, je, imaṃ dārakaṃ kattarasuppe āropetvā saṅkārakūṭe chaḍḍehī”ti chaḍḍāpesi. Nagarasobhiniyo hi dhītaraṃ paṭijagganti, na puttaṃ. Dhītarā hi tāsaṃ paveṇī ghaṭīyati. Dārakaṃ kākāpi sunakhāpi parivāretvā nisīdiṃsu. Paccekabuddhe sinehappabhavassa bhukkaraṇassa nissandena ekopi upagantuṃ na visahi. Tasmiṃ khaṇe eko manusso bahi nikkhanto taṃ kākasunakhasannipātaṃ disvā, “kiṃ nu kho eta”nti gantvā dārakaṃ disvā puttasinehaṃ paṭilabhitvā “putto me laddho”ti gehaṃ nesi. Tadā kosambakaseṭṭhi rājakulaṃ gacchanto rājanivesanato āgacchantaṃ purohitaṃ disvā, “kiṃ, ācariya, ajja te tithikaraṇanakkhattayogo olokito”ti pucchi. “Āma, mahāseṭṭhi, amhākaṃ kiṃ aññaṃ kiccanti? Janapadassa kiṃ bhavissatī”ti? “Aññaṃ natthi, imasmiṃ pana nagare ajja jātadārako jeṭṭhakaseṭṭhi bhavissatī”ti. Tadā seṭṭhino bhariyā garugabbhā hoti. Tasmā so sīghaṃ gehaṃ purisaṃ pesesi – “gaccha bhaṇe, jānāhi naṃ vijātā vā, no vā”ti. “Na vijāyatī”ti sutvā rājānaṃ disvāva vegena gehaṃ gantvā kāḷiṃ nāma dāsiṃ pakkositvā sahassaṃ datvā, “gaccha je, imasmiṃ nagare upadhāretvā sahassaṃ datvā ajja jātadārakaṃ gaṇhitvā ehī”ti. Sā upadhārentī taṃ gehaṃ gantvā dārakaṃ disvā, “ayaṃ dārako kadā jāto”ti gahapatāniṃ pucchitvā “ajja jāto”ti vutte, “imaṃ mayhaṃ dehī”ti ekakahāpaṇaṃ ādiṃ katvā mūlaṃ vaḍḍhentī sahassaṃ datvā taṃ ānetvā seṭṭhino dassesi. Seṭṭhi “sace me dhītā vijāyissati, tāya naṃ saddhiṃ nivesetvā seṭṭhiṭṭhānassa sāmikaṃ karissāmi. Sace me putto vijāyissati, māressāmi na”nti cintetvā taṃ gehe kāresi.
Athassa bhariyā katipāhaccayena puttaṃ vijāyi. Seṭṭhi “imasmiṃ asati mama puttova seṭṭhiṭṭhānaṃ labhissati, idāneva taṃ māretuṃ vaṭṭatī”ti cintetvā kāḷiṃ āmantetvā, “gaccha, je, vajato gunnaṃ nikkhamanavelāya vajadvāramajjhe imaṃ tiriyaṃ nipajjāpehi, gāviyo naṃ madditvā māressanti, madditāmadditabhāvaṃ panassa ñatvā ehī”ti āha. Sā gantvā gopālakena vajadvāre vivaṭamatteyeva taṃ tathā nipajjāpesi. Gogaṇajeṭṭhako usabho aññasmiṃ kāle sabbapacchā nikkhamantopi taṃ divasaṃ sabbapaṭhamaṃ nikkhamitvā dārakaṃ catunnaṃ pādānaṃ antare katvā aṭṭhāsi. Anekasatagāviyo usabhassa dve passāni ghaṃsantiyo nikkhamiṃsu. Gopālakopi “ayaṃ usabho pubbe sabbapacchā nikkhamati, ajja pana sabbapaṭhamaṃ nikkhamitvā vajadvāramajjhe niccalova ṭhito, kiṃ nu kho eta”nti cintetvā gantvā tassa heṭṭhā nipannaṃ dārakaṃ disvā puttasinehaṃ paṭilabhitvā, “putto me laddho”ti gehaṃ nesi.
Kāḷī gantvā seṭṭhinā pucchitā tamatthaṃ ārocetvā, “gaccha, naṃ puna sahassaṃ datvā ānehī”ti vuttā sahassaṃ datvā puna ānetvā adāsi. Atha naṃ āha – “amma, kāḷi imasmiṃ nagare pañca sakaṭasatāni paccūsakāle uṭṭhāya vāṇijjāya gacchanti, tvaṃ imaṃ netvā cakkamagge nipajjāpehi, goṇā vā naṃ maddissanti, cakkā vā chindissanti, pavattiṃ cassa ñatvāva āgaccheyyāsī”ti. Sā taṃ netvā cakkamagge nipajjāpesi. Tadā sākaṭikajeṭṭhako purato ahosi. Athassa goṇā taṃ ṭhānaṃ patvā dhuraṃ chaḍḍesuṃ, punappunaṃ āropetvā pājiyamānāpi purato na gacchiṃsu. Evaṃ tassa tehi saddhiṃ vāyamantasseva aruṇaṃ uṭṭhahi. So “kiṃ nāmetaṃ goṇā kariṃsū”ti maggaṃ olokento dārakaṃ disvā, “bhāriyaṃ vata me kamma”nti cintetvā, “putto me laddho”ti tuṭṭhamānaso taṃ gehaṃ nesi.
Kāḷī gantvā seṭṭhinā pucchitā taṃ pavattiṃ ācikkhitvā, “gaccha, naṃ puna sahassaṃ datvā ānehī”ti vuttā tathā akāsi. Atha naṃ so āha – “idāni naṃ āmakasusānaṃ netvā gacchantare nipajjāpehi, tattha sunakhādīhi vā khādito, amanussehi vā pahaṭo marissati, mātāmatabhāvañcassa jānitvāva āgaccheyyāsī”ti. Sā taṃ netvā tattha nipajjāpetvā ekamante aṭṭhāsi. Taṃ sunakho vā kāko vā amanusso vā upasaṅkamituṃ nāsakkhi. “Nanu cassa neva mātā na pitā na bhātikādīsu koci rakkhitā nāma atthi, ko taṃ rakkhatī”ti? Sunakhakāle paccekabuddhe sinehena pavattitabhukkaraṇamattameva taṃ rakkhati. Atheko ajapālako anekasahassā ajā gocaraṃ nento susānapassena gacchati. Ekā ajā paṇṇāni khādamānā gacchantaraṃ paviṭṭhā dārakaṃ disvā jaṇṇukehi ṭhatvā dārakassa thanaṃ adāsi, ajapālakena “he he”ti sadde katepi na nikkhami. So “yaṭṭhiyā naṃ paharitvā nīharissāmī”ti gacchantaraṃ paviṭṭho jaṇṇukehi ṭhatvā dārakaṃ khīraṃ pāyantiṃ ajiṃ disvā dārake puttasinehaṃ paṭilabhitvā, “putto me laddho”ti ādāya pakkāmi.
Kāḷī gantvā seṭṭhinā pucchitā taṃ pavattiṃ ācikkhitvā, “gaccha, taṃ puna sahassaṃ datvā ānehī”ti vuttā tathā akāsi. Atha naṃ āha – “amma kāḷi, imaṃ ādāya corapapātapabbataṃ abhiruhitvā papāte khipa, pabbatakucchiyaṃ paṭihaññamāno khaṇḍākhaṇḍiko hutvā bhūmiyaṃ patissati, matāmatabhāvañcassa ñatvāva āgaccheyyāsī”ti. Sā taṃ tattha netvā pabbatamatthake ṭhatvā khipi. Taṃ kho pana pabbatakucchiṃ nissāya mahāveḷugumbo pabbatānusāreneva vaḍḍhi, tassa matthakaṃ ghanajāto jiñjukagumbo avatthari. Dārako patanto kojavake viya tasmiṃ pati. Taṃ divasañca naḷakārajeṭṭhakassa veḷubali patto hoti. So puttena saddhiṃ gantvā taṃ veḷugumbaṃ chindituṃ ārabhi. Tasmiṃ calante dārako saddamakāsi. So “dārakasaddo viyā”ti ekena passena abhiruhitvā taṃ disvā, “putto me laddho”ti tuṭṭhacitto ādāya gato.
Kāḷī seṭṭhissa santikaṃ gantvā tena pucchitā taṃ pavattiṃ ācikkhitvā, “gaccha, naṃ puna sahassaṃ datvā ānehī”ti vuttā tathā akāsi. Seṭṭhino idañcidañca karontasseva dārako vaḍḍhito “ghosako”tvevassa nāmaṃ ahosi. So seṭṭhino akkhimhi kaṇṭako viya khāyi, ujukaṃ taṃ oloketumpi na visati. Athassa māraṇūpāyaṃ cintento attano sahāyakassa kumbhakārassa santikaṃ gantvā, “kadā tvaṃ āvāpaṃ ālimpessasī”ti pucchitvā – “sve”ti vutte, “tena hi idaṃ sahassaṃ gahetvā mama ekaṃ kammaṃ karohī”ti āha. “Kiṃ, sāmī”ti? “Eko me avajātaputto atthi, taṃ tava santikaṃ pesessāmi, atha naṃ gahetvā gabbhaṃ pavesetvā tikhiṇāya vāsiyā khaṇḍākhaṇḍikaṃ chinditvā cāṭiyaṃ pakkhipitvā āvāpe paceyyāsi, idaṃ te sahassaṃ saccakārasadisaṃ. Uttariṃ pana te kattabbayuttakaṃ pacchā karissāmī”ti. Kumbhakāro “sādhū”ti sampaṭicchi. Seṭṭhi punadivase ghosakaṃ pakkositvā, “hiyyo mayā kumbhakāro ekaṃ kammaṃ āṇatto, ehi, tvaṃ tassa santikaṃ gantvā evaṃ vadehi – ‘hiyyo kira me pitarā āṇattaṃ kammaṃ nipphādehī”’ti pahiṇi. So “sādhū”ti agamāsi. Taṃ tattha gacchantaṃ itaro seṭṭhino putto dārakehi saddhiṃ guḷaṃ kīḷanto disvā taṃ pakkositvā, “kuhiṃ gacchasi bhātikā”ti pucchitvā “pitu sāsanaṃ gahetvā kumbhakārassa santika”nti vutte “ahaṃ tattha gamissāmi. Ime maṃ dārakā bahuṃ lakkhaṃ jiniṃsu, taṃ me paṭijinitvā dehī”ti āha. “Ahaṃ pitu bhāyāmī”ti. “Mā bhāyi, bhātika, ahaṃ taṃ sāsanaṃ harissāmi. Bahūhi jito, yāvāhaṃ āgacchāmi, tāva me lakkhaṃ paṭijinā”ti.
Ghosako kira guḷakīḷāya cheko, tena naṃ evaṃ nibandhi. Sopi taṃ “tena hi gantvā kumbhakāraṃ vadehi – ‘pitarā kira me hiyyo ekaṃ kammaṃ āṇattaṃ, taṃ nipphādehī”’ti vatvā uyyojesi. So tassa santikaṃ gantvā tathā avaca. Atha naṃ kumbhakāro seṭṭhinā vuttaniyāmeneva māretvā āvāpe khipi. Ghosakopi divasabhāgaṃ kīḷitvā sāyanhasamaye gehaṃ gantvā “kiṃ, tāta, na gatosī”ti vutte attano agatakāraṇañca kaniṭṭhassa gatakāraṇañca ārocesi. Taṃ sutvā seṭṭhi “ahaṃ dhī”ti mahāviravaṃ viravitvā sakalasarīre pakkuthitalohito viya hutvā, “ambho, kumbhakāra, mā maṃ nāsayi, mā maṃ nāsayī”ti bāhā paggayha kandanto tassa santikaṃ agamāsi. Kumbhakāro taṃ tathā āgacchantaṃ disvā, “sāmi, mā saddaṃ kari, kammaṃ te nipphanna”nti āha. So pabbatena viya mahantena sokena avatthaṭo hutvā anappakaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedesi. Yathā taṃ appaduṭṭhassa padussamāno. Tenāha bhagavā –
“Yo daṇḍena adaṇḍesu, appaduṭṭhesu dussati;
Dasannamaññataraṃ ṭhānaṃ, khippameva nigacchati.
“Vedanaṃ pharusaṃ jāniṃ, sarīrassa ca bhedanaṃ;
Garukaṃ vāpi ābādhaṃ, cittakkhepañca pāpuṇe.
“Rājato vā upasaggaṃ, abbhakkhānañca dāruṇaṃ;
Parikkhayañca ñātīnaṃ, bhogānañca pabhaṅguraṃ.
“Atha vāssa agārāni, aggi ḍahati pāvako;
Kāyassa bhedā duppañño, nirayaṃ sopapajjatī”ti. (dha. pa. 137-140);
Evaṃ santepi puna naṃ seṭṭhi ujukaṃ oloketuṃ na sakkoti. “Kinti naṃ māreyya”nti cintento, “mama gāmasate āyuttakassa santikaṃ pesetvā māressāmī”ti upāyaṃ disvā, “ayaṃ me avajātaputto, imaṃ māretvā vaccakūpe khipatu, evaṃ kate ahaṃ mātulassa kattabbayuttakaṃ pacchā jānissāmī”ti tassa paṇṇaṃ likhitvā, “tāta ghosaka, amhākaṃ gāmasate āyuttako atthi, imaṃ paṇṇaṃ haritvā tassa dehī”ti vatvā paṇṇaṃ tassa dussante bandhi. So pana akkharasamayaṃ na jānāti. Daharakālato paṭṭhāya hi naṃ mārāpentova seṭṭhi māretuṃ nāsakkhi, kiṃ akkharasamayaṃ sikkhāpessati? Iti so attano mārāpanapaṇṇameva dussante bandhitvā nikkhamanto āha – “pātheyyaṃ me, tāta, natthī”ti. “Pātheyyena te kammaṃ natthi, antarāmagge ‘asukagāme nāma mamasahāyako seṭṭhi atthi, tassa ghare pātarāsaṃ katvā purato gacchāhī”’ti. So “sādhū”ti pitaraṃ vanditvā nikkhanto taṃ gāmaṃ patvā seṭṭhissa gharaṃ pucchitvā gantvā seṭṭhijāyaṃ passi. “Tvaṃ kuto āgatosī”ti ca vutte, “antonagarato”ti āha. “Kassa puttosī”ti? “Tumhākaṃ sahāyakaseṭṭhino, ammā”ti. “Tvaṃsi ghosako nāmā”ti? “Āma, ammā”ti. Tassā saha dassaneneva tasmiṃ puttasineho uppajji. Seṭṭhino panekā dhītā atthi pannarasasoḷasavassuddesikā abhirūpā pāsādikā, taṃ rakkhituṃ ekameva pesanakārikaṃ dāsiṃ datvā sattabhūmikassa pāsādassa uparimatale sirigabbhe vasāpenti. Seṭṭhidhītā tasmiṃ khaṇe taṃ dāsiṃ antarāpaṇaṃ pesesi. Atha naṃ seṭṭhijāyā disvā, “kuhiṃ gacchasī”ti pucchitvā, “ayyadhītāya pesanenā”ti vutte “ito tāva ehi, tiṭṭhatu pesanaṃ, puttassa me pīṭhakaṃ attharitvā pāde dhovitvā telaṃ makkhitvā sayanaṃ attharitvā dehi, pacchā pesanaṃ karissasī”ti āha. Sā tathā akāsi.
Atha naṃ cirenāgataṃ seṭṭhidhītā santajjesi. Atha naṃ sā āha – “mā me kujjhi, seṭṭhiputto ghosako āgato, tassa idañcidañca katvā tattha gantvā āgatāmhī”ti. Seṭṭhidhītāya “seṭṭhiputto ghosako”ti nāmaṃ sutvāva pemaṃ chaviyādīni chinditvā aṭṭhimiñjaṃ āhacca ṭhitaṃ. Kotuhalakālasmiñhi sā tassa pajāpatī hutvā nāḷikodanaṃ paccekabuddhassa adāsi, tassānubhāvenāgantvā imasmiṃ seṭṭhikule nibbattā. Iti taṃ so pubbasineho avattharitvā gaṇhi. Tenāha bhagavā –
“Pubbeva sannivāsena, paccuppannahitena vā;
Evaṃ taṃ jāyate pemaṃ, uppalaṃva yathodake”ti. (jā. 1.2.174);
Atha naṃ pucchi – “kuhiṃ so, ammā”ti? “Sayane nipanno niddāyatī”ti. “Atthi panassa hatthe kiñcī”ti? “Dussante paṇṇaṃ atthī”ti. Sā “kiṃ paṇṇaṃ nu kho eta”nti tasmiṃ niddāyante mātāpitūnaṃ aññavihitatāya apassantānaṃ otaritvā samīpaṃ gantvā taṃ paṇṇaṃ mocetvā ādāya attano gabbhaṃ pavisitvā dvāraṃ pidhāya vātapānaṃ vivaritvā akkharasamaye kusalatāya paṇṇaṃ vācetvā, “aho vata bālo, attano maraṇapaṇṇaṃ dussante bandhitvā vicarati, sace mayā na diṭṭhaṃ assa, natthissa jīvita”nti taṃ paṇṇaṃ phāletvā seṭṭhissa vacanena aparaṃ paṇṇaṃ likhi – “ayaṃ mama putto ghosako nāma, gāmasatato paṇṇākāraṃ āharāpetvā imassa janapadaseṭṭhino dhītarā saddhiṃ maṅgalaṃ katvā attano vasanagāmassa majjhe dvibhūmakaṃ gehaṃ kāretvā pākāraparikkhepena ceva purisaguttiyā ca susaṃvihitārakkhaṃ karotu, mayhañca ‘idañcidañca mayā kata’nti sāsanaṃ pesetu, evaṃ kate ahaṃ mātulassa kattabbayuttakaṃ pacchā jānissāmī”ti, likhitvā ca pana saṅgharitvā otaritvā dussanteyevassa bandhi.
So divasabhāgaṃ niddāyitvā uṭṭhāya bhuñjitvā pakkāmi. Punadivase pātova taṃ gāmaṃ gantvā āyuttakaṃ gāmakiccaṃ karontaṃyeva passi. So taṃ disvā, “kiṃ, tātā”ti pucchi. “Pitarā me tumhākaṃ paṇṇaṃ pesita”nti. “Kiṃ paṇṇaṃ, tāta, āharā”ti paṇṇaṃ gahetvā vācetvā tuṭṭhamānaso “passatha, bho, mama sāmino mayi sinehaṃ katvā jeṭṭhaputtassa me maṅgalaṃ karotū”ti mama santikaṃ pahiṇi. “Sīghaṃ dāruādīni āharathā”ti gahapatike vatvā gāmamajjhe vuttapakāraṃ gehaṃ kārāpetvā gāmasatato paṇṇākāraṃ āharāpetvā janapadaseṭṭhino santikā dhītaraṃ ānetvā maṅgalaṃ katvā seṭṭhissa sāsanaṃ pahiṇi “idañcidañca mayā kata”nti.
Taṃ sutvā seṭṭhino “yaṃ kāremi, taṃ na hoti; yaṃ na kāremi, tadeva hotī”ti mahantaṃ domanassaṃ uppajji. Puttasokena saddhiṃ so soko ekato hutvā kucchiḍāhaṃ uppādetvā atisāraṃ janesi. Seṭṭhidhītāpi “sace koci seṭṭhino santikā āgacchati, mama akathetvā seṭṭhiputtassa paṭhamataraṃ mā kathayitthā”ti jane āṇāpesi. Seṭṭhipi kho “dāni taṃ duṭṭhaputtaṃ mama sāpateyyassa sāmikaṃ na karissāmī”ti cintetvā ekaṃ āyuttakaṃ āha – “mātula, puttaṃ me daṭṭhukāmomhi, ekaṃ pādamūlikaṃ pesetvā mama puttaṃ pakkosāpehī”ti. So “sādhū”ti vatvā paṇṇaṃ datvā ekaṃ purisaṃ pesesi. Seṭṭhidhītāpi tassa āgantvā dvāre ṭhitabhāvaṃ sutvā taṃ pakkosāpetvā, “kiṃ, tātā”ti pucchi. So āha – “seṭṭhi gilāno, puttaṃ passituṃ pakkosāpesi, ayye”ti. “Kiṃ, tāta, balavā, dubbalo”ti? “Balavā tāva, āhāraṃ bhuñjatiyeva, ayye”ti. Sā seṭṭhiputtaṃ ajānāpetvāva tassa nivesanañca paribbayañca dāpetvā “mayā pesitakāle gamissasi, acchassu tāvā”ti āha. Seṭṭhi puna āyuttakaṃ avaca, “kiṃ, mātula, na te mama puttassa santikaṃ pahita”nti? “Pahitaṃ, sāmi, gatapuriso na tāva etī”ti. “Tena hi puna aparaṃ pesehī”ti. So pesesi. Seṭṭhidhītā tasmimpi tatheva paṭipajji. Atha seṭṭhino rogo balavā jāto, ekaṃ bhājanaṃ pavisati, ekaṃ nikkhamati. Puna seṭṭhi āyuttakaṃ pucchi – “kiṃ, mātula, na te mama puttassa santikaṃ pahita”nti? “Pahitaṃ, sāmi, gatapuriso na tāva etī”ti. “Tena hi puna aparaṃ pesehī”ti. So pesesi. Seṭṭhidhītā tatiyavāre āgatampi taṃ pavattiṃ pucchi. So “bāḷhagilāno, ayye, seṭṭhi āhāraṃ pacchinditvā maccuparāyaṇo jāto, ekaṃ bhājanaṃ nikkhamati, ekaṃ pavisatī”ti āha. Seṭṭhidhītā “idāni gantuṃ kālo”ti seṭṭhiputtassa “pitā te kira gilāno”ti ārocetvā “kiṃ vadesi bhadde”ti vutte “aphāsukamassa, sāmī”ti āha. “Idāni kiṃ kātabba”nti. Sāmi? “Gāmasatato vuṭṭhānakapaṇṇākāraṃ ādāya gantvā passissāma na”nti. So “sādhū”ti paṇṇākāraṃ āharāpetvā sakaṭehi ādāya pakkāmi.
Atha naṃ sā “pitā te dubbalo, ettakaṃ paṇṇākāraṃ gahetvā gacchantānaṃ papañco bhavissati, etaṃ nivattāpehī”ti vatvā taṃ sabbaṃ attano kulagehaṃ pesetvā puna taṃ āha – “sāmi, tvaṃ attano pitu pādapasse tiṭṭheyyāsi, ahaṃ ussīsakapasse ṭhassāmī”ti. Gehaṃ pavisamānāyeva ca “gehassa purato ca pacchato ca ārakkhaṃ gaṇhathā”ti attano purise āṇāpesi. Paviṭṭhakāle pana seṭṭhiputto pitu pādapasse aṭṭhāsi, itarā ussīsakapasse.
Tasmiṃ khaṇe seṭṭhi uttānako nipanno hoti. Āyuttako pana tassa pāde parimajjanto “putto te, sāmi, āgato”ti āha. “Kuhiṃ so”ti? “Esa pādamūle ṭhito”ti. Atha naṃ disvā āyakammikaṃ pakkosāpetvā, “mama gehe kittakaṃ dhana”nti pucchi. “Sāmi, dhanasseva cattālīsakoṭiyo, upabhogaparibhogabhaṇḍānaṃ pana vanagāmakkhettadvipadacatuppadayānavāhanānañca ayañca ayañca paricchedo”ti vutte, “ahaṃ ettakaṃ dhanaṃ mama puttassa ghosakassa na demī”ti vattukāmo “demī”ti āha. Taṃ sutvā seṭṭhidhītā “ayaṃ puna kathento aññaṃ kiñci katheyyā”ti cintetvā sokāturā viya kese vikiritvā rodamānā “kiṃ nāmetaṃ, tāta, vadetha, idampi nāma vo vacanaṃ suṇoma, alakkhikā vatamhā”ti vatvā matthakena naṃ uramajjhe paharantī patitvā yathā puna vattuṃ na sakkoti, tathāssa uramajjhe matthakena ghaṃsentī ārodanaṃ dassesi. Seṭṭhi taṃkhaṇaññeva kālamakāsi. “Seṭṭhi mato”ti gantvā utenassa rañño ārocayiṃsu. Rājā tassa sarīrakiccaṃ kārāpetvā, “atthi panassa putto vā dhītā vā”ti pucchi. “Atthi, deva, ghosako nāma tassa putto, sabbaṃ sāpateyyaṃ tassa niyyādetvāva mato, devā”ti.
Rājā aparabhāge seṭṭhiputtaṃ pakkosāpesi. Tasmiñca divase devo vassi. Rājaṅgaṇe tattha tattha udakaṃ saṇṭhāti. Seṭṭhiputto “rājānaṃ passissāmī”ti pāyāsi. Rājā vātapānaṃ vivaritvā taṃ āgacchantaṃ olokento rājaṅgaṇe udakaṃ laṅghitvā āgacchantaṃ disvā āgantvā vanditvā ṭhitaṃ “tvaṃ ghosako nāma, tātā”ti pucchitvā “āma, devā”ti vutte “pitā me matoti mā soci, tava pettikaṃ seṭṭhiṭṭhānaṃ tuyhameva dassāmī”ti taṃ samassāsetvā “gaccha, tātā”ti uyyojesi. Rājā gacchantañca naṃ olokentova aṭṭhāsi. So āgamanakāle laṅghitaṃ udakaṃ gamanakāle otaritvā saṇikaṃ agamāsi. Atha naṃ rājā tatova pakkosāpetvā, “kiṃ nu kho, tāta, tvaṃ mama santikaṃ āgacchanto udakaṃ laṅghitvā āgamma gacchanto otaritvā saṇikaṃ gacchasī”ti pucchi. “Āma, deva, ahaṃ tasmiṃ khaṇe kumārako, kīḷanakālo nāma, so idāni pana me devena ṭhānantaraṃ paṭissutaṃ. Tasmā yathā pure acaritvā idāni sannisinnena hutvā carituṃ vaṭṭatī”ti. Taṃ sutvā rājā “dhitimāyaṃ puriso, idānevassa ṭhānantaraṃ dassāmī”ti pitarā bhuttaṃ bhogaṃ datvā sabbasatena seṭṭhiṭṭhānaṃ adāsi.
So rathe ṭhatvā nagaraṃ padakkhiṇaṃ akāsi. Olokitolokitaṭṭhānaṃ kampati. Seṭṭhidhītā kāḷidāsiyā saddhiṃ mantayamānā nisinnā “amma kāḷi, puttassa te ettikā sampatti maṃ nissāya uppannā”ti āha. “Kiṃ kāraṇā, ammā”ti? “Ayañhi attano maraṇapaṇṇaṃ dussante bandhitvā amhākaṃ gharaṃ āgato, athassa mayā taṃ paṇṇaṃ phāletvā mayā saddhiṃ maṅgalakaraṇatthāya aññaṃ paṇṇaṃ likhitvā ettakaṃ kālaṃ tattha ārakkho kato”ti. “Amma, tvaṃ ettakaṃ passasi, imaṃ pana seṭṭhi daharakālato paṭṭhāya māretukāmo māretuṃ nāsakkhi, kevalaṃ imaṃ nissāya bahuṃ dhanaṃ khīyī”ti. “Amma, atibhāriyaṃ vata seṭṭhinā kata”nti. Nagaraṃ padakkhiṇaṃ katvā gehaṃ pavisantaṃ pana naṃ disvā, “ayaṃ ettikā sampatti maṃ nissāya uppannā”ti hasitaṃ akāsi. Atha naṃ seṭṭhiputto disvā, “kiṃ kāraṇā hasī”ti pucchi. “Ekaṃ kāraṇaṃ nissāyā”ti. “Kathehi na”nti? “Sā na kathesi”. So “sace na kathessasi, dvidhā taṃ chindissāmī”ti tajjetvā asiṃ nikkaḍḍhi. Sā “ayaṃ ettikā sampatti tayā maṃ nissāya laddhāti cintetvā hasita”nti āha. “Yadi mama pitarā attano santakaṃ mayhaṃ niyyāditaṃ, tvaṃ ettha kiṃ hosī”ti? So kira ettakaṃ kālaṃ kiñci na jānāti, tenassā vacanaṃ na saddahi. Athassa sā “tumhākaṃ pitarā maraṇapaṇṇaṃ datvā pesitā, tumhe mayā idañcidañca katvā rakkhitā”ti sabbaṃ kathesi. “Tvaṃ abhūtaṃ kathesī”ti asaddahanto “mātaraṃ kāḷiṃ pucchissāmī”ti cintetvā “evaṃ kira, ammā”ti. “Āma, tāta, daharakālato paṭṭhāya taṃ māretukāmo māretuṃ asakkonto taṃ nissāya bahuṃ dhanaṃ khīyi, sattasu ṭhānesu tvaṃ maraṇato mutto, idāni bhogagāmato āgamma sabbasatena saddhiṃ seṭṭhiṭṭhānaṃ patto”ti. So taṃ sutvā “bhāriyaṃ vata kammaṃ, evarūpā kho pana maraṇā muttassa mama pamādajīvitaṃ jīvituṃ ayuttaṃ, appamatto bhavissāmī”ti cintetvā devasikaṃ sahassaṃ vissajjetvā addhikakapaṇādīnaṃ dānaṃ paṭṭhapesi. Mitto nāmassa kuṭumbiko dānabyāvaṭo ahosi. Ayaṃ ghosakaseṭṭhino uppatti.
Tasmiṃ pana kāle bhaddavatīnagare bhaddavatiyaseṭṭhi nāma ghosakaseṭṭhino adiṭṭhapubbasahāyako ahosi. Bhaddavatīnagarato āgatānaṃ vāṇijānaṃ santike ghosakaseṭṭhi bhaddavatiyaseṭṭhino sampattiñca vayappadesañca sutvā tena saddhiṃ sahāyakabhāvaṃ icchanto paṇṇākāraṃ pesesi. Bhaddavatiyaseṭṭhipi kosambito āgatānaṃ vāṇijānaṃ santike ghosakaseṭṭhino sampattiñca vayappadesañca sutvā tena saddhiṃ sahāyakabhāvaṃ icchanto paṇṇākāraṃ pesesi. Evaṃ te aññamaññaṃ adiṭṭhapubbasahāyakā hutvā vasiṃsu. Aparabhāge bhaddavatiyaseṭṭhino gehe ahivātarogo patito. Tasmiṃ patite paṭhamaṃ makkhikā maranti, tato anukkameneva kīṭā mūsikā kukkuṭā sūkarā gāvo dāsī dāsā sabbapacchā gharamānusakāpi maranti. Tesu ye bhittiṃ bhinditvā palāyanti, te jīvitaṃ labhanti, tadā pana seṭṭhi ca bhariyā ca dhītā cassa tathā palāyitvā ghosakaseṭṭhiṃ passituṃ patthentā kosambimaggaṃ paṭipajjiṃsu. Te antarāmaggeyeva khīṇapātheyyā vātātapena ceva khuppipāsāhi ca kilantasarīrā kicchena kosambiṃ patvā udakaphāsukaṭṭhāne ṭhatvā nhatvā nagaradvāre ekaṃ sālaṃ pavisiṃsu.
Tato seṭṭhi bhariyaṃ āha – “bhadde, iminā nīhārena gacchantā vijātamātuyāpi amanāpā honti, sahāyako kira me addhikakapaṇādīnaṃ devasikaṃ sahassaṃ vissajjetvā dānaṃ dāpesi. Tattha dhītaraṃ pesetvā āhāraṃ āharāpetvā ekāhaṃ dvīhaṃ idheva sarīraṃ santappetvā sahāyakaṃ passissāmā”ti. Sā “sādhu, sāmī”ti. Te sālāyameva vasiṃsu. Punadivase kāle ārocite kapaṇaddhikādīsu āhāratthāya gacchantesu mātāpitaro, “amma, gantvā amhākaṃ āhāraṃ āharā”ti dhītaraṃ pesayiṃsu. Mahābhogakulassa dhītā vipattiyā acchinnalajjitāya alajjamānā pātiṃ gahetvā kapaṇajanena saddhiṃ āhāratthāya gantvā “kati paṭivīse gaṇhissasi, ammā”ti puṭṭhā ca pana “tayo”ti āha. Athassā tayo paṭivīse adāsi. Tāya bhatte āhaṭe tayopi ekato bhuñjituṃ nisīdiṃsu.
Atha mātādhītaro seṭṭhiṃ āhaṃsu – “sāmi, vipatti nāma mahākulānampi uppajjati, mā amhe oloketvā bhuñja, mā cintayī”ti. Iti naṃ nānappakārehi yācitvā bhojesuṃ. So bhuñjitvā āhāraṃ jīrāpetuṃ asakkonto aruṇe uggacchante kālamakāsi. Mātādhītaro nānappakārehi paridevitvā rodiṃsu. Kumārikā punadivase rodamānā āhāratthāya gantvā, “kati paṭivīse gaṇhissasī”ti vuttā, “dve”ti vatvā āhāraṃ āharitvā mātaraṃ yācitvā bhojesi. Sāpi tāya yāciyamānā bhuñjitvā āhāraṃ jīrāpetuṃ asakkontī taṃ divasameva kālamakāsi. Kumārikā ekikāva roditvā paridevitvā tāya dukkhuppattiyā ativiya sañjātachātakadukkhā punadivase yācakehi saddhiṃ rodantī āhāratthāya gantvā, “kati paṭivīse gaṇhissasi, ammā”ti vuttā “eka”nti āha. Mittakuṭumbiko taṃ tayo divase bhattaṃ gaṇhantiṃ sañjānāti, tena taṃ “apehi nassa, vasali, ajja tava kucchippamāṇaṃ aññāsī”ti āha. Hirottappasampannā kuladhītā paccorasmiṃ sattipahāraṃ viya vaṇe khārodakasecanakaṃ viya ca patvā “kiṃ, sāmī”ti āha. “Tayā pure tayo koṭṭhāsā gahitā, hiyyo dve, ajja ekaṃ gaṇhāsi. Ajja te attano kucchippamāṇaṃ ñāta”nti. “Mā maṃ, sāmi, ‘attanova atthāya gaṇhī’ti maññitthā”ti. “Atha kasmā evaṃ gaṇhī”ti? “Pure tayo janā ahumha, sāmi, hiyyo dve, ajja ekikāva jātāmhī”ti. So “kena kāraṇenā”ti pucchitvā ādito paṭṭhāya tāya kathitaṃ sabbaṃ pavattiṃ sutvā assūni sandhāretuṃ asakkonto sañjātabalavadomanasso hutvā, “amma, evaṃ sante mā cintayi, tvaṃ bhaddavatiyaseṭṭhino dhītā ajjakālato paṭṭhāya mama dhītāyeva nāmā”ti vatvā sīse cumbitvā gharaṃ netvā attano jeṭṭhadhītuṭṭhāne ṭhapesi.
Sā dānagge uccāsaddaṃ mahāsaddaṃ sutvā, “tāta, kasmā etaṃ janaṃ nissaddaṃ katvā dānaṃ na dethā”ti āha. “Na sakkā kātuṃ, ammā”ti. “Sakkā, tātā”ti. “Kathaṃ sakkā, ammā”ti? “Tāta dānaggaṃ parikkhipitvā ekekasseva pavesanappamāṇena dve dvārāni yojetvā, ‘ekena dvārena pavisitvā ekena nikkhamathā’ti vadetha, evaṃ nissaddā hutvāva gaṇhissantī”ti. So taṃ sutvā, “bhaddakova, amma, upāyo”ti tathā kāresi. Sāpi pubbe sāmā nāma. Vatiyā pana kāritattā sāmāvatī nāma jātā. Tato paṭṭhāya dānagge kolāhalaṃ pacchindī. Ghosakaseṭṭhi pubbe taṃ saddaṃ suṇanto “mayhaṃ dānagge saddo”ti tussati. Dvīhatīhaṃ pana saddaṃ asuṇanto mittakuṭumbikaṃ attano upaṭṭhānaṃ āgataṃ pucchi – “diyyati kapaṇaddhikādīnaṃ dāna”nti? “Āma, sāmī”ti. “Atha kiṃ dvīhatīhaṃ saddo na suyyatī”ti? “Yathā nissaddā hutvā gaṇhanti, tathā me upāyo kato”ti. “Atha pubbeva kasmā nākāsī”ti? “Ajānanatāya, sāmī”ti. “Idāni kathaṃ te ñāto”ti? “Dhītarā me akkhāto, sāmī”ti. Mayhaṃ aviditā “tava dhītā nāma atthī”ti. So ahivātaroguppattito paṭṭhāya sabbaṃ bhaddavatiyaseṭṭhino pavattiṃ ācikkhitvā tassā attano jeṭṭhadhītuṭṭhāne ṭhapitabhāvaṃ ārocesi. Atha naṃ seṭṭhi “evaṃ sante mama kasmā na kathesi, mama sahāyakassa dhītā mama dhītā nāmā”ti taṃ pakkosāpetvā pucchi – “amma, seṭṭhino dhītāsī”ti? “Āma, tātā”ti. “Tena hi mā cintayi, tvaṃ mama dhītāsī”ti taṃ sīse cumbitvā parivāratthāya tassā pañca itthisatāni datvā taṃ attano jeṭṭhadhītuṭṭhāne ṭhapesi.
Athekadivasaṃ tasmiṃ nagare nakkhattaṃ saṅghuṭṭhaṃ hoti. Tasmiṃ pana nakkhatte bahi anikkhamanakā kuladhītaropi attano parivārena saddhiṃ padasāva nadiṃ gantvā nhāyanti. Tasmā taṃ divasaṃ sāmāvatīpi pañcahi itthisatehi parivāritā rājaṅgaṇeneva nhāyituṃ agamāsi. Uteno sīhapañjare ṭhito taṃ disvā “kassimā nāṭakitthiyo”ti pucchi. “Na kassaci nāṭakitthiyo, devā”ti. “Atha kassa dhītaro”ti? “Ghosakaseṭṭhino dhītā deva, sāmāvatī nāmesā”ti. So disvāva uppannasineho seṭṭhino sāsanaṃ pāhesi – “dhītaraṃ kira me pesetū”ti. “Na pesemi, devā”ti. “Mā kira evaṃ karotu, pesetuyevā”ti. “Mayaṃ gahapatikā nāma kumārikānaṃ pothetvā viheṭhetvā kaḍḍhanabhayena na dema, devā”ti. Rājā kujjhitvā gehaṃ lañchāpetvā seṭṭhiñca bhariyañca hatthe gahetvā bahi kārāpesi. Sāmāvatī, nhāyitvā āgantvā gehaṃ pavisituṃ okāsaṃ alabhantī, “kiṃ etaṃ, tātā”ti pucchi. “Amma, rājā tava kāraṇā pahiṇi. Atha ‘na mayaṃ dassāmā’ti vutte gharaṃ lañchāpetvā amhe bahi kārāpesī”ti. “Tāta, bhāriyaṃ vo kammaṃ kataṃ, raññā nāma pahite ‘na, demā’ti avatvā ‘sace me dhītaraṃ saparivāraṃ gaṇhatha, demā’ti vattabbaṃ bhaveyya, tātā”ti. “Sādhu, amma, tava ruciyā sati evaṃ karissāmī”ti rañño tathā sāsanaṃ pāhesi. Rājā “sādhū”ti sampaṭicchitvā taṃ saparivāraṃ ānetvā abhisiñcitvā aggamahesiṭṭhāne ṭhapesi. Sesā tassāyeva parivāritthiyo ahesuṃ. Ayaṃ sāmāvatiyā uppatti.
Utenassa pana aparāpi vāsuladattā nāma devī ahosi caṇḍapajjotassa dhītā. Ujjeniyañhi caṇḍapajjoto nāma rājā ahosi. So ekadivasaṃ uyyānato āgacchanto attano sampattiṃ oloketvā, “atthi nu kho aññassapi kassaci evarūpā sampattī”ti vatvā taṃ sutvā manussehi “kiṃ sampatti nāmesā, kosambiyaṃ utenassa rañño atimahatī sampatī”ti vutte rājā āha – “tena hi gaṇhissāma na”nti? “Na sakkā so gahetu”nti. “Kiñci katvā gaṇhissāmayevā”ti? “Na sakkā devā”ti. “Kiṃ kāraṇā”ti? “So hatthikantaṃ nāma sippaṃ jānāti, mantaṃ parivattetvā hatthikantavīṇaṃ vādento nāge palāpetipi gaṇhātipi. Hatthivāhanasampanno tena sadiso nāma natthī”ti. “Na sakkā mayā so gahetu”nti. “Sace te, deva, ekantena ayaṃ nicchayo, tena hi dāruhatthiṃ kāretvā tassāsannaṭṭhānaṃ pesehi. So hatthivāhanaṃ vā assavāhanaṃ vā sutvā dūrampi gacchati. Tattha naṃ āgataṃ gahetuṃ sakkā bhavissatī”ti.
Rājā “attheso upāyo”ti dārumayaṃ yantahatthiṃ kārāpetvā bahi pilotikāhi veṭhetvā katacittakammaṃ katvā tassa vijite āsannaṭṭhāne ekasmiṃ saratīre vissajjāpesi. Hatthino antokucchiyaṃ saṭṭhi purisā aparāparaṃ caṅkamanti, hatthilaṇḍaṃ āharitvā tattha tattha chaḍḍesuṃ. Eko vanacarako hatthiṃ disvā, “amhākaṃ rañño anucchaviko”ti cintetvā, gantvā rañño ārocesi – “deva, mayā sabbaseto kelāsakūṭapaṭibhāgo tumhākaññeva anucchaviko varavāraṇo diṭṭho”ti. Uteno tameva maggadesakaṃ katvā hatthiṃ abhiruyha saparivāro nikkhami. Tassa āgamanaṃ ñatvā carapurisā gantvā caṇḍapajjotassa ārocesuṃ. So āgantvā majjhe tucchaṃ katvā ubhosu passesu balakāyaṃ payojesi. Uteno tassāgamanaṃ ajānanto hatthiṃ anubandhi. Anto ṭhitamanussā vegena palāpesuṃ. Kaṭṭhahatthī rañño mantaṃ parivattetvā vīṇaṃ vādentassa tantisaddaṃ asuṇanto viya palāyatiyeva. Rājā hatthināgaṃ pāpuṇituṃ asakkonto assaṃ āruyha anubandhi. Tasmiṃ vegena anubandhante balakāyo ohīyi. Rājā ekakova ahosi. Atha naṃ ubhosu passesu payuttā caṇḍapajjotassa purisā gaṇhitvā attano rañño adaṃsu. Athassa balakāyo amittavasaṃ gatabhāvaṃ ñatvā bahinagareva khandhāvāraṃ nivesetvā acchi.
Caṇḍapajjotopi utenaṃ jīvaggāhameva gāhāpetvā ekasmiṃ coragehe pakkhipitvā dvāraṃ pidahāpetvā tayo divase jayapānaṃ pivi. Uteno tatiyadivase ārakkhake pucchi – “kahaṃ vo, tāta, rājā”ti? “‘Paccāmitto me gahito’ti jayapānaṃ pivatī”ti. “Kā nāmesā mātugāmassa viya tumhākaṃ rañño kiriyā, nanu paṭirājūnaṃ gahetvā vissajjetuṃ vā māretuṃ vā vaṭṭati, amhe dukkhaṃ nisīdāpetvā jayapānaṃ kira pivatī”ti. Te gantvā tamatthaṃ rañño ārocesuṃ. So āgantvā “saccaṃ kira tvaṃ evaṃ vadasī”ti pucchi. “Āma, mahārājā”ti. “Sādhu taṃ vissajjessāmi, evarūpo kira te manto atthi, taṃ mayhaṃ dassasī”ti. “Sādhu dassāmi, gahaṇasamaye maṃ vanditvā taṃ gaṇhāhi. Kiṃ pana tvaṃ vandissasī”ti? “Kyāhaṃ taṃ vandissāmi, na vandissāmī”ti? “Ahampi te na dassāmī”ti. “Evaṃ sante rājāṇaṃ te karissāmī”ti. “Karohi, sarīrassa me issaro, na pana cittassā”ti. Rājā tassa sūragajjitaṃ sutvā, “kathaṃ nu kho imaṃ mantaṃ gaṇhissāmī”ti cintetvā, “imaṃ mantaṃ aññaṃ jānāpetuṃ na sakkā, mama dhītaraṃ etassa santike uggaṇhāpetvā ahaṃ tassā santike gaṇhissāmī”ti. Atha naṃ āha – “aññassa vanditvā gaṇhantassa dassasī”ti. “Āma, mahārājā”ti. “Tena hi amhākaṃ ghare ekā khujjā atthi tassā antosāṇiyaṃ vanditvā nisinnāya tvaṃ bahisāṇiyaṃ ṭhitova mantaṃ vācehī”ti. “Sādhu, mahārāja, khujjā vā hotu pīṭhasappi vā, vandantiyā dassāmī”ti. Tato rājā gantvā dhītaraṃ vāsuladattaṃ āha – “amma, eko saṅkhakuṭṭhī anagghamantaṃ jānāti, taṃ aññaṃ jānāpetuṃ na sakkā. Tvaṃ antosāṇiyaṃ nisīditvā taṃ vanditvā mantaṃ gaṇha, so bahisāṇiyaṃ ṭhatvā tuyhaṃ vācessati. Tava santikā ahaṃ taṃ gaṇhissāmī”ti.
Evaṃ so tesaṃ aññamaññaṃ santhavakaraṇabhayena dhītaraṃ khujjaṃ, itaraṃ saṅkhakuṭṭhiṃ katvā kathesi. So tassā antosāṇiyaṃ vanditvā nisinnāya bahi ṭhito mantaṃ vācesi. Atha naṃ ekadivasaṃ punappunaṃ vuccamānampi mantapadaṃ vattuṃ asakkontiṃ “are khujje atibahaloṭṭhakapolaṃ te mukhaṃ, evaṃ nāma vadehī”ti āha. “Sā kujjhitvā are duṭṭhasaṅkhakuṭṭhi kiṃ vadesi, kiṃ mādisā khujjā nāma hotī”ti? Sāṇikaṇṇaṃ ukkhipitvā “kāsi tva”nti vutte, “rañño dhītā vāsuladattā nāmāha”nti āha. “Pitā te taṃ mayhaṃ kathento ‘khujjā’ti kathesī”ti. “Mayhampi kathento taṃ saṅkhakuṭṭhiṃ katvā kathesī”ti. Te ubhopi “tena hi amhākaṃ santhavakaraṇabhayena kathitaṃ bhavissatī”ti antosāṇiyaññeva santhavaṃ kariṃsu.
Tato paṭṭhāya mantaggahaṇaṃ vā sippaggahaṇaṃ vā natthi. Rājāpi dhītaraṃ niccaṃ pucchati – “sippaṃ gaṇhasi, ammā”ti? “Gaṇhāmi, tātā”ti. Atha naṃ ekadivasaṃ uteno āha – “bhadde, sāmikena kattabbaṃ nāma neva mātāpitaro na bhātubhaginiyo kātuṃ sakkonti, sace mayhaṃ jīvitaṃ dassasi, pañca te itthisatāni parivāraṃ datvā aggamahesiṭṭhānaṃ dassāmī”ti. “Sace imasmiṃ vacane patiṭṭhātuṃ sakkhissatha, dassāmi vo jīvita”nti. “Sakkhissāmi, bhadde”ti. Sā “sādhu, sāmī”ti pitu santikaṃ gantvā vanditvā ekamantaṃ aṭṭhāsi. Atha naṃ so pucchi – “amma, niṭṭhitaṃ sippa”nti? “Na tāva niṭṭhitaṃ, tāta, sippa”nti. Atha naṃ so pucchi – “kiṃ, ammā”ti? “Amhākaṃ ekaṃ dvārañca ekaṃ vāhanañca laddhuṃ vaṭṭati, tātā”ti. “Idaṃ kiṃ, ammā”ti? “Tāta, rattiṃ kira tārakasaññāya mantassa upacāratthāya ekaṃ osadhaṃ gahetabbaṃ atthi. Tasmā amhākaṃ velāya vā avelāya vā nikkhamanakāle ekaṃ dvārañceva ekaṃ vāhanañca laddhuṃ vaṭṭatī”ti. Rājā “sādhū”ti sampaṭicchi. Te attano abhirucitaṃ ekaṃ dvāraṃ hatthagataṃ kariṃsu. Rañño pana pañca vāhanāni ahesuṃ. Bhaddavatī nāma kareṇukā ekadivasaṃ paññāsa yojanāni gacchati, kāko nāma dāso saṭṭhi yojanāni gacchati, celakaṭṭhi ca muñcakesī cāti dve assā yojanasataṃ gacchanti, nāḷāgiri hatthī vīsati yojanasatanti.
So kira rājā anuppanne buddhe ekassa issarassa upaṭṭhāko ahosi. Athekadivasaṃ issare bahinagaraṃ gantvā nhatvā āgacchante eko paccekabuddho nagaraṃ piṇḍāya pavisitvā sakalanagaravāsīnaṃ mārena āvaṭṭitattā ekaṃ bhikkhāmpi alabhitvā yathādhotena pattena nikkhami. Atha naṃ nagaradvāraṃ pattakāle māro aññātakavesena upasaṅkamitvā, “api, bhante, vo kiñci laddha”nti pucchi. “Kiṃ pana me tvaṃ alabhanākāraṃ karī”ti? “Tena hi nivattitvā puna pavisatha, idāni na karissāmī”ti. “Nāhaṃ puna nivattissāmī”ti. Sace hi nivatteyya, puna so sakalanagaravāsīnaṃ sarīre adhimuñcitvā pāṇiṃ paharitvā hasanakeḷiṃ kareyya. Paccekabuddhe anivattitvā gate māro tattheva antaradhāyi. Atha so issaro yathādhoteneva pattena āgacchantaṃ paccekabuddhaṃ disvā vanditvā, “api, bhante, kiñci laddha”nti pucchi. “Caritvā nikkhantamhāvuso”ti. So cintesi – “ayyo, mayā pucchitaṃ akathetvā aññaṃ vadati, na kiñci laddhaṃ bhavissatī”ti. Athassa pattaṃ olokento tucchaṃ disvā gehe bhattassa niṭṭhitāniṭṭhitabhāvaṃ ajānanatāya sūro hutvā pattaṃ gahetuṃ avisahanto “thokaṃ, bhante, adhivāsethā”ti vatvā vegena gharaṃ gantvā “amhākaṃ bhattaṃ niṭṭhita”nti pucchitvā, “niṭṭhita”nti vutte taṃ upaṭṭhākaṃ āha – “tāta, añño tayā sampannavegataro nāma natthi, sīghena javena bhadantaṃ patvā ‘pattaṃ me, bhante, dethā’ti vatvā pattaṃ gahetvā vegena ehī”ti. So ekavacaneneva pakkhanditvā pattaṃ gahetvā āhari. Issaropi attano bhojanassa pattaṃ pūretvā “imaṃ sīghaṃ gantvā ayyassa sampādehi, ahaṃ te ito pattiṃ dammī”ti āha.
Sopi taṃ gahetvā javena gantvā paccekabuddhassa pattaṃ datvā pañcapatiṭṭhitena vanditvā, “bhante, ‘velā upakaṭṭhā’ti ahaṃ atisīghena javena āgato ca gato ca, etassa me javassa phalena yojanānaṃ paṇṇāsasaṭṭhisatavīsasatagamanasamatthāni pañca vāhanāni nibbattantu, āgacchantassa ca me gacchantassa ca sarīraṃ sūriyatejena tatthaṃ, tassa me phalena nibbattanibbattaṭṭhāne āṇā sūriyatejasadisā hotu, imasmiṃ me piṇḍapāte sāminā patti dinnā, tassā me nissandena tumhehi diṭṭhadhammassa bhāgī homī”ti āha. Paccekabuddho “evaṃ hotū”ti vatvā –
“Icchitaṃ patthitaṃ tuyhaṃ, sabbameva samijjhatu;
Sabbe pūrentu saṅkappā, cando pannaraso yathā. (dī. ni. aṭṭha. 2.95 pubbūpanissayasampattikathā; a. ni. aṭṭha. 1.1. 192);
“Icchitaṃ patthitaṃ tuyhaṃ, khippameva samijjhatu;
Sabbe pūrentu saṅkappā, maṇijotiraso yathā”ti. –
Anumodanaṃ akāsi. Paccekabuddhānaṃ kira idhāva dve gāthā anumodanagāthā nāma honti. Tattha jotirasoti sabbakāmadadaṃ maṇiratanaṃ vuccati. Idaṃ tassa pubbacaritaṃ. So etarahi caṇḍapajjoto ahosi. Tassa ca kammassa nissandena imāni pañca vāhanāni nibbattiṃsu. Athekadivasaṃ rājā uyyānakīḷāya nikkhami. Uteno “ajja palāyitabba”nti mahantāmahante cammapasibbake hiraññasuvaṇṇassa pūretvā kareṇukāpiṭṭhe ṭhapetvā vāsuladattaṃ ādāya palāyi. Antepurapālakā palāyantaṃ taṃ disvā gantvā rañño ārocesuṃ. Rājā “sīghaṃ gacchathā”ti balaṃ pahiṇi. Uteno balassa pakkhandabhāvaṃ ñatvā kahāpaṇapasibbakaṃ mocetvā pātesi, manussā kahāpaṇe uccinitvā puna pakkhandiṃsu. Itaro suvaṇṇapasibbakaṃ mocetvā pātetvā nesaṃ suvaṇṇalobhena papañcentānaññeva bahi nivuṭṭhaṃ attano khandhāvāraṃ pāpuṇi. Atha naṃ āgacchantaṃ disvāva attano balakāyo parivāretvā nagaraṃ pavesesi. So patvāva vāsuladattaṃ abhisiñcitvā aggamahesiṭṭhāne ṭhapesīti. Ayaṃ vāsuladattāya uppatti.
Aparā pana māgaṇḍiyā nāma rañño santikā aggamahesiṭṭhānaṃ labhi. Sā kira kururaṭṭhe māgaṇḍiyabrāhmaṇassa dhītā. Mātāpissā māgaṇḍiyāyeva nāmaṃ. Cūḷapitāpissā māgaṇḍiyova, sā abhirūpā ahosi devaccharapaṭibhāgā. Pitā panassā anucchavikaṃ sāmikaṃ alabhanto mahantehi mahantehi kulehi yācitopi “na mayhaṃ dhītu tumhe anucchavikā”ti tajjetvā uyyojesi. Athekadivasaṃ satthā paccūsasamaye lokaṃ volokento māgaṇḍiyabrāhmaṇassa sapajāpatikassa anāgāmiphalūpanissayaṃ disvā attano pattacīvaramādāya tassa bahinigame aggiparicaraṇaṭṭhānaṃ agamāsi. So tathāgatassa rūpasobhaggappattaṃ attabhāvaṃ oloketvā, “imasmiṃ loke iminā purisena sadiso añño puriso nāma natthi, ayaṃ mayhaṃ dhītu anucchaviko, imassa posāpanatthāya dhītaraṃ dassāmī”ti cintetvā, “samaṇa, ekā me dhītā atthi, ahaṃ ettakaṃ kālaṃ tassā anucchavikaṃ purisaṃ na passāmi, tumhe tassā anucchavikā, sā ca tumhākaññeva anucchavikā. Tumhākañhi pādaparicārikā, tassā ca bhattā laddhuṃ vaṭṭati, taṃ vo ahaṃ dassāmi, yāva mamāgamanā idheva tiṭṭhathā”ti āha. Satthā kiñci avatvā tuṇhī ahosi. Brāhmaṇo vegena gharaṃ gantvā, “bhoti, bhoti dhītu me anucchaviko puriso diṭṭho, sīghaṃ sīghaṃ naṃ alaṅkarohī”ti taṃ alaṅkārāpetvā saddhiṃ brāhmaṇiyā ādāya satthu santikaṃ pāyāsi. Sakalanagaraṃ saṅkhubhi. Ayaṃ “ettakaṃ kālaṃ mayhaṃ dhītu anucchaviko natthī”ti kassaci adatvā “ajja me dhītu anucchaviko diṭṭho”ti kira vadeti, “kīdiso nu kho so puriso, passissāma na”nti mahājano teneva saddhiṃ nikkhami.
Tasmiṃ dhītaraṃ gahetvā āgacchante satthā tena vuttaṭṭhāne aṭṭhatvā tattha padacetiyaṃ dassetvā gantvā aññasmiṃ ṭhāne aṭṭhāsi. Buddhānañhi padacetiyaṃ adhiṭṭhahitvā akkantaṭṭhāneyeva paññāyati, na aññattha. Yesañcatthāya adhiṭṭhitaṃ hoti, teyeva naṃ passanti. Tesaṃ pana adassanakaraṇatthaṃ hatthiādayo vā akkamantu, mahāmegho vā pavassatu, verambhavātā vā paharantu, na taṃ koci makkhetuṃ sakkoti. Atha brāhmaṇī brāhmaṇaṃ āha – “kuhiṃ so puriso”ti. “‘Imasmiṃ ṭhāne tiṭṭhāhī’ti naṃ avacaṃ, kuhiṃ nu kho so gato”ti ito cito olokento padacetiyaṃ disvā “ayamassa padavalañjo”ti āha. Brāhmaṇī salakkhaṇamantānaṃ tiṇṇaṃ vedānaṃ paguṇatāya lakkhaṇamante parivattetvā padalakkhaṇaṃ upadhāretvā, “nayidaṃ, brāhmaṇa, pañcakāmaguṇasevino pada”nti vatvā imaṃ gāthamāha –
“Rattassa hi ukkuṭikaṃ padaṃ bhave,
Duṭṭhassa hoti sahasānupīḷitaṃ;
Mūḷhassa hoti avakaḍḍhitaṃ padaṃ,
Vivaṭṭacchadassa idamīdisaṃ pada”nti. (a. ni. aṭṭha. 1.1.260-261; visuddhi. 1.45);
Atha naṃ brāhmaṇo evamāha – “bhoti tvaṃ udakapātiyaṃ kumbhīlaṃ, gehamajjhe ca pana coraṃ viya mante passanasīlā, tuṇhī hohī”ti. Brāhmaṇa, yaṃ icchasi, taṃ vadehi, nayidaṃ pañcakāmaguṇasevino padanti. Tato ito cito ca olokento satthāraṃ disvā, “ayaṃ so puriso”ti vatvā brāhmaṇo gantvā, “samaṇa, dhītaraṃ me tava posāpanatthāya demī”ti āha. Satthā “dhītarā te mayhaṃ attho atthi vā natthi vā”ti avatvāva, “brāhmaṇa, ekaṃ te kāraṇaṃ kathemī”ti vatvā, “kathehi samaṇā”ti vutte mahābhinikkhamanato paṭṭhāya yāva ajapālanigrodhamūlā mārena anubaddhabhāvaṃ ajapālanigrodhamūle ca pana “atīto dāni me esa visaya”nti tassa sokāturassa sokavūpasamanatthaṃ āgatāhi māradhītāhi kumārikavaṇṇādivasena payojitaṃ palobhanaṃ ācikkhitvā, “tadāpi mayhaṃ chando nāhosī”ti vatvā –
“Disvāna taṇhaṃ aratiṃ ragañca,
Nāhosi chando api methunasmiṃ;
Kimevidaṃ muttakarīsapuṇṇaṃ,
Pādāpi naṃ samphusituṃ na icche”ti. (a. ni. aṭṭha. 1.1.260-261; su. ni. 841) –
Imaṃ gāthamāha. Gāthāpariyosāne brāhmaṇo ca brāhmaṇī ca anāgāmiphale patiṭṭhahiṃsu. Māgaṇḍiyāpi kho “sacassa mayā attho natthi, anatthikabhāvova vattabbo, ayaṃ pana maṃ muttakarīsapuṇṇaṃ karoti, pādāpi naṃ samphusituṃ na iccheti, hotu, attano jātikulapadesabhogayasavayasampattiṃ āgamma tathārūpaṃ bhattāraṃ labhitvā samaṇassa gotamassa kattabbayuttakaṃ jānissāmī”ti satthari āghātaṃ bandhi. “Kiṃ pana satthā tāya attani āghātuppattiṃ jānāti, no”ti? “Jānātiyeva. Jānanto kasmā gāthamāhā”ti? Itaresaṃ dvinnaṃ vasena. Buddhā hi āghātaṃ agaṇetvā maggaphalādhigamārahānaṃ vasena dhammaṃ desentiyeva. Mātāpitaro taṃ netvā cūḷamāgaṇḍiyaṃ kaniṭṭhaṃ paṭicchāpetvā pabbajitvā arahattaṃ pāpuṇiṃsu. Cūḷamāgaṇḍiyopi cintesi – “mama dhītā omakasattassa na anucchavikā, ekassa raññova anucchavikā”ti. Taṃ ādāya kosambiṃ gantvā sabbālaṅkārehi alaṅkaritvā, “imaṃ itthiratanaṃ devassa anucchavika”nti utenassa rañño adāsi. So taṃ disvāva uppannabalavasineho abhisekaṃ katvā pañcasatamātugāmaparivāraṃ datvā aggamahesiṭṭhāne ṭhapesi. Ayaṃ māgaṇḍiyāya uppatti.
Evamassa diyaḍḍhasahassanāṭakitthiparivārā tisso aggamahesiyo ahesuṃ. Tasmiṃ kho pana samaye ghosakaseṭṭhi kukkuṭaseṭṭhi pāvārikaseṭṭhīti kosambiyaṃ tayo seṭṭhino honti. Te upakaṭṭhāya vassūpanāyikāya pañcasatatāpase himavantato āgantvā nagare bhikkhāya carante disvā pasīditvā nisīdāpetvā bhojetvā paṭiññaṃ gahetvā cattāro māse attano santike vasāpetvā puna vassāratte āgamanatthāya paṭijānāpetvā uyyojesuṃ. Tāpasāpi tato paṭṭhāya aṭṭha māse himavante vasitvā cattāro māse tesaṃ santike vasiṃsu. Te aparabhāge himavantato āgacchantā araññāyatane ekaṃ mahānigrodhaṃ disvā tassa mūle nisīdiṃsu. Tesu jeṭṭhakatāpaso cintesi – “imasmiṃ rukkhe adhivatthā devatā oramattikā na bhavissati, mahesakkhenevettha devarājena bhavitabbaṃ, sādhu vata sacāyaṃ isigaṇassa pānīyaṃ dadeyyā”ti. Sopi pānīyaṃ adāsi. Tāpaso nhānodakaṃ cintesi, tampi adāsi. Tato bhojanaṃ cintesi, tampi adāsi. Athassa etadahosi – “ayaṃ devarājā amhehi cintitaṃ cintitaṃ sabbaṃ deti, aho vata naṃ passeyyāmā”ti. So rukkhakkhandhaṃ padāletvā attānaṃ dassesi. Atha naṃ tāpasā, “devarāja, mahatī te sampatti, kiṃ nu kho katvā ayaṃ te laddhā”ti pucchiṃsu. “Mā pucchatha, ayyā”ti. “Ācikkha, devarājā”ti. So attanā katakammassa parittakattā lajjamāno kathetuṃ na visahi. Tehi punappunaṃ nippīḷiyamāno pana “tena hi suṇāthā”ti vatvā kathesi.
So kireko duggatamanusso hutvā bhatiṃ pariyesanto anāthapiṇḍikassa santike bhatikammaṃ labhitvā taṃ nissāya jīvikaṃ kappesi. Athekasmiṃ uposathadivase sampatte anāthapiṇḍiko vihārato āgantvā pucchi – “tassa bhatikassa ajjuposathadivasabhāvo kenaci kathito”ti? “Na kathito, sāmī”ti. “Tena hissa sāyamāsaṃ pacathā”ti. Athassa patthodanaṃ paciṃsu. So divasaṃ araññe kammaṃ katvā sāyaṃ āgantvā bhatte vaḍḍhetvā dinne “chātomhī”ti sahasā abhuñjitvāva “aññesu divasesu imasmiṃ gehe ‘bhattaṃ detha, sūpaṃ detha, byañjanaṃ dethā’ti mahākolāhalaṃ ahosi, ajja te sabbe nissaddā nipajjiṃsu, mayhameva ekassāhāraṃ vaḍḍhayiṃsu, kiṃ nu kho eta”nti cintetvā pucchi – “avasesā bhuñjiṃsu, na bhuñjiṃsū”ti? “Na bhuñjiṃsu, tātā”ti. “Kiṃ kāraṇā”ti? Imasmiṃ gehe uposathadivasesu sāyamāsaṃ na bhuñjanti, sabbeva uposathikā honti. Antamaso thanapāyinopi dārake mukhaṃ vikkhālāpetvā catumadhuraṃ mukhe pakkhipāpetvā mahāseṭṭhi uposathike kāreti. Gandhatelappadīpe jālante khuddakamahallakadārakā sayanagatā dvattiṃsākāraṃ sajjhāyanti. Tuyhaṃ pana uposathadivasabhāvaṃ kathetuṃ satiṃ na karimhā. Tasmā taveva bhattaṃ pakkaṃ, naṃ bhuñjassūti. Sace idāni uposathikena bhavituṃ vaṭṭati, ahampi bhaveyyanti. “Idaṃ seṭṭhi jānātī”ti. “Tena hi naṃ pucchathā”ti. Te gantvā seṭṭhiṃ pucchiṃsu. So evamāha – “idāni pana abhuñjitvā mukhaṃ vikkhāletvā uposathaṅgāni adhiṭṭhahanto upaḍḍhaṃ uposathakammaṃ labhissatī”ti. Itaro taṃ sutvā tathā akāsi.
Tassa sakaladivasaṃ kammaṃ katvā chātassa sarīre vātā kuppiṃsu. So yottena uraṃ bandhitvā yottakoṭiyaṃ gahetvā parivattati. Seṭṭhi taṃ pavattiṃ sutvā ukkāhi dhāriyamānāhi catumadhuraṃ gāhāpetvā tassa santikaṃ āgantvā, “kiṃ, tātā”ti pucchi. “Sāmi, vātā me kuppitā”ti. “Tena hi uṭṭhāya idaṃ bhesajjaṃ khādāhī”ti. “Tumhepi khādatha, sāmī”ti. “Amhākaṃ aphāsukaṃ natthi, tvaṃ khādāhī”ti. “Sāmi, ahaṃ uposathakammaṃ karonto sakalaṃ kātuṃ nāsakkhiṃ, upaḍḍhakammampi me vikalaṃ mā ahosī”ti na icchi. “Mā evaṃ kari, tātā”ti vuccamānopi anicchitvā aruṇe uṭṭhahante milātamālā viya kālaṃ katvā tasmiṃ nigrodharukkhe devatā hutvā nibbatti. Tasmā imamatthaṃ kathetvā “so seṭṭhi buddhamāmako, dhammamāmako, saṅghamāmako, taṃ nissāya katassa upaḍḍhuposathakammassa nissandenesā sampatti mayā laddhā”ti āha.
“Buddho”ti vacanaṃ sutvāva pañcasatā tāpasā uṭṭhāya devatāya añjaliṃ paggayha “buddhoti vadesi, buddhoti vadesī”ti pucchitvā, “buddhoti vadāmi, buddhoti vadāmī”ti tikkhattuṃ paṭijānāpetvā “ghosopi kho eso dullabho lokasmi”nti udānaṃ udānetvā “devate anekesu kappasatasahassesu asutapubbaṃ saddaṃ tayā suṇāpitamhā”ti āhaṃsu. Atha antevāsino ācariyaṃ etadavocuṃ – “tena hi satthu santikaṃ gacchāmā”ti. “Tātā, tayo seṭṭhino amhākaṃ bahūpakārā, sve tesaṃ nivesane bhikkhaṃ gaṇhitvā tesampi ācikkhitvā gamissāma, adhivāsetha, tātā”ti. Te adhivāsayiṃsu. Punadivase seṭṭhino yāgubhattaṃ sampādetvā āsanāni paññāpetvā “ajja no ayyānaṃ āgamanadivaso”ti ñatvā paccuggamanaṃ katvā te ādāya nivesanaṃ gantvā nisīdāpetvā bhikkhaṃ adaṃsu. Te katabhattakiccā mahāseṭṭhino “mayaṃ gamissāmā”ti vadiṃsu. “Nanu, bhante, tumhehi cattāro vassike māse amhākaṃ gahitāva paṭiññā, idāni kuhiṃ gacchathā”ti? “Loke kira buddho uppanno, dhammo uppanno, saṅgho uppanno, tasmā satthu santikaṃ gamissāmā”ti. “Kiṃ pana tassa satthuno santikaṃ tumhākaññeva gantuṃ vaṭṭatī”ti? “Aññesampi avāritaṃ, āvuso”ti. “Tena hi, bhante, āgametha, mayampi gamanaparivacchaṃ katvā gacchāmā”ti. “Tumhesu parivacchaṃ karontesu amhākaṃ papañco hoti, mayaṃ purato gacchāma, tumhe pacchā āgaccheyyāthā”ti vatvā te puretaraṃ gantvā sammāsambuddhaṃ disvā abhitthavitvā vanditvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. Atha nesaṃ satthā anupubbiṃ kathaṃ kathetvā dhammaṃ desesi. Desanāpariyosāne sabbepi saha paṭisambhidāhi arahattaṃ patvā pabbajjaṃ yācitvā “etha, bhikkhavo”ti vacanasamanantaraṃyeva iddhimayapattacīvaradharā ehibhikkhū ahesuṃ.
Tepi kho tayo seṭṭhino pañcahi pañcahi sakaṭasatehi bhattacchādanasappimadhuphāṇitādīni dānūpakaraṇāni ādāya sāvatthiṃ patvā satthāraṃ vanditvā dhammakathaṃ sutvā kathāpariyosāne sotāpattiphale patiṭṭhāya addhamāsamattampi dānaṃ dadamānā satthu santike vasitvā kosambiṃ āgamanatthāya satthāraṃ yācitvā satthārā paṭiññaṃ dadantena “suññāgāre kho gahapatayo tathāgatā abhiramantī”ti vutte, “aññātaṃ, bhante, amhehi pahitasāsanena āgantuṃ vaṭṭatī”ti vatvā kosambiṃ gantvā ghosakaseṭṭhi ghositārāmaṃ, kukkuṭaseṭṭhi kukkuṭārāmaṃ, pāvārikaseṭṭhi pāvārikārāmanti tayo mahāvihāre kāretvā satthu āgamanatthāya sāsanaṃ pahiṇiṃsu. Satthā tesaṃ sāsanaṃ sutvā tattha agamāsi. Te paccuggantvā satthāraṃ vihāraṃ pavesetvā vārena vārena paṭijagganti. Satthā devasikaṃ ekekasmiṃ vihāre vasati. Yassa vihāre vuṭṭho hoti, tasseva gharadvāre piṇḍāya carati. Tesaṃ pana tiṇṇaṃ seṭṭhīnaṃ upaṭṭhāko sumano nāma mālākāro ahosi. So te seṭṭhino evamāha – “ahaṃ tumhākaṃ dīgharattaṃ upakārako, satthāraṃ bhojetukāmomhi, mayhampi ekadivasaṃ satthāraṃ dethā”ti. “Tena hi bhaṇe sve bhojehī”ti. “Sādhu, sāmī”ti so satthāraṃ nimantetvā sakkāraṃ paṭiyādesi.
Tadā rājā sāmāvatiyā devasikaṃ pupphamūle aṭṭha kahāpaṇe deti. Tassā khujjuttarā nāma dāsī sumanamālākārassa santikaṃ gantvā nibaddhaṃ pupphāni gaṇhāti. Atha naṃ tasmiṃ divase āgataṃ mālākāro āha – “mayā satthā nimantito, ajja pupphehi satthāraṃ pūjessāmi, tiṭṭha tāva, tvaṃ parivesanāya sahāyikā hutvā dhammaṃ sutvā avasesāni pupphāni gahetvā gamissasī”ti. Sā “sādhū”ti adhivāsesi. Sumano buddhappamukhaṃ bhikkhusaṅghaṃ parivisitvā anumodanakaraṇatthāya pattaṃ aggahesi. Satthā anumodanadhammadesanaṃ ārabhi. Khujjuttarāpi satthu dhammakathaṃ suṇantīyeva sotāpattiphale patiṭṭhahi. Sā aññesu divasesu cattāro kahāpaṇe attano gahetvā catūhi pupphāni gahetvā gacchati, taṃ divasaṃ aṭṭhahipi pupphāni gahetvā gatā. Atha naṃ sāmāvatī āha – “kiṃ nu kho, amma, ajja amhākaṃ raññā dviguṇaṃ pupphamūlaṃ dinna”nti? “No, ayye”ti. “Atha kasmā bahūni pupphānī”ti? “Aññesu divasesu ahaṃ cattāro kahāpaṇe attano gahetvā catūhi pupphāni āharāmī”ti. “Ajja kasmā na gaṇhī”ti? “Sammāsambuddhassa dhammakathaṃ sutvā dhammassa adhigatattā”ti. Atha naṃ “are, duṭṭhadāsi ettakaṃ kālaṃ tayā gahitakahāpaṇe me dehī”ti atajjetvā, “amma, tayā pivitaṃ amataṃ amhepi pāyehī”ti vatvā “tena hi maṃ nhāpehī”ti vutte soḷasahi gandhodakaghaṭehi nhāpetvā dve maṭṭhasāṭake dāpesi. Sā ekaṃ nivāsetvā ekaṃ ekaṃsaṃ pārupitvā āsanaṃ paññāpetvā ekaṃ bījaniṃ āharāpetvā āsane nisīditvā citrabījaniṃ ādāya pañca mātugāmasatāni āmantetvā tāsaṃ satthārā desitaniyāmeneva dhammaṃ desesi. Tassā dhammakathaṃ sutvā tā sabbāpi sotāpattiphale patiṭṭhahiṃsu.
Tā sabbāpi khujjuttaraṃ vanditvā, “amma, ajjato paṭṭhāya tvaṃ kiliṭṭhakammaṃ mā kari, amhākaṃ mātuṭṭhāne ca ācariyaṭṭhāne ca ṭhatvā satthu santikaṃ gantvā satthārā desitaṃ dhammaṃ sutvā amhākaṃ kathehī”ti vadiṃsu. Sā tathā karontī aparabhāge tipiṭakadharā jātā. Atha naṃ satthā “etadaggaṃ, bhikkhave, mama sāvikānaṃ upāsikānaṃ bahussutānaṃ dhammakathikānaṃ yadidaṃ khujjuttarā”ti etadagge ṭhapesi. Tāpi kho pañcasatā itthiyo taṃ evamāhaṃsu – “amma, satthāraṃ daṭṭhukāmāmhā, taṃ no dassehi, gandhamālādīhi taṃ pūjessāmā”ti. “Ayye, rājakulaṃ nāma bhāriyaṃ, tumhe gahetvā bahi gantuṃ na sakkā”ti. “Amma, no mā nāsehi, dasseheva amhākaṃ satthāra”nti. “Tena hi tumhākaṃ vasanagabbhānaṃ bhittīsu yattakena oloketuṃ sakkā hoti, tattakaṃ chiddaṃ katvā gandhamālādīni āharāpetvā satthāraṃ tiṇṇaṃ seṭṭhīnaṃ gharadvāraṃ gacchantaṃ tumhe tesu tesu ṭhānesu ṭhatvā oloketha ceva, hatthe ca pasāretvā vandatha, pūjetha cā”ti. Tā tathā katvā satthāraṃ gacchantañca āgacchantañca oloketvā vandiṃsu ceva pūjesuñca.
Athekadivasaṃ māgaṇḍiyā attano pāsādatalato nikkhamitvā caṅkamamānā tāsaṃ vasanaṭṭhānaṃ gantvā gabbhesu chiddaṃ disvā, “idaṃ ki”nti pucchitvā, tāhi tassā satthari āghātabaddhabhāvaṃ ajānantīhi “satthā imaṃ nagaraṃ āgato, mayaṃ ettha ṭhatvā satthāraṃ vandāma ceva pūjema cā”ti vutte, “āgato nāma imaṃ nagaraṃ samaṇo gotamo, idānissa kattabbaṃ jānissāmi, imāpi tassa upaṭṭhāyikā, imāsampi kattabbaṃ jānissāmī”ti cintetvā gantvā rañño ārocesi – “mahārāja, sāmāvatimissikānaṃ bahiddhā patthanā atthi, katipāheneva te jīvitaṃ māressantī”ti. Rājā “na tā evarūpaṃ karissantī”ti na saddahi. Punappunaṃ vuttepi na saddahi eva. Atha naṃ evaṃ tikkhattuṃ vuttepi asaddahantaṃ “sace me na saddahasi, tāsaṃ vasanaṭṭhānaṃ gantvā upacārehi, mahārājā”ti āha. Rājā gantvā gabbhesu chiddaṃ disvā, “idaṃ ki”nti pucchitvā, tasmiṃ atthe ārocite tāsaṃ akujjhitvā, kiñci avatvāva chiddāni pidahāpetvā sabbagabbhesu uddhacchiddakavātapānāni kāresi. Uddhacchiddakavātapānāni kira tasmiṃ kāle uppannāni. Māgaṇḍiyā tāsaṃ kiñci kātuṃ asakkuṇitvā, “samaṇassa gotamasseva kattabbaṃ karissāmī”ti nāgarānaṃ lañjaṃ datvā, “samaṇaṃ gotamaṃ antonagaraṃ pavisitvā vicarantaṃ dāsakammakaraporisehi akkosetvā paribhāsetvā palāpethā”ti āṇāpesi. Micchādiṭṭhikā tīsu ratanesu appasannā antonagaraṃ paviṭṭhaṃ satthāraṃ anubandhitvā, “corosi, bālosi, mūḷhosi, oṭṭhosi, goṇosi, gadrabhosi, nerayikosi, tiracchānagatosi, natthi tuyhaṃ sugati, duggatiyeva tuyhaṃ pāṭikaṅkhā”ti dasahi akkosavatthūhi akkosanti paribhāsanti.
Taṃ sutvā āyasmā ānando satthāraṃ etadavoca – “bhante, ime nāgarā amhe akkosanti paribhāsanti, ito aññattha gacchāmā”ti. “Kuhiṃ, ānandoti”? “Aññaṃ nagaraṃ, bhante”ti. “Tattha manussesu akkosantesu puna kattha gamissāma, ānando”ti? “Tatopi aññaṃ nagaraṃ, bhante”ti. “Tatthāpi manussesu akkosantesu kuhiṃ gamissāmā”ti? “Tatopi aññaṃ nagaraṃ, bhante”ti. “Ānanda, evaṃ kātuṃ na vaṭṭati. Yattha adhikaraṇaṃ uppannaṃ, tattheva tasmiṃ vūpasante aññattha gantuṃ vaṭṭati. Ke pana te, ānanda, akkosantī”ti? “Bhante, dāsakammakare upādāya sabbe akkosantī”ti. “Ahaṃ, ānanda, saṅgāmaṃ otiṇṇahatthisadiso, saṅgāmaṃ otiṇṇahatthino hi catūhi disāhi āgate sare sahituṃ bhāro, tatheva bahūhi dussīlehi kathitakathānaṃ sahanaṃ nāma mayhaṃ bhāro”ti vatvā attānaṃ ārabbha dhammaṃ desento imā nāgavagge tisso gāthā abhāsi –
“Ahaṃ nāgova saṅgāme, cāpato patitaṃ saraṃ;
Ativākyaṃ titikkhissaṃ, dussīlo hi bahujjano.
“Dantaṃ nayanti samitiṃ, dantaṃ rājābhirūhati;
Danto seṭṭho manussesu, yotivākyaṃ titikkhati.
“Varamassatarā dantā, ājānīyā ca sindhavā;
Kuñjarā ca mahānāgā, attadanto tato vara”nti. (dha. pa. 320-322);
Dhammakathā sampattamahājanassa sātthikā ahosi. Evaṃ dhammaṃ desetvā mā cintayi, ānanda, ete sattāhamattameva akkosissanti, aṭṭhame divase tuṇhī bhavissanti, buddhānañhi uppannaṃ adhikaraṇaṃ sattāhato uttari na gacchati. Māgaṇḍiyā satthāraṃ akkosāpetvā palāpetuṃ asakkontī, “kiṃ nu kho karissāmī”ti cintetvā, “imā etassa upatthambhabhūtā, etāsampi byasanaṃ karissāmī”ti ekadivasaṃ rañño surāpānaṭṭhāne upaṭṭhānaṃ karontī cūḷapitu sāsanaṃ pahiṇi “attho me kira kukkuṭehi, aṭṭha matakukkuṭe, aṭṭha sajīvakukkuṭe ca gahetvā āgacchatu, āgantvā ca sopānamatthake ṭhatvā āgatabhāvaṃ nivedetvā ‘pavisatū’ti vuttepi apavisitvā paṭhamaṃ aṭṭha sajīvakukkuṭe pahiṇatu, ‘pacchā itare”’ti. Cūḷāpaṭṭhākassa ca “mama vacanaṃ kareyyāsī”ti lañjaṃ adāsi. Māgaṇḍiyo āgantvā, rañño nivedāpetvā, “pavisatū”ti vutte, “rañño āpānabhūmiṃ na pavisissāmī”ti āha. Itarā cūḷupaṭṭhākaṃ pahiṇi – “gaccha, tāta, mama cūḷapitu santika”nti. So gantvā tena dinne aṭṭha sajīvakukkuṭe ānetvā, “deva, purohitena paṇṇākāro pahito”ti āha. Rājā “bhaddako vata no uttaribhaṅgo uppanno, ko nu kho paceyyā”ti āha. Māgaṇḍiyā, “mahārāja, sāmāvatippamukhā pañcasatā itthiyo nikkammikā vicaranti, tāsaṃ pesehi, tā pacitvā āharissantī”ti āha. Rājā “gaccha, tāsaṃ datvā aññassa kira hatthe adatvā sayameva māretvā pacantū”ti pesesi. Cūḷupaṭṭhāko “sādhu devā”ti gantvā tathā vatvā tāhi “mayaṃ pāṇātipātaṃ na karomā”ti paṭikkhitto āgantvā tamatthaṃ rañño ārocesi. Māgaṇḍiyā “diṭṭhaṃ te, mahārāja, idāni tāsaṃ pāṇātipātassa karaṇaṃ vā akaraṇaṃ vā jānissasi, ‘samaṇassa gotamassa pacitvā pesentū’ti vadehi devā”ti āha. Rājā tathā vatvā pesesi. Itaro te gahetvā gacchanto viya hutvā gantvā te kukkuṭe purohitassa datvā matakukkuṭe tāsaṃ santikaṃ netvā, “ime kira kukkuṭe pacitvā satthu santikaṃ pahiṇathā”ti āha. Tā, “sāmi, āhara, idaṃ nāma amhākaṃ kicca”nti paccuggantvā gaṇhiṃsu. So rañño santikaṃ gantvā, “kiṃ, tātā”ti puṭṭho, “samaṇassa gotamassa pacitvā pesethāti vuttamatteyeva paṭimaggaṃ āgantvā gaṇhiṃsū”ti ācikkhi. Māgaṇḍiyā “passa, mahārāja, na tā tumhādisānaṃ karonti, bahiddhā patthanā tāsaṃ atthīti vutte na saddahasī”ti āha. Rājā taṃ sutvāpi adhivāsetvā tuṇhīyeva ahosi. Māgaṇḍiyā “kiṃ nu kho karissāmī”ti cintesi.
Tadā pana rājā “sāmāvatiyā vāsuladattāya māgaṇḍiyāya cā”ti tissannampi etāsaṃ pāsādatale vārena vārena sattāhaṃ sattāhaṃ vītināmeti. Atha naṃ “sve vā parasuve vā sāmāvatiyā pāsādatalaṃ gamissatī”ti ñatvā māgaṇḍiyā cūḷapitu sāsanaṃ pahiṇi – “agadena kira dāṭhā dhovitvā ekaṃ sappaṃ pesetū”ti. So tathā katvā pesesi. Rājā attano gamanaṭṭhānaṃ hatthikantavīṇaṃ ādāyayeva gacchati, tassā pokkhare ekaṃ chiddaṃ atthi. Māgaṇḍiyā tena chiddena sappaṃ pavesetvā chiddaṃ mālāguḷena thakesi. Sappo dvīhatīhaṃ antovīṇāyameva ahosi. Māgaṇḍiyā rañño gamanadivase “ajja katarissitthiyā pāsādaṃ gamissasi devā”ti pucchitvā “sāmāvatiyā”ti vutte, “ajja mayā, mahārāja, amanāpo supino diṭṭho. Na sakkā tattha gantuṃ, devā”ti? “Gacchāmevā”ti. Sā yāva tatiyaṃ vāretvā, “evaṃ sante ahampi tumhehi saddhiṃ gamissāmi, devā”ti vatvā nivattiyamānāpi anivattitvā, “na jānāmi, kiṃ bhavissati devā”ti raññā saddhiṃyeva agamāsi.
Rājā sāmāvatimissikāhi dinnāni vatthapupphagandhābharaṇāni dhāretvā subhojanaṃ bhuñjitvā vīṇaṃ ussīsake ṭhapetvā sayane nipajji. Māgaṇḍiyā aparāparaṃ vicarantī viya hutvā vīṇāchiddato pupphaguḷaṃ apanesi. Sappo dvīhatīhaṃ nirāhāro tena chiddena nikkhamitvā passasanto phaṇaṃ katvā sayanapiṭṭhe nipajji. Māgaṇḍiyā taṃ disvā, “dhī dhī, deva, sappo”ti mahāsaddaṃ katvā rājānañca tā ca akkosantī, “ayaṃ andhabālarājā alakkhiko mayhaṃ vacanaṃ na suṇāti, imāpi nissirīkā dubbinītā, kiṃ nāma rañño santikā na labhanti, kiṃ nu tumhe imasmiṃ mateyeva sukhaṃ jīvissatha, jīvante dukkhaṃ jīvatha, ‘ajja mayā pāpasupino diṭṭho, sāmāvatiyā pāsādaṃ gantuṃ na vaṭṭatī’ti vārentiyāpi me vacanaṃ na suṇasi, devā”ti āha. Rājā sappaṃ disvā maraṇabhayatajjito “evarūpampi nāma imā karissanti, aho pāpā, ahaṃ imāsaṃ pāpabhāvaṃ ācikkhantiyāpi imissā vacanaṃ na saddahiṃ, paṭhamaṃ attano gabbhesu chiddāni katvā nisinnā, puna mayā pesite kukkuṭe paṭipahiṇiṃsu, ajja sayane sappaṃ vissajjiṃsū”ti kodhena sampajjalito viya ahosi.
Sāmāvatīpi pañcannaṃ itthisatānaṃ ovādaṃ adāsi – “ammā, amhākaṃ aññaṃ paṭisaraṇaṃ natthi, narinde ca deviyā ca attani ca samameva mettacittaṃ pavattetha, mā kassaci kopaṃ karitthā”ti. Rājā sahassathāmaṃ siṅgadhanuṃ ādāya jiyaṃ pothetvā visapītaṃ saraṃ sannayhitvā sāmāvatiṃ dhure katvā sabbā tā paṭipāṭiyā ṭhapāpetvā sāmāvatiyā ure saraṃ vissajjesi. So tassā mettānubhāvena paṭinivattitvā āgatamaggābhimukhova hutvā rañño hadayaṃ pavisanto viya aṭṭhāsi. Rājā cintesi – “mayā khitto saro silampi vinivijjhitvā gacchati, ākāse paṭihananakaṭṭhānaṃ natthi, atha ca panesa nivattitvā mama hadayābhimukho jāto, ayañhi nāma nissatto nijjīvo saropi etissā guṇaṃ jānāti, ahaṃ manussabhūtopi na jānāmī”ti, so dhanuṃ chaḍḍetvā añjaliṃ paggayha sāmāvatiyā pādamūle ukkuṭikaṃ nisīditvā imaṃ gāthamāha –
“Sammuyhāmi pamuyhāmi, sabbā muyhanti me disā;
Sāmāvati maṃ tāyassu, tvañca me saraṇaṃ bhavā”ti.
Sā tassa vacanaṃ sutvā, “sādhu, deva, maṃ saraṇaṃ gacchā”ti avatvā, “yamahaṃ, mahārāja, saraṇaṃ gatā, tameva tvampi saraṇaṃ gacchāhī”ti idaṃ vatvā sāmāvatī sammāsambuddhasāvikā –
“Mā maṃ tvaṃ saraṇaṃ gaccha, yamahaṃ saraṇaṃ gatā;
Esa buddho mahārāja, esa buddho anuttaro;
Saraṇaṃ gaccha taṃ buddhaṃ, tvañca me saraṇaṃ bhavā”ti. –
Āha. Rājā tassa vacanaṃ sutvā, “idānāhaṃ atirekataraṃ bhāyāmī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –
“Esa bhiyyo pamuyhāmi, sabbā muyhanti me disā;
Sāmāvati maṃ tāyassu, tvañca me saraṇaṃ bhavā”ti.
Atha naṃ sā purimanayeneva puna paṭikkhipitvā, “tena hi tvañca saraṇaṃ gacchāmi, satthārañca saraṇaṃ gacchāmi, varañca te dammī”ti vutte, “varo gahito hotu, mahārājā”ti āha. So satthāraṃ upasaṅkamitvā saraṇaṃ gantvā nimantetvā buddhappamukhassa bhikkhusaṅghassa sattāhaṃ mahādānaṃ datvā sāmāvatiṃ āmantetvā, “uṭṭhehi, varaṃ gaṇhā”ti āha. “Mahārāja, mayhaṃ hiraññādīhi attho natthi, imaṃ pana me varaṃ dehi, tathā karohi, yathā satthā nibaddhaṃ pañcahi bhikkhusatehi saddhiṃ idhāgacchati, dhammaṃ suṇissāmī”ti. Rājā satthāraṃ vanditvā, “bhante, pañcahi bhikkhusatehi saddhiṃ nibaddhaṃ idhāgacchatha, sāmāvatimissikā ‘dhammaṃ suṇissāmā’ti vadantī”ti āha. “Mahārāja, buddhānaṃ nāma ekasmiṃ ṭhāne nibaddhaṃ gantuṃ na vaṭṭati, mahājano satthāraṃ āgamanatthāya paccāsīsatī”ti. “Tena hi, bhante, ekaṃ bhikkhuṃ āṇāpethā”ti. Satthā ānandattheraṃ āṇāpesi. So tato paṭṭhāya pañca bhikkhusatāni ādāya nibaddhaṃ rājakulaṃ gacchati. Tāpi deviyo nibaddhaṃ theraṃ saparivāraṃ bhojenti, dhammaṃ suṇanti. Tā ekadivasaṃ therassa dhammakathaṃ sutvā pasīditvā, pañcahi uttarāsaṅgasatehi dhammapūjaṃ akaṃsu. Ekeko uttarāsaṅgo pañca satāni pañca satāni agghati.
Tā ekavatthā disvā rājā pucchi – “kuhiṃ vo uttarāsaṅgo”ti. “Ayyassa no dinnā”ti. “Tena sabbe gahitā”ti? “Āma, gahitā”ti. Rājā theraṃ upasaṅkamitvā vanditvā tāhi uttarāsaṅgānaṃ dinnabhāvaṃ pucchitvā tāhi dinnabhāvañca therena gahitabhāvañca sutvā, “nanu, bhante, atibahūni vatthāni, ettakehi kiṃ karissathā”ti pucchi. “Amhākaṃ pahonakāni vatthāni gaṇhitvā sesāni jiṇṇacīvarikānaṃ bhikkhūnaṃ dassāmi, mahārājā”ti. “Te attano jiṇṇacīvarāni kiṃ karissantī”ti? “Jiṇṇataracīvarikānaṃ dassantī”ti. “Te attano jiṇṇataracīvarāni kiṃ karissantī”ti? “Paccattharaṇāni karissantī”ti. “Purāṇapaccattharaṇāni kiṃ karissantī”ti? “Bhūmattharaṇāni karissantī”ti. “Purāṇabhūmattharaṇāni kiṃ karissantī”ti? “Pādapuñchanāni karissanti, mahārājā”ti. “Purāṇapādapuñchanāni kiṃ karissantī”ti? “Khaṇḍākhaṇḍikaṃ koṭṭetvā mattikāya madditvā bhittiṃ limpissantī”ti. “Bhante, ettakāni katvāpi ayyānaṃ dinnāni na nassantī”ti? “Āma, mahārājā”ti. Rājā pasanno aparānipi pañca vatthasatāni āharāpetvā therassa pādamūle ṭhapāpesi. Thero kira pañcasatagghanakāneva vatthāni pañcasatabhāgena pādamūle ṭhapetvā dinnāni pañcasatakkhattuṃ labhi, sahassagghanakāni sahassabhāgena pādamūle ṭhapetvā dinnāni sahassakkhattuṃ labhi, satasahassagghanakāni satasahassabhāgena pādamūle ṭhapetvā dinnāni satasahassakkhattuṃ labhi. Ekaṃ dve tīṇi cattāri pañca dasātiādinā nayena laddhānaṃ pana gaṇanā nāma natthi. Tathāgate kira parinibbute thero sakalajambudīpaṃ vicaritvā sabbavihāresu bhikkhūnaṃ attano santakāneva pattacīvarāni adāsi.
Tadā māgaṇḍiyāpi “yamahaṃ karomi. Taṃ tathā ahutvā aññathāva hoti, idāni kiṃ nu kho karissāmī”ti cintetvā, “attheso upāyo”ti raññe uyyānakīḷaṃ gacchante cūḷapitu sāsanaṃ pahiṇi – “sāmāvatiyā pāsādaṃ gantvā, dussakoṭṭhāgārāni ca telakoṭṭhāgārāni ca vivarāpetvā, dussāni telacāṭīsu temetvā temetvā thambhe veṭhetvā tā sabbāpi ekato katvā dvāraṃ pidahitvā bahi yantakaṃ datvā daṇḍadīpikāhi gehe aggiṃ dadamāno otaritvā gacchatū”ti. So pāsādaṃ abhiruyha koṭṭhāgārāni vivaritvā vatthāni telacāṭīsu temetvā temetvā thambhe veṭhetuṃ ārabhi. Atha naṃ sāmāvatippamukhā itthiyo “kiṃ etaṃ cūḷapitā”ti vadantiyo upasaṅkamiṃsu. “Ammā, rājā daḷhikammatthāya ime thambhe telapilotikāhi veṭhāpeti, rājagehe nāma suyuttaṃ duyuttaṃ dujjānaṃ, mā me santike hotha, ammā”ti evaṃ vatvā tā āgatā gabbhe pavesetvā dvārāni pidahitvā bahi yantakaṃ datvā ādito paṭṭhāya aggiṃ dento otari. Sāmāvatī tāsaṃ ovādaṃ adāsi – “amhākaṃ anamatagge saṃsāre vicarantīnaṃ evameva agginā jhāyamānānaṃ attabhāvānaṃ paricchedo buddhañāṇenapi na sukaro, appamattā hothā”ti. Tā gehe jhāyante vedanāpariggahakammaṭṭhānaṃ manasikarontiyo kāci dutiyaphalaṃ, kāci tatiyaphalaṃ pāpuṇiṃsu. Tena vuttaṃ – “atha kho sambahulā bhikkhū pacchābhattaṃ piṇḍapātapaṭikkantā yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu, upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu, ekamantaṃ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṃ etadavocuṃ – ‘idha, bhante, rañño utenassa uyyānagatassa antepuraṃ daḍḍhaṃ, pañca ca itthisatāni kālakatāni sāmāvatippamukhāni. Tāsaṃ, bhante, upāsikānaṃ kā gati, ko abhisamparāyo’ti? Santettha, bhikkhave, upāsikāyo sotāpannā, santi sakadāgāmiyo, santi anāgāmiyo, sabbā tā, bhikkhave, upāsikāyo anipphalā kālakatā”ti. Atha kho bhagavā etamatthaṃ viditvā tāyaṃ velāyaṃ imaṃ udānaṃ udānesi –
“Mohasambandhano loko, bhabbarūpova dissati;
Upadhībandhano bālo, tamasā parivārito;
Sassatoriva khāyati, passato natthi kiñcana”nti. (udā. 70);
Evañca pana vatvā, “bhikkhave, sattā nāma vaṭṭe vicarantā niccakālaṃ appamattā hutvā puññakammameva na karonti, pamādino hutvā pāpakammampi karonti. Tasmā vaṭṭe vicarantā sukhampi dukkhampi anubhavantī”ti dhammaṃ desesi.
Rājā “sāmāvatiyā gehaṃ kira jhāyatī”ti sutvā vegenāgacchantopi adaḍḍhe sampāpuṇituṃ nāsakkhi. Āgantvā pana gehaṃ nibbāpento uppannabalavadomanasso amaccagaṇaparivuto nisīditvā sāmāvatiyā guṇe anussaranto, “kassa nu kho idaṃ kamma”nti cintetvā – “māgaṇḍiyāya kāritaṃ bhavissatī”ti ñatvā, “tāsetvā pucchiyamānā na kathessati, saṇikaṃ upāyena pucchissāmī”ti cintetvā amacce āha – “ambho, ahaṃ ito pubbe uṭṭhāya samuṭṭhāya āsaṅkitaparisaṅkitova homi, sāmāvatī me niccaṃ otārameva gavesati, idāni pana me cittaṃ nibbutaṃ bhavissati, sukhena ca vasituṃ labhissāmī”ti, te “kena nu kho, deva, idaṃ kata”nti āhaṃsu. “Mayi sinehena kenaci kataṃ bhavissatī”ti. Māgaṇḍiyāpi samīpe ṭhitā taṃ sutvā, “nāñño koci kātuṃ sakkhissati, mayā kataṃ, deva, ahaṃ cūḷapitaraṃ āṇāpetvā kāresi”nti āha. “Taṃ ṭhapetvā añño mayi sineho satto nāma natthi, pasannosmi, varaṃ te dammi, attano ñātigaṇaṃ pakkosāpehī”ti. Sā ñātakānaṃ sāsanaṃ pahiṇi – “rājā me pasanno varaṃ deti, sīghaṃ āgacchantū”ti. Rājā āgatāgatānaṃ mahantaṃ sakkāraṃ kāresi. Taṃ disvā tassā aññātakāpi lañjaṃ datvā “mayaṃ māgaṇḍiyāya ñātakā”ti āgacchiṃsu. Rājā te sabbe gāhāpetvā rājaṅgaṇe nābhippamāṇe āvāṭe khaṇāpetvā te tattha nisīdāpetvā paṃsūhi pūretvā upari palāle vikirāpetvā aggiṃ dāpesi. Cammassa daḍḍhakāle ayanaṅgalena kasāpetvā khaṇḍākhaṇḍaṃ hīrāhīraṃ kāresi. Māgaṇḍiyāya sarīratopi tikhiṇena satthena ghanaghanaṭṭhānesu maṃsaṃ uppāṭetvā telakapālaṃ uddhanaṃ āropetvā pūve viya pacāpetvā tameva khādāpesi.
Dhammasabhāyampi bhikkhū kathaṃ samuṭṭhāpesuṃ, “ananucchavikaṃ vata, āvuso, evarūpāya saddhāya pasannāya upāsikāya evarūpaṃ maraṇa”nti. Satthā āgantvā, “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā”ti pucchitvā, “imāya nāmā”ti vutte “bhikkhave, imasmiṃ attabhāve sāmāvatippamukhānaṃ itthīnaṃ etaṃ ayuttaṃ sampattaṃ. Pubbe katakammassa pana yuttameva etāhi laddha”nti vatvā, “kiṃ, bhante, etāhi pubbe kataṃ, taṃ ācikkhathā”ti tehi yācito atītaṃ āhari –
Atīte bārāṇasiyaṃ brahmadatte rajjaṃ kārente rājagehe nibaddhaṃ aṭṭha paccekabuddhā bhuñjanti. Pañcasatā itthiyo te upaṭṭhahanti. Tesu satta paccekabuddhā himavantaṃ gacchanti, eko nadītīre ekaṃ tiṇagahanaṃ atthi, tattha jhānaṃ samāpajjitvā nisīdi. Athekadivasaṃ rājā paccekabuddhesu gatesu tā itthiyo ādāya nadiyaṃ udakakīḷaṃ kīḷituṃ gato. Tattha tā itthiyo divasabhāgaṃ udake kīḷitvā uttaritvā sītapīḷitā aggiṃ visibbetukāmā “amhākaṃ aggikaraṇaṭṭhānaṃ olokethā”ti aparāparaṃ vicarantiyo taṃ tiṇagahanaṃ disvā, “tiṇarāsī”ti saññāya taṃ parivāretvā ṭhitā aggiṃ adaṃsu. Tiṇesu jhāyitvā patantesu paccekabuddhaṃ disvā, “naṭṭhāmhā, amhākaṃ rañño paccekabuddho jhāyati, rājā ñatvā amhe nāsessati, sudaḍḍhaṃ naṃ karissāmā”ti sabbā tā itthiyo ito cito ca dārūni āharitvā tassa upari dārurāsiṃ kariṃsu. Mahādārurāsi ahosi. Atha naṃ ālimpetvā, “idāni jhāyissatī”ti pakkamiṃsu. Tā paṭhamaṃ asañcetanikā hutvā kammunā na bajjhiṃsu, idāni pacchā sañcetanāya kammunā bajjhiṃsu. Paccekabuddhaṃ pana antosamāpattiyaṃ sakaṭasahassehi dārūni āharitvā ālimpentāpi usmākāramattampi gahetuṃ na sakkonti. Tasmā so sattame divase uṭṭhāya yathāsukhaṃ agamāsi. Tā tassa kammassa katattā bahūni vassasatasahassāni niraye paccitvā tasseva kammassa vipākāvasesena attabhāvasate imināva niyāmena gehe jhāyamāne jhāyiṃsu. Idaṃ etāsaṃ pubbakammanti.
Evaṃ vutte bhikkhū satthāraṃ paṭipucchiṃsu – “khujjuttarā pana, bhante, kena kammena khujjā jātā, kena kammena mahāpaññā, kena kammena sotāpattiphalaṃ adhigatā, kena kammena paresaṃ pesanakāritā jātā”ti? Bhikkhave, tasseva rañño bārāṇasiyaṃ rajjaṃ karaṇakāle sveva paccekabuddho thokaṃ khujjadhātuko ahosi. Athekā upaṭṭhāyikā itthī kambalaṃ pārupitvā suvaṇṇasaraṇaṃ gahetvā, “amhākaṃ paccekabuddho evañca evañca vicaratī”ti khujjā hutvā tassa vicaraṇākāraṃ dassesi. Tassa nissandena khujjā jātā. Te pana paccekabuddhe paṭhamadivase rājagehe nisīdāpetvā patte gāhāpetvā pāyāsassa pūretvā dāpesi. Uṇhapāyāsassa pūre patte paccekabuddhā parivattetvā parivattetvā gaṇhanti. Sā itthī te tathā karonte disvā attano santakāni aṭṭha dantavalayāni datvā, “idha ṭhapetvā gaṇhathā”ti āha. Tesu tathā katvā taṃ oloketvā ṭhitesu tesaṃ adhippāyaṃ ñatvā, “natthi, bhante, amhākaṃ etehi attho. Tumhākaññeva etāni pariccattāni, gahetvā gacchathā”ti āha. Te gahetvā nandamūlakapabbhāraṃ agamaṃsu. Ajjatanāpi tāni valayāni arogāneva. Sā tassa kammassa nissandena idāni tipiṭakadharā mahāpaññā jātā. Paccekabuddhānaṃ kataupaṭṭhānassa nissandena pana sotāpattiphalaṃ pattā. Idamassā buddhantare pubbakammaṃ.
Kassapasammāsambuddhakāle pana ekā bārāṇasiseṭṭhino dhītā vaḍḍhamānakacchāyāya ādāsaṃ gahetvā attānaṃ alaṅkarontī nisīdi. Athassā vissāsikā ekā khīṇāsavā bhikkhunī taṃ daṭṭhuṃ agamāsi. Bhikkhuniyo hi khīṇāsavāpi sāyanhasamaye upaṭṭhākakulāni daṭṭhukāmā honti. Tasmiṃ pana khaṇe seṭṭhidhītāya santike kāci pesanakārikā natthi, sā “vandāmi, ayye, etaṃ tāva me pasādhanapeḷakaṃ gahetvā dethā”ti āha. Therī cintesi – “sacassā imaṃ gaṇhitvā na dassāmi, mayi āghātaṃ katvā niraye nibbattissati. Sace pana dassāmi, parassa pesanakārikā hutvā nibbattissati. Nirayasantāpato kho pana parassa pesanabhāvova seyyo”ti. “Sā anudayaṃ paṭicca taṃ gahetvā tassā adāsi. Tassa kammassa nissandena paresaṃ pesanakārikā jātā”ti.
Atha punekadivasaṃ bhikkhū dhammasabhāyaṃ kathaṃ samuṭṭhāpesuṃ “sāmāvatippamukhā pañcasatā itthiyo gehe agginā jhāyiṃsu, māgaṇḍiyāya ñātakā upari palālaggiṃ datvā ayanaṅgalehi bhinnā, māgaṇḍiyā pakkuthitatele pakkā, ke nu kho ettha jīvanti nāma, ke matā nāmā”ti. Satthā āgantvā, “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā”ti pucchitvā, “imāya nāmā”ti vutte, “bhikkhave, ye keci pamattā, te vassasataṃ jīvantāpi matāyeva nāma. Ye appamattā, te matāpi jīvantiyeva. Tasmā māgaṇḍiyā jīvantīpi matāyeva nāma, sāmāvatippamukhā pañcasatā itthiyo matāpi jīvantiyeva nāma. Na hi, bhikkhave, appamattā maranti nāmā”ti vatvā imā gāthā abhāsi –
“Appamādo amatapadaṃ, pamādo maccuno padaṃ;
Appamattā na mīyanti, ye pamattā yathā matā.
“Evaṃ visesato ñatvā, appamādamhi paṇḍitā;
Appamāde pamodanti, ariyānaṃ gocare ratā.
“Te jhāyino sātatikā, niccaṃ daḷhaparakkamā;
Phusanti dhīrā nibbānaṃ, yogakkhemaṃ anuttara”nti.
Tattha appamādoti padaṃ mahantaṃ atthaṃ dīpeti, mahantaṃ atthaṃ gahetvā tiṭṭhati. Sakalampi hi tepiṭakaṃ buddhavacanaṃ āharitvā kathiyamānaṃ appamādapadameva otarati. Tena vuttaṃ –
“Seyyathāpi, bhikkhave, yāni kānici jaṅgalānaṃ pāṇānaṃ padajātāni, sabbāni tāni hatthipade samodhānaṃ gacchanti, hatthipadaṃ tesaṃ aggamakkhāyati yadidaṃ mahantattena. Evameva kho, bhikkhave, ye keci kusalā dhammā, sabbete appamādamūlakā appamādasamosaraṇā, appamādo tesaṃ dhammānaṃ aggamakkhāyatī”ti (saṃ. ni. 5.140).
So panesa atthato satiyā avippavāso nāma. Niccaṃ upaṭṭhitāya satiyā cetaṃ nāmaṃ. Amatapadanti amataṃ vuccati nibbānaṃ. Tañhi ajātattā nu jīyati na mīyati, tasmā amatanti vuccati. Pajjanti imināti padaṃ, amataṃ pāpuṇantīti attho. Amatassa padaṃ amatapadaṃ, amatassa adhigamūpāyoti vuttaṃ hoti, pamādoti pamajjanabhāvo, muṭṭhassatisaṅkhātassa satiyā vosaggassetaṃ nāmaṃ. Maccunoti maraṇassa. Padanti upāyo maggo. Pamatto hi jātiṃ nātivattati, jāto jīyati ceva mīyati cāti pamādo maccuno padaṃ nāma hoti, maraṇaṃ upeti. Appamattā na mīyantīti satiyā samannāgatā hi appamattā na maranti. Ajarā amarā hontīti na sallakkhetabbaṃ. Na hi koci satto ajaro amaro nāma atthi, pamattassa pana vaṭṭaṃ nāma aparicchinnaṃ, appamattassa paricchinnaṃ. Tasmā pamattā jātiādīhi aparimuttattā jīvantāpi matāyeva nāma. Appamattā pana appamādalakkhaṇaṃ vaḍḍhetvā khippaṃ maggaphalāni sacchikatvā dutiyatatiyaattabhāvesu na nibbattanti. Tasmā te jīvantāpi matāpi na mīyantiyeva nāma. Ye pamattā yathā matāti ye pana sattā pamattā, te pamādamaraṇena matattā, yathā hi jīvitindriyupacchedena matā dārukkhandhasadisā apagataviññāṇā, tatheva honti. Tesampi hi matānaṃ viya gahaṭṭhānaṃ tāva “dānaṃ dassāma, sīlaṃ rakkhissāma, uposathakammaṃ karissāmā”ti ekacittampi na uppajjati, pabbajitānampi “ācariyupajjhāyavattādīni pūressāma, dhutaṅgāni samādiyissāma, bhāvanaṃ vaḍḍhessāmā”ti na uppajjatīti matena te kiṃ nānākaraṇāva honti. Tena vuttaṃ – “ye pamattā yathā matā”ti.
Evaṃ visesato ñatvāti pamattassa vaṭṭato nissaraṇaṃ natthi, appamattassa atthīti evaṃ visesatova jānitvā. Ke panetaṃ visesaṃ jānantīti? Appamādamhi paṇḍitāti ye paṇḍitā medhāvino sappaññā attano appamāde ṭhatvā appamādaṃ vaḍḍhenti, te evaṃ visesakāraṇaṃ jānanti. Appamāde pamodantīti te evaṃ ñatvā tasmiṃ attano appamāde pamodanti, pahaṃsitamukhā tuṭṭhapahaṭṭhā honti. Ariyānaṃ gocare ratāti te evaṃ appamāde pamodantā taṃ appamādaṃ vaḍḍhetvā ariyānaṃ buddhapaccekabuddhabuddhasāvakānaṃ gocarasaṅkhāte catusatipaṭṭhānādibhede sattatiṃsa bodhipakkhiyadhamme navavidhalokuttaradhamme ca ratā niratā, abhiratā hontīti attho.
Te jhāyinoti te appamattā paṇḍitā aṭṭhasamāpattisaṅkhātena ārammaṇūpanijjhānena vipassanāmaggaphalasaṅkhātena lakkhaṇūpanijjhānena cāti duvidhenapi jhānena jhāyino. Sātatikāti abhinikkhamanakālato paṭṭhāya yāva arahattamaggā satataṃ pavattakāyikacetasikavīriyā. Niccaṃ daḷhaparakkamāti yaṃ taṃ purisathāmena purisavīriyena purisaparakkamena pattabbaṃ, na taṃ apāpuṇitvā vīriyassa saṇṭhānaṃ bhavissatīti evarūpena vīriyena antarā anosakkitvā niccappavattena daḷhaparakkamena samannāgatā. Phusantīti ettha dve phusanā ñāṇaphusanā ca, vipākaphusanā ca. Tattha cattāro maggā ñāṇaphusanā nāma, cattāri phalāni vipākaphusanā nāma. Tesu idha vipākaphusanā adhippetā. Ariyaphalena nibbānaṃ sacchikaronto dhīrā paṇḍitā tāya vipākaphusanāya phusanti, nibbānaṃ sacchikaronti. Yogakkhemaṃ anuttaranti ye cattāro yogā mahājanaṃ vaṭṭe osīdāpenti, tehi khemaṃ nibbhayaṃ sabbehi lokiyalokuttaradhammehi seṭṭhattā anuttaranti.
Desanāpariyosāne bahū sotāpannādayo ahesuṃ. Desanā mahājanassa sātthikā jātāti.
Sāmāvatīvatthu paṭhamaṃ.
II. 1. Story-Cycle Of King Udena Or Udayana
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
21. Heedfulness is the Way to the Deathless; heedlessness is the way to death.
The heedful never die, but they that are heedless are, as it were, dead already.
22. Knowing this clearly, they that are advanced in heedfulness
Delight in heedfulness, and rejoice in the state of the Elect.
23. They that devote themselves to meditation, they that are persevering, they that put forth resolute effort.
They, the wise, attain Nibbāna, the highest bliss.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Ghosita monastery near Kosambi, and it was with reference to the loss by death of the five hundred women led by Sāmāvatī and of Māgandiyā and her five hundred kinswomen. From beginning to end the story is as follows:
Part 1. Birth and youthful career of Udena
Once upon a time King Allakappa ruled over the kingdom of Allakappa and King Veṭhadīpaka ruled over the kingdom of Veṭhadīpaka. They had been intimate friends since their boyhood-days and had received their education in the house of the same teacher. On the death of their fathers they raised the royal parasol and became rulers of kingdoms, each of which was ten leagues in extent.
As they met from time to time, and stood and sat and lay down to sleep together, and watched the multitudes being born into the world and dying again, they came to the conclusion, “When a man goes to the world beyond he can take nothing with him: he must leave everything behind him when he goes thither; even his own body does not follow him; of what use to us is the life of the householder? Let us retire from the world.”
Accordingly they resigned their kingdoms to son and wife, retired from the world, adopted the life of ascetics, and took up their residence in the Himālaya country. And they took counsel together, saying, “Although we have renounced our kingdoms and retired from the world, we shall encounter no difficulty in gaining a living; but if we reside together in the same place, our life will be quite unlike the life of ascetics; therefore let us live apart. You live on this mountain; I will live on that. Every fortnight, on fast-day, we will meet together.” Then this thought occurred to them, “Under this arrangement neither of us will be in regular communication with the other; but in order that each of us may know whether the other is living or not, you light a fire on your mountain, and I will light a fire on mine.” And this they did.
After a time the ascetic Veṭhadīpaka died and was reborn as a prince of deities of mighty power. A fortnight later Allakappa saw no fire on the mountain and knew that his comrade was dead. As soon as ever Veṭhadīpaka was reborn, he surveyed his own heavenly glory, considered the deeds of his former existence, reviewed the austerities he had performed from the day when he retired from the world, and said to himself, “I will go see my comrade.” Accordingly he laid aside his form as a deity, disguised himself as a wayfarer, went to Allakappa, paid obeisance to him, and stood respectfully on one side.
Allakappa said to him, “Whence have you come?” “I am a wayfarer, Reverend Sir; I have come a long distance. But, Reverend Sir, does your honor reside entirely alone in this place? Is there no one else here?” “I have a single comrade.” “Where is he?” “He resides on that mountain; but as he failed to light a fire on fast-day, I know he must be dead.” “Is that so, Reverend Sir?” “That is so, brother.” “I am he, Reverend Sir.” “Where were you reborn?” “Reverend Sir, I was reborn in the World of the Gods as a prince of deities of mighty power. I have returned to see your honor. Does your honorable self reside in this place undisturbed, or are you subject to some annoyance?” “Yes, brother, I am bothered to death by the elephants.” “Reverend Sir, what do the elephants do to trouble you?” “They drop dung on the ground I have swept clean, and they stamp with their feet and kick up the dust. What with removing the dung and smoothing the ground, I am all worn out.” “Well, would you like to keep them away?” “Yes, brother.” “Well then, I will provide you with means whereby you can keep them away.”
Accordingly Veṭhadīpaka gave Allakappa a lute to charm elephants with and likewise taught him spells for charming elephants. Now as he presented the lute to him, he showed him three strings and taught him three spells. “Strike this string,” said he, “and utter this spell, and the elephants will turn and run away without so much as daring even to look at you; strike this string and utter this spell, and they will turn and run away, eyeing you at every step; strike this string and utter this spell, and the leader of the herd will come up and offer you his back. Now do as you like.” With these words he departed. Thereafter the ascetic lived in peace, driving the elephants away by uttering the proper spell and striking the proper string.
At this time Parantapa was king of Kosambi. One day he was sitting out in the open air basking himself in the rays of the newly risen sun, and beside him sat his queen, great with child. The queen was wearing the king’s cloak, a crimson blanket worth a hundred thousand pieces of money; and as she sat there conversing with the king she removed from the king’s finger the royal signet, worth a hundred thousand pieces of money, and slipped it on her own.
Just at that moment a monster bird with a bill as big as an elephant’s trunk came soaring through the air. Seeing the queen and mistaking her for a piece of meat, he spread his wings and swooped down. When the king heard the bird swoop down, he sprang to his feet and entered the royal palace. But the queen, because she was great with child and because she was of a timid nature, was unable to make haste. The bird pounced upon her, caught her up in the cage of his talons, and soared away with her into the air. (These birds are said to possess the strength of five elephants; they are therefore able to convey their victims through the air, settle wherever they wish, and devour their flesh.)
As the queen was being carried away by the bird, terrified though she was with the fear of death, she preserved her presence of mind and thought to herself, “Animals stand in great fear of the human voice. Therefore if I cry out, this bird will drop me the instant he hears the sound of my voice. But in that case I should accomplish only my own destruction and that of my unborn child. If, however, I wait until he settles somewhere and begins to eat, then I can make a noise and frighten him away.” Through her own wisdom, therefore, she kept patience and endured.
Now there stood at that time in the Himālaya country a banyan-tree which, although of brief growth, had attained great size and was like a pavilion in form; and to this tree that bird was accustomed to convey the carcasses of wild animals and eat them. To this very tree, therefore, the bird conveyed the queen, lodged her in a fork of the tree, and watched the path leading to the tree. (It is the nature of these birds, we are told, to watch the path leading to their tree.) At that moment the queen, thinking to herself, “Now is the time to frighten him away,” raised both her hands, clapped them together and shouted, and frightened the bird away.
At sunset the pains of travail came upon her, and at the same time from all the four quarters of heaven arose a great storm. The delicate queen, half dead with suffering, with no one beside her to say to her, “Fear not, lady,” slept not at all throughout the night. As the night grew bright, the clouds scattered, the dawn came, and her child was born at one and the same moment. Because the child was born at the time (utu) of a storm, at the time when she was upon a mountain, and at the time when the sun rose, she named her son Udena.
Not far from that tree was the place of residence of the ascetic Allakappa. Now on rainy days it was the custom of the ascetic not to go into the forest for fruits and berries, for fear of the cold. Instead he used to go to the foot of the tree and gather up the bones from which the birds had picked the flesh; then he would pound the bones, make broth of them, and drink the broth. On that very day, therefore, he went there to get bones. As he was picking up bones at the foot of the tree, he heard the voice of a child in the branches above.
Looking up, he saw the queen. “Who are you?” said he. “I am a woman.” “How did you get there?” “A monster bird brought me here.” “Come down,” said he. “Your honor, I am afraid to come down on account of difference of caste.” “Of what caste are you?” “Of the Warrior caste.” “I am also of the Warrior caste.” “Well then, give me the password of the Warrior caste.” He did so. “Well then, climb up and set down my boy.” Finding a way to climb the tree on one side, he climbed up and took the boy in his arms; obeying the queen’s behest not to touch her with his hand, he set the boy down; then the queen herself came down.
The ascetic conducted the queen along the path to his hermitage and cared for her tenderly without in any way violating his vow of chastity. He brought honey free from flies and gave it to her; he brought rice grown in his own field and prepared broth and gave it to her. Thus did he minister to her needs.
After a time she thought to herself, “For my part I know neither the way to come nor the way to go, nor can I repose absolute confidence even in this ascetic. Now if he were to leave us and go elsewhere, we should both perish right here. I must by some means seduce him to violate his vow of chastity, so that he will not abandon us. Accordingly she displayed herself before him with under and upper garments in disarray, and thus seduced him to violate his vow of chastity; thenceforth the two lived together.
One day, as the ascetic was observing a conjunction of a constellation with one of the lunar mansions, he saw the occultation of Parantapa’s star. “My lady,” said he, “Parantapa, king of Kosambi, is dead.” “Noble sir, why do you speak thus? Why do you bear ill-will against him?” “I bear him no ill-will, my lady. I say this because I have just seen the occultation of his star.” She burst into tears. “Why do you weep?” he asked. Then she told him that Parantapa was her own husband. The ascetic replied, “Weep not, my lady; whoever is born is certain to die.” “I know that, noble sir.” “Then why do you weep?” “I weep, noble sir, because it pains me to think, ‘To my son belongs the sovereignty by right of succession; had he been there, he would have raised the white parasol; now he has become one of the common herd.’ ” “Never mind, my lady; be not disturbed. If you desire that he shall receive the sovereignty, I will devise some means by which he shall receive it.” Accordingly the ascetic gave the boy the lute to charm elephants with and likewise taught him the spells for charming elephants.
Now at that time many thousands of elephants came and sat at the foot of the banyan-tree. So the ascetic said to the boy, “Climb the tree before the elephants come, and when they come, utter this spell and strike this string, and they will all turn and run away, without even so much as daring to look at you; then descend and come to me.” The boy did as he was told, and then went and told the ascetic. On the second day the ascetic said to him, “To-day utter this spell and strike this string, if you please, and they will turn and run away, eyeing you at every step.” On that day also the boy did as he was told, and then went and told the ascetic.
Then the ascetic addressed the mother, saying, “My lady, give your son his message and he will go hence and become king.” So she addressed her son, saying, “You must say, ‘I am the son of King Parantapa of Kosambi; a monster bird carried me off.’ Then you must utter the names of the commander-in-chief and the other generals. If they still refuse to believe you, you must show them this blanket which was your father’s cloak and this signet-ring which he wore on his finger.” With these words she dismissed him.
The boy said to the ascetic, “Now what shall I do?” The ascetic replied, “Seat yourself on the lowest branch of the tree, utter this spell and strike this string, and the leader of the elephants will approach and offer you his back. Seat yourself on his back, go to your kingdom, and take the sovereignty.” The boy did reverence to his parents, and following the instructions of the ascetic, seated himself on the back of the elephant and whispered in his ear, “I am the son of King Parantapa of Kosambi. Get me and give me the sovereignty which I have inherited from my father.” When the elephant heard that, he trumpeted, “Let many thousands of elephants assemble;” and many thousands of elephants assembled. Again a second time he trumpeted, “Let the old, weak elephants retire;” and the old, weak elephants retired. The third time he trumpeted, “Let those that are very young retire;” and they also retired.
So the boy went forth, surrounded by many thousands of warrior-elephants, and reaching a village on the frontier, proclaimed, “I am the son of the king; let those who desire worldly prosperity come with me.” Levying forces as he proceeded, he invested the city and sent the following message to the citizens, “Give me battle or the kingdom.” The citizens answered, “We will give neither. Our queen was carried off by a monster bird when she was great with child, and we know not whether she is alive or dead. So long as we hear no news of her, we will give neither battle nor the kingdom.” (At that time, we are told, the kingdom was handed down from father to son.) Thereupon the boy said, “I am her son.” So saying, he uttered the names of the commander-in-chief and the other generals, and when they still refused to believe him, showed the blanket and the ring. They recognized the blanket and the ring, opened the gates, and sprinkled him king.
Part 2. Birth and youthful career of Ghosaka
Story of the Past: Kotūhalaka casts away his son
Once upon a time there was a famine in the kingdom of Ajita, and a man named Kotūhalaka, unable to get a living, took his young son Kāpi and his wife Kāḷi, and thinking, “I will go to Kosambi and get a living there,” set out with provisions for the journey. (There are also those who say that he left his home because the people were dying of intestinal disease.) As they proceeded on their journey, their provisions gave out, and finally they were so overcome with hunger that they were not able to carry the boy. Thereupon the husband said to his wife, “Wife, if we live, we shall have another son. Let us cast this child away and continue our journey alone.”
There is a proverb, “A mother’s heart is tender,” and so it was with this woman. She replied, “I could never cast away a living child.” “Well, what shall we do?” “Carry him by turns.” When the mother’s turn came, she would lift the child like a wreath of flowers, clasp him to her breast, or carry him on her hip, finally giving him back to his father. When the father took the child, no matter where he held him he suffered more intense pain than ever from hunger. Again and again he said to his wife, “Wife, if we live, we shall have another son. Let us cast this child away.” But this the mother steadfastly refused to do.
Finally the child became so tired from being passed back and forth that he fell asleep in the arms of his father. When the father observed that he was asleep, allowing the mother to precede him, he went and laid the child on a couch of leaves under a bush, immediately resuming his journey. The mother turned, looked back, and not seeing the child, asked, “Husband, where is my son?” “I laid him down under a certain bush.” “Husband, do not kill me. Without my son I cannot live. Bring my son back to me.” And she smote upon her breast and wept. So the husband retraced his steps, recovered the child, and brought him back to her. (In consequence of having cast away his child on this one occasion, Kotūhalaka was himself cast away seven times in a later existence. Let no one regard an evil deed lightly, saying, “It is only a small matter.”)
Continuing their journey, they came to the house of a certain herdsman. On that day, as it happened, one of the herdsman’s cows had calved, and the herdsman was about to hold the customary festival in honor of the event. Now a certain Private Buddha was accustomed to take his meals in the house of the hersdman. The herdsman, after providing the Private Buddha with food, celebrated the cow-festival with an abundant supply of rice-porridge. When the herdsman saw the visitors, he asked them, “Whence have you come?” They told him the whole story, whereupon the tender-hearted youth took pity on them and saw to it that they were given rice-porridge with a plentiful supply of ghee. The wife said to the husband, “Husband, if only you can live, I can live. For a long time you have not had sufficient food. Now eat to your heart’s content.” So saying, she set the ghee and curds before him, eating only a little of the ghee herself. The husband ate heartily; but so intense was the hunger from which he had suffered during the preceding seven or eight days that he was unable to satisfy it.
When the herdsman had seen to it that they were provided with rice-porridge, he began himself to eat. Now under the herdsman’s stool lay a bitch he had raised, and as the herdsman sat there eating, he fed her with morsels of rice-porridge. Kotūhalaka watched him feed her and thought to himself, “Fortunate indeed is that bitch to get such food to eat!” Kotūhalaka was unable to digest the rice-porridge he had eaten, died during the night, and received a new existence in the womb of that very bitch.
His wife performed the funeral ceremonies over his body, and remaining in that very house, worked for hire. Receiving a pint-pot of rice, she cooked it and placed it in the bowl of the Private Buddha, saying, “May these grains of rice bring a reward to your servant.” And she thought to herself, “It would be well for me to remain right here. The Private Buddha comes here regularly; and whether there be alms or not, I shall have the privilege of paying obeisance to him each day and of ministering to him. By so doing I shall obtain peace of mind and earn much merit.” And she remained right there working for hire.
After six or seven months the bitch gave birth to a single pup. The herdsman reserved the milk of one cow for the pup, and in no long time he grew to be a fine big dog. When the Private Buddha ate his meal, he invariably gave him a portion of his rice; and because of this the dog became deeply attached to the Private Buddha.
Now the herdsman was accustomed to go regularly twice each day to wait upon the Private Buddha, and the dog always went with him. On the way was a lair of wild beasts, and the herdsman used to frighten the wild beasts away by striking bushes and ground with a stick and calling out three times, “Su! su!” One day he said to the Private Buddha, “Reverend Sir, in case at any time I should be unable to come, I will send this dog for you. Therefore if I send him, please understand that I wish you to come.”
A few days later the herdsman found it inconvenient to go in person. He therefore sent the dog in his place, saying, “Boy, go bring his reverence back.” At the mere word of the herdsman the dog started off. Where he had seen his master stop and strike bushes and ground, the dog also stopped and barked three times; and when he was sure that his barking had frightened away the wild beasts, he went on. Early in the morning, having attended to nature’s needs, he entered the hut of leaves and grass, went to the place where the Private Buddha sat, barked three times by way of announcing his arrival, and then lay down at one side. By this the Private Buddha knew that it was time for him to go, and therefore started out. The dog ran before him, barking constantly. From time to time the Private Buddha tested the dog by taking the wrong path; but every time he did so the dog, by standing across the path and barking, intimated to him to take the other path.
One day the Private Buddha took the wrong path, and when the dog tried to stop him, without turning back, he pushed away the dog with his foot and went on. The dog, perceiving that he did not intend to turn back, took the hem of his undergarment in his teeth and dragged him along until he brought him to the right path. Such was the strength of the affection of the dog for the Private Buddha.
Later on the Private Buddha’s robe wore out. When the herdsman provided him with materials for a new set of robes, the Private Buddha said to him, “Brother, it is difficult for a person all alone to make a robe. I will go to a convenient place and have it made for me.” “Make it right here, Reverend Sir.” “No, brother, I cannot.” “Well then, Reverend Sir, do not take up your residence far from here.” The dog stood listening to every word they said. The Private Buddha said, “Wait a moment, brother.” Thereupon, leaving the herdsman behind, he flew up into the air and departed in the direction of Gandhamādana.
When the dog saw him flying through the air, he began to bark and howl, and he kept this up until the Private Buddha gradually faded from view, whereupon his heart broke. (Animals, they say, are straightforward and not given to deceit; men, however, think one thing in their heart, but say another with their lips. Therefore said the Exalted One to a monk, “The ways of men are past finding out, but the ways of the beasts are easy to discover.” ) So when the dog died, he was reborn, because of his straightforwardness and lack of deceit, in the World of the Thirty-three with a retinue of a thousand celestial nymphs, and there he enjoyed glory and bliss unspeakable. When he but whispered, his voice carried a distance of sixteen leagues; when he spoke in an ordinary tone, he could be heard all over the city of the gods, a city ten thousand leagues in extent. (Do you ask, “Of what was this the consequence?” It was because he barked and howled for love of the Private Buddha.)
Remaining in the World of the Thirty-three for no long time, he passed from that state of existence. (Deities pass from the World of the Gods through four causes: exhaustion of life, exhaustion of merit, exhaustion of food, and anger. He that has earned much merit is reborn in the World of the Gods, remains there during the term allotted to him, and is then reborn higher and higher. Thus he passes through “exhaustion of life.” He that has earned little merit soon exhausts that merit, just as three or four pint-pots of rice tossed into a royal storehouse disappear; and he therefore soon dies. Thus he passes through “exhaustion of merit.” Still a third, while enjoying the pleasures of sense, fails through confusion of memory to partake of food, and the strength of his body being thereby impaired, dies. Thus he passes through “exhaustion of food.” A fourth, jealous of the glory of another, becomes angry and dies. Thus he passes through “anger.”)
Story of the Present: Ghosaka is cast away seven times
Ghosaka, while enjoying the pleasures of sense, became forgetful, passed, through exhaustion of food, from the World of the Thirty-three, and was conceived in the womb of a courtezan of Kosambi. On the day when the courtezan gave birth to the child, she asked her slave-woman, “What is it?” “A son, my lady.” “Very well, put this boy into an old winnowing basket and cast him away on the dust-heap.” Thus she caused him to be cast away. (Courtezans will bestow care on a daughter, but not on a son, for it is through a daughter that their line of business is maintained.) Crows and dogs surrounded the child and huddled about him; but in consequence of his barking and howling for love of the Private Buddha, not one dared to approach him.
At that moment a man came out and saw the crows and dogs all huddled together. “What does this mean?” thought he to himself, going nearer. When he saw the boy, he immediately took a fancy to him, and saying to himself, “I have gained a son,” he picked the boy up and took him home with him.
Now the treasurer of Kosambi happened at that time to go to the royal palace. Seeing the house-priest returning from the royal residence, he asked him, “Teacher, have you observed a conjunction of a constellation with one of the lunar mansions to-day?” “Yes, great treasurer. What else have we to do?” “What will happen to the country?” “Only this: a boy has been born in this city to-day who will one day become the principal treasurer.” As the treasurer’s wife was at that time great with child, he immediately sent a messenger to his house, saying, “Go find out whether or not she has given birth to a child.”
He received the answer that she had not yet given birth to a child. Therefore, as soon as he had seen the king, he went home quickly, summoned a slave-woman named Kāḷī, gave her a thousand pieces of money, and said, “Go scour this city, find the boy that was born to-day, and bring him hither to me.” While she was scouring the city, she came to the house where the child was and asked the mistress of the house, “When was this boy born?” “To-day.” “Give him to me,” said she, first offering a penny and gradually increasing the amount until finally, by offering a thousand pieces of money, she obtained him. Then she took him with her and presented him to the treasurer.
The treasurer gave him a home in his house, thinking to himself, “If a daughter is born to me, I will marry her to this boy and make him treasurer; but if a son is born to me, I will kill him.” After a few days his wife gave birth to a son. Thereupon the treasurer thought to himself, “If only this foundling did not exist, my own son would obtain the post of treasurer. I had best kill him immediately.” So he said to Kāḷī, “Carry this child to the cattle-pen, and when it is time for the cattle to come out, lay him across the doorway, and the cattle will trample him to death. Observe whether or not they trample him to death, and then come back and tell me.”
She carried the child to the cattle-pen, and as soon as the door was opened, laid him across the doorway. Now at other times the leader of the herd, the bull, came out last of all; but on this particular day he came out first, inclosed the boy with his four feet, and stood stock still. Several hundred cows came out on either side of the bull, rubbing against his flanks as they passed. The herdsman thought to himself, “Hitherto this bull has always gone out last of all, but to-day he went out first and stood stock still in the doorway of the pen. What can this mean?” Going near, he saw the boy lying under the bull. Immediately taking a fancy to him, he said to himself, “I have gained a son,” and picking him up, he carried him home.
Kāḷī went back to the treasurer and in answer to his question told him what had happened. Said the treasurer, “Go to the herdsman, give him these thousand pieces of money, and bring the child back to me again.” So she brought the child back again and gave him to the treasurer. Then he said to her, “Good Kāḷī, five hundred carts start from this city at dawn on a trading expedition. Take this child and lay him in the track of the wheels. Either the oxen will trample him under their feet or the wheels will crush him to death. Observe what happens to him, and then return to me.”
She took the child and laid him down in the track of the wheels. The leader of the caravan came first; but when his oxen reached the place where the child lay, they threw off the yoke. Again and again the leader replaced the yoke and tried to drive the oxen forwards; but as often as he did so, they threw off the yoke and refused to move. He was still struggling with them when the sun rose. “Why have the oxen acted thus?” thought he. He looked at the road and saw the boy. “Oh, what a grievous wrong I have done!” thought he. His heart was filled with joy at the thought, “I have gained a son,” and picking up the boy, he carried him off.
Kāḷī went back to the treasurer and in answer to his question told him what had happened. Said the treasurer, “Go to the caravan-leader, give him a thousand pieces of money, and bring the child back to me again.” When she had so done, he said to her, “Now carry him to the burning-ground and lay him in the bushes. There he will either be eaten by dogs or attacked by demons, and he will die. As soon as you know whether or not he is dead, return to me.”
She took the child, laid him in the bushes, and stood at one side. But neither dog nor crow nor demon dared to approach him. (Pray, if he had neither mother nor father nor brother nor other kinsman to protect him, what was it that did protect him? All that protected him was his howling for love of the Private Buddha in his former existence as a dog.)
Just then a goatherd passed on one side of the burning-ground, leading several thousand goats to pasture. A certain she-goat made her way into the bushes eating leaves and grass, and seeing the boy, knelt down and gave him suck. The goatherd called, “He! he!” but she did not come out. Thereupon he said to himself, “I will beat her with my stick and bring her out.” So saying, he made his way into the bushes. And there he saw the she-goat on her knees, giving suck to the boy. He immediately took a fancy to the boy, and saying to himself, “I have gained a son,” picked him up and carried him off.
Kāḷī went back to the treasurer and in answer to his question told him what had happened. Said the treasurer, “Go to the goatherd, give him a thousand pieces of money, and bring the child back to me again.” When she had so done, he said to her, “Good Kāḷī, take this child with you, climb the mountain that is known as Robbers’ Cliff, and throw him down the precipice. He will strike against the sides of the ravine and be dashed to pieces when he reaches the bottom. As soon as you know whether or not he is dead, return to me.”
She carried the child to Robbers’ Cliff, and standing at the top of the mountain, threw him down. Now there grew along the mountain near that abyss a dense bamboo thicket, and the top of the mountain was covered with a thick growth of guñjā shrub. As the boy fell, he dropped into this bamboo thicket as into a coverlet of goat’s hair. Now that very day the leader of the reed-makers had received a gift of bamboo and accompanied by his son, he had gone to chop that thicket down. As he began his work, the bamboo shook and the boy cried out. “That sounds like the voice of a boy,” thought he. Climbing up on one side, he saw the boy. His heart was filled with joy at the thought, “I have gained a son,” and picking up the boy, he carried him off.
Kāḷī went back to the treasurer and in answer to his question told him what had happened. Said the treasurer, “Go to the reed-maker, give him a thousand pieces of money, and bring the child back to me again.” She did so. But in spite of the treasurer’s attempts on his life, the child lived and thrived and grew to manhood. Ghosaka was his name. He was like a thorn in the eye of the treasurer, who could not look him straight in the face.
Thinking of a way to kill him, the treasurer went to a friend of his who was a potter and asked him, “When are you going to fire your bake-house?” “To-morrow.” “Well then, take these thousand pieces of money and do a job for me.” “What is it, master?” “I have a single base-born son. I will send him to you. Take him into an inner room, chop him to pieces with a sharp axe, throw him into a chatty, and bake him in the bake-house. Here are a thousand pieces of money, to seal the bargain, as it were. But in addition I will reward you suitably later.” “Very well,” said the potter, consenting to the bargain.
On the following day the treasurer summoned Ghosaka and sent him to the potter, saying, “Yesterday I left an order with the potter to do a certain piece of work for me. Go say to him, ‘Finish the job my father gave you yesterday.’ ” “Very well,” said Ghosaka, and set out.
As Ghosaka was on his way to the potter’s, the treasurer’s other son, who was playing marbles with some boys, saw him. And calling to him, he asked, “Where are you going?” “I am carrying a message to the potter for father.” “Let me go there. These boys have won a big stake from me. You win it back and give it to me.” “I am afraid of father.” “Do not fear, brother; I will carry that message. I have lost a big stake. You play until I return again, and win the stake back for me.”
(We are told that Ghosaka was skillful at shooting marbles, and that for this reason his foster-brother was so insistent.)
So Ghosaka consented to let his foster-brother go in his place, saying, “Well then, go to the potter and say to him, ‘Finish the job my father gave you yesterday.’ ” Thus it happened that the treasurer’s own son carried the message to the potter. The potter killed him according to the letter of the directions he had received from the treasurer and threw his body into the bake-house. Ghosaka played marbles all day and went home in the evening. “You have returned home, son?” queried the treasurer. Ghosaka then told him the reason why he had himself returned home and let his younger brother go to the potter.
“Woe is me!” cried the treasurer with a loud voice. He looked as though the blood had been drawn from his veins. He rushed to the potter, wringing his hands and wailing, “Oh, potter, do not kill me! do not kill me!” The potter saw him approaching in this wise and said to him, “Master, make no noise; the job is done.” Thus was the treasurer overwhelmed with sorrow as with a mountain. Thus did he suffer great grief, even as do all who offend against those that are without offense. Therefore said the Exalted One,
137. Whosoever visits punishment on those that deserve not punishment.
Whosoever offends against those that are without offense.
Such an one will right quickly come to one of ten states:
138. He will incur cruel suffering, or infirmity, or injury of the body.
Or severe sickness, or loss of mind,
139. Or misfortune proceeding from the king, or a heavy accusation.
Or death of relatives, or loss of treasures,
140. Or else the fire of lightning will consume his houses;
Upon dissolution of the body such a fool will go to Hell.
Now under these circumstances the treasurer was unable to look Ghosaka straight in the face. “How can I manage to kill him?” thought he. Finally he thought of a way. “I will send him to the superintendent of my hundred villages and order him to kill him,” said he to himself. Accordingly he wrote the following letter to the superintendent, “This is my base-born son. Kill him and throw him into the cesspool. Let this be done, and I shall know how to reward my uncle properly.” Then he said to his foster-son, “Dear Ghosaka, there is a superintendent over our hundred villages. Take this letter and give it to him.” So saying, he fastened the letter to the hem of his garment. (Now Ghosaka did not know how to read and write, for ever since he was a boy the treasurer had striven, although without success, to kill him. Why, therefore, should he have taught him to read and write?) As Ghosaka set out with his own death-warrant fastened to the hem of his garment, he said to his father, “Father, I have no provisions for the journey.” “You have no need of provisions for the journey. On the way, in such and such a village, lives a friend of mine who is a treasurer. Obtain your breakfast at his house, and then continue your journey.” “Very well,” said Ghosaka, and bowing to his father, set out on his journey.
When he arrived at the village, he inquired where the treasurer’s house was, went there, and saw the treasurer’s wife. “Whence have you come?” she inquired. “From the city,” he replied. “Whose son are you?” “I am the son of your friend the treasurer, my lady.” “Then you are Ghosaka.” “Yes, my lady.” She fell in love with him at first sight. Now the treasurer had a daughter about fifteen or sixteen years of age, and she was exceedingly beautiful and fair to look upon. In order to keep her safe and sound, her parents lodged her on the topmost floor of a seven-storied palace in an apartment of royal splendor, giving her a single slave-girl to run errands. At that moment the treasurer’s daughter sent this slave-girl to a shop. The treasurer’s wife, seeing her, asked, “Where are you going?” “On an errand for your daughter, my lady.” “Just come here a moment. Never mind the errand. Spread a seat for my son, bathe his feet, anoint them with oil, and then spread a couch for him. After you have done this, you may do your errand.” The slave-girl did as she was told.
When she returned, the treasurer’s daughter scolded her for her long absence. The slave-girl replied, “Be not angry with me. The treasurer’s son Ghosaka has arrived, and I had to do this and that for him, besides going on an errand for you, before I returned.” When the treasurer’s daughter heard the name “treasurer’s son Ghosaka,” love suffused her body, cleaving her skin and penetrating the marrow of her bones.
(For she had been his wife in his former existence as Kotūhalaka and had given a pint-pot of rice to the Private Buddha. And through his supernatural power she had been reborn in the household of the treasurer. No wonder her old passion for him returned and overwhelmed her! Therefore said the Exalted One,
Through previous association or present advantage,
That love springs up like a lily in the water.)
The treasurer’s daughter said to the slave-girl, “Girl, where is he?” “He is lying asleep on the couch.” “Has he anything in his hand?” “There is a letter fastened to his garment.” “What can be in this letter?” she thought. So while Ghosaka was asleep, and her mother and father were otherwise engaged, she came down without attracting their attention, detached the letter from his garment, took it with her, went into her room, closed the door, opened the window, and through her knowledge of writing read the letter. “Oh!” she exclaimed, “the simpleton is going about with his own death-warrant fastened to his garment. Had I not seen it, he would surely have been killed.”
So she tore up this letter and wrote another in the name of the treasurer as follows, “This is my son Ghosaka. Procure presents for him from my hundred villages. Prepare a festival in honor of his marriage with the daughter of this district-treasurer. Build him a two-storied house in the center of the village wherein he resides. Surround his house with a wall and with a guard of men, and so provide him with ample protection. Then send me a message, saying, ‘I have done thus and so,’ and I shall know how to reward my uncle properly.” Having written the letter, she folded it up and fastened it to the hem of his garment.
After sleeping all day, Ghosaka arose, ate his meal, and went on his way. Early on the morning of the following day he arrived at that village and saw the superintendent performing his village duties. When the superintendent saw him, he asked him, “What is it, dear Ghosaka?” “My father has sent you a letter.” “What is it about, dear Ghosaka? Bring it to me.” He took the letter and read it, and then said with an exclamation of delight, “See, men, how my master loves me. He has sent me a message, saying, ‘Prepare a festival in honor of my oldest son.’ Bring wood and other building materials immediately.” Having thus given orders to the householders, he caused a house of the kind described in the letter to be erected in the center of the village, had presents brought from the hundred villages, conducted the daughter of the district-treasurer thither, celebrated the marriage festival, and then sent word to the treasurer, saying, “I have done thus and so.”
When the treasurer received the message, he said, “What I would do, that I do not; what I would not do, that I do.” Disappointment over the failure of his latest plan, together with sorrow over the death of his own son, set him on fire within and produced diarrhea.
The treasurer’s daughter gave orders, saying, “Should anyone come here from the treasurer, tell me before you tell the treasurer’s son.” The treasurer said to himself, “At any rate I will not make this rascally son of mine heir to my property.” With this thought in mind he said to a certain official, “Uncle, I wish to see my son. Send a servant and summon my son.” “Very well,” replied the official, and giving a certain man the letter, sent him away.
When the treasurer’s daughter heard that the servant had arrived and was standing at the door, she sent for him and asked him, “What is it, my man?” “The treasurer is sick and wishes to see his son, and has therefore sent for him, my lady.” “My man, is he strong or weak?” “He is still strong, my lady, and able to take nourishment.” Without letting the treasurer’s son know, she ordered that the man should be given lodging and expenses and said to him, “You may go when I send you. Remain here for the present.”
Again the treasurer addressed the official, “Uncle, did you not send a messenger to my son?” “I did, master, but the man who went has not yet returned.” “Well then, try again and send another.” So the official sent another man, and the treasurer’s daughter treated him just as she had the first. The treasurer’s condition grew worse; one chamber-pot went in and another came out. Again the treasurer asked the official, “Uncle, did you not send a messenger to my son?” “I did, master, but the man who went has not yet returned.” “Well then, try again and send another.” So the official sent another man. When the third messenger arrived, the treasurer’s daughter asked him the news. “The treasurer is a very sick man, my lady. He refuses to eat and is confined to his bed. One chamber-pot comes out and another goes in.”
“Now it is time to go,” thought the treasurer’s daughter. So she said to the treasurer’s son, “I learn that your father is sick.” “Wife, what say you?” “It may be only a slight ailment, husband.” “What is to be done now?” “Let us take presents from his hundred villages and go see him.” “Very well,” said he. Having caused presents to be brought, he started out, conveying the presents in a cart. Then she said to him, “Your father is very weak. If we take all these presents, we shall be delayed on the way; send them back.” Having sent all the presents back to their own house, she said to the treasurer’s son, “Husband, please stand at your father’s feet; I will stand beside his pillow.” And as they entered the house, she gave orders to her own men, “Stand on guard both in the front of the house and in the rear.” And when they had entered, the treasurer’s son took his stand at his father’s feet and his wife beside his pillow.
At that moment the treasurer was lying on his back and the official was rubbing his feet. The latter said to him, “Master, your son has arrived.” “Where is he?” “Here he is, standing at your feet.” When the treasurer saw his son, he sent for the receiver of his revenues and asked him, “How much wealth is there in my house?” “Master, of money alone there are four hundred millions; as for objects for employment and enjoyment, such as villages and fields and men and animals and wagons and carriages, such and such is the total.” It was the treasurer’s intention to say, “All of this wealth I do not give to my son Ghosaka.” But instead of this he said, “I do give.”
When the treasurer’s daughter heard this, she thought to herself, “However, if this man should speak again, he might say something very different.” Accordingly, pretending to be overcome with grief, she disheveled her hair, burst into tears, and said, “Dear father, do you really mean this? In spite of these words of yours, which we hear, we are indeed unfortunate.” So saying, she fell on him, struck the middle of his breast with the crown of her head, and in order that he might not be able to speak again, rubbed the middle of his breast with the crown of her head, displaying at the same time signs of profound grief. At that very moment the treasurer died.
They went and informed King Udena of his death. The king had the funeral ceremonies performed over his body and asked, “Has he any son or daughter?” “Your majesty, he has a son named Ghosaka; and, your majesty, he bestowed all his property on him before he died.” Some time afterwards, the king sent for the treasurer’s son. Now that day it rained, and there were pools of water here and there in the palace court. The treasurer’s son set out to see the king. The king opened his window and watched him as he approached, noticing that as he crossed the palace court he leaped over the pools of water that stood in the court. When he reached the palace and paid obeisance to the king and stood before him, the king asked him, “Your name is Ghosaka?” “Yes, your majesty.” The king comforted him, saying, “Do not grieve at the thought that your father is dead. I will give you alone your father’s post as treasurer.” Then he dismissed him, saying, “Now, dear Ghosaka, you may go,” and stood and watched him as he left the palace.
Now whereas Ghosaka leaped over the water in approaching the palace, he walked through it on his return. The king sent orders for him to return from where he was and asked him, “Dear Ghosaka, is it a fact that whereas, in coming to me, you leaped over the water, on your return you walk through it?” “It is even so, your majesty. Then I was a boy and was fond of play, but now I have been promised a post of honor by your majesty. Therefore I must now lay aside my former ways and deport myself with modesty and dignity.” On hearing this, the king thought to himself, “There is a wise man. I will give him the post immediately.” Accordingly he gave him the wealth formerly possessed by his father and the post of treasurer, together with all the hundred villages. Then Ghosaka mounted his chariot and drove sunwise round the city. Every place he looked at quaked and trembled.
The treasurer’s daughter sat talking with the slave-woman Kāḷī. “Mother Kāḷī,” said she, “it was through me that your son obtained all this worldly glory.” “How is that, my lady?” “Why, this youth came to our house with his own death-warrant fastened to the hem of his garment. I tore up that letter and wrote another, ordering the celebration of a festival in honor of my marriage to him. In this way did I protect him all that time.” “My lady, this is all you know about it. But as a matter of fact, from the time your husband was a little boy, the treasurer constantly sought to kill him, and though his attempts were unsuccessful, a large sum of money was spent solely for the purpose of accomplishing his death.” “Kāḷī, the treasurer was indeed guilty of abominable crimes!”
Having performed his ceremonial circuit of the city, Ghosaka entered his house. Now when his wife saw him, she thought to herself, “It was through me that he obtained all this worldly glory,” and laughed. The treasurer’s son asked her, “Why do you laugh?” “For a certain reason.” “Tell me the reason.” She refused to do so. He drew his sword and said, “If you do not tell me, I will cut you in twain.” Then she said, “I laughed to think that it was through me that you obtained all this worldly glory.” “If what I possess was handed over to me by my father, where do you come in?” (We are told that during all that time Ghosaka knew nothing about the designs against his life, and that that was why he refused to believe what she said.) So she told him the whole story, saying, “When your father sent you forth bearing your own death-warrant, I did this and that and protected you.”
“What you say is not true,” replied Ghosaka, refusing to believe her. “I will ask Mother Kāḷī.” So he asked the slave-woman, “Kāḷī, is what she says true?” “Yes, my lord. From the time you were a little boy your father sought constantly to kill you, and though his attempts were unsuccessful, a large sum of money was spent for the purpose of accomplishing your death. On seven occasions you had a narrow escape from death. Now, coming from the village of which he was headman, you have obtained the post of treasurer, together with all the hundred villages.”
When Ghosaka heard this, he thought to himself, “How great was my presumption! But since I have escaped from so terrible a death, I must no longer live the life of Heedlessness. Henceforth, therefore, I will live the life of Heedfulness.” Accordingly he established alms for the blind and the poor, and employing his friend the householder as steward of his alms, he dispensed a thousand pieces of money daily.
Part 3. Birth and youthful career of Sāmāvatī
Now at this time there lived in the city of Bhaddavatī a treasurer named Bhaddavatiya, and he was a friend of the treasurer Ghosaka, although Ghosaka had never seen him. For the treasurer Ghosaka heard, from traders who came from the city of Bhaddavatī, of the wealth and age of the treasurer Bhaddavatiya, and desiring to be friends with him, sent him a present. Likewise the treasurer Bhaddavatiya heard, from traders who came from the city of Kosambi, of the wealth and age of the treasurer Ghosaka, and desiring to be friends with him, sent him a present. Thus, although neither had seen the other, they dwelt as friends.
After a time intestinal disease broke out in the house of the treasurer Bhaddavatiya. When this disease breaks out, the first to die are flies; afterwards, in regular order, insects, mice, domestic fowls, swine, cattle, slaves both female and male, and last of all the members of the household. Only those that break down the wall and flee, save their lives. Now at that time the treasurer Bhaddavatiya and his wife and daughter fled in this manner, and intending to seek the treasurer Ghosaka, set out on the road to Kosambi. While they were still on their way, their provisions for the journey gave out, and their bodies became exhausted from exposure to wind and sun, and from hunger and thirst. Reaching Kosambi with difficulty, they bathed in a pool of water in a pleasant place and then entered a certain rest-house at the gate of the city.
Then the treasurer said to his wife, “Wife, those who travel in this way are not courteous even to a mother who has borne a child. Now I have a friend who, they say, dispenses a thousand pieces of money daily in alms to the blind, the poor, and other unfortunate persons. We will send our daughter there, have her bring us food, remain right here for a day or two and refresh our bodies, and then we will go and see my friend.” “Very well, husband,” she replied, and they took up their residence right there in the rest-house.
On the following day, when meal-time was announced and the blind, the poor, and other unfortunate persons went to obtain food, the mother and father sent forth their daughter, saying, “Daughter, go bring us food.” So the daughter of a wealthy house, pride overcome with misfortune, hid her shame, took a bowl, and went with poor folk to procure food. “How many portions will you have?” she was asked. “Three,” she replied. So they gave her three portions. She carried the food back to her parents, and the three sat down to eat together. The mother and daughter said to the treasurer, “Master, misfortune comes even to prominent families. Eat without regarding us and do not worry.” After a good deal of urging, they prevailed upon him to eat. But after he had eaten, he was unable to digest his food, and when the sun rose, he died. The mother and daughter wept and wailed and lamented.
On the following day the young girl went the second time to procure food. “How many portions will you have?” “Two.” She carried the food back to her mother, and after a good deal of urging, prevailed upon her to eat. The mother yielded to her pleading and consented to eat, but died on that very day. The young girl, left alone to herself, wept and wailed and lamented over the misfortune that had come upon her. On the following day, suffering the pangs of hunger keenly, she went weeping in the company of beggars to procure food. “How many portions will you have, daughter?” “One,” was her reply.
A householder named Mitta, remembering that she had received food for three days, said to her, “Perish, vile woman. To-day, at last, you have come to know the capacity of your belly.” This daughter of a respectable family, modest and timid, felt as though she had received a sword-thrust in her bosom, or as though salt water had been sprinkled on a sore. She immediately replied, “What do you mean, sir?” “Day before yesterday you took three portions, yesterday two, to-day you take but one. To-day, then, you know the capacity of your belly.” “Sir, do not think that I took these for myself.” “Why then did you take them?” “Sir, day before yesterday we were three, yesterday we were two, to-day I am left alone.” “How is that?” he inquired.
She then told him the whole story from the beginning. As he listened to her story, he was unable to control his tears, but was overcome by the power of the grief that arose within him. Finally he said to her, “My dear girl, if this is the case, do not worry. Hitherto you have been the daughter of the treasurer Bhaddavatiya, but from this day forth you shall be my very own daughter.” And he kissed her on the head, conducted her to his own house, and adopted her as his own oldest daughter.
One day she heard loud and piercing screams in the refectory, whereupon she said to her foster-father, “Father, why do you not keep these people quiet when you dispense alms?” “It is impossible to do it, dear daughter.” “Father, it is quite possible.” “How would you do it, dear daughter?” “Father, put a fence around the refectory and hang two gates through which the people may pass in and out, allowing only sufficient space for one person to pass through at a time. Then direct the people to pass in through one gate and out through the other. If you do this, they will receive their alms peaceably and quietly.” When the householder had heard her plan he remarked, “A happy device, dear daughter,” and did as she suggested. Now up to that time her name had been Sāmā, but through her construction of a fence (vati) she received the name Sāmāvatī. From that time on there was no more tumult in the refectory.
Now the treasurer Ghosaka had long been accustomed to hear this noise in the refectory and rather liked to hear it; for it always made him think, “That is the noise in my refectory.” But after hearing no noise at all for two or three days, he asked the householder Mitta, who came one day to wait upon him, “Are alms being given to the blind, the poor, and other unfortunate persons?” “Yes, sir.” “How then does it happen that for two or three days past I have not heard a sound?” “I have arranged matters so that the people now receive alms without making any noise.” “Why didn’t you do so before?” “I didn’t know how, sir.” “How did you happen to find a way just now?” “My daughter told me how to do it, sir.” “Have you a daughter whom I have never seen?” Then the householder told him the whole story of the treasurer Bhaddavatiya, beginning with the outbreak of the plague and ending with his adoption of the young girl as his own oldest daughter.
Then said the treasurer to him, “If this is the case, why did you not tell me? My friend’s daughter is my own daughter.” So he sent for her and asked her, “Dear girl, are you the daughter of the treasurer?” “Yes, sir, I am.” “Well then, do not worry; you are my own daughter.” Then he kissed her on the head, gave her five hundred women for her retinue, and adopted her as his own oldest daughter.
One day a festival was proclaimed in this city. Now at this festival daughters of respectable families, who do not ordinarily go out, go on foot with their own retinue and bathe in the river. Accordingly on that day Sāmāvatī also, accompanied by her five hundred women, went right through the palace court to bathe in the river. King Udena stood at his window and saw her. “Whose are those nautch-girls?” he inquired. “Nobody’s nautch-girls, your majesty.” “Then whose daughters are they?” “Your majesty, that is the daughter of the treasurer Bhaddavatiya, and her name is Sāmāvatī.” Now the king fell in love with the girl the moment he saw her, and immediately sent word to the treasurer Ghosaka, “Send me the maiden they say is your daughter.” “I will not send her, your majesty.” “Do not act thus. Do as I ask and send her.” “Your majesty, we householders do not give young girls, for fear people will say they are abused and maltreated.” Angered by the treasurer’s reply, the king caused the treasurer’s house to be sealed and the treasurer and his wife to be seized and turned out of doors.
When Sāmāvatī returned after her bath and found no way of entering the house, she asked, “What does this mean, dear father?” “Dear daughter, the king sent for you; and when we refused to give you to him, he caused the house to be sealed and caused us to be turned out of doors.” “Dear father, you made a great mistake. When one who is a king commands, you should not say, ‘We do not give.’ You should rather say, ‘If you will take our daughter with her retinue, we will give her to you.’ ” “Very well, dear daughter. If that is your desire, I will do as you say.” Accordingly Ghosaka sent a message to that effect to the king, and the king accepted his offer, saying, “Very well.” Then the king conducted Sāmāvatī with her retinue to the royal palace, conferred the ceremonial sprinkling on her, and elevated her to the dignity of chief consort. The other women became her ladies-in-waiting.
Part 4. Winning of Vāsuladattā by Udena
Yet another of Udena’s queen-consorts was Vāsuladattā, daughter of Caṇḍa Pajjota, king of Ujjeni. One day, as Caṇḍa Pajjota was returning from his pleasure-garden, he surveyed his own splendor and asked, “Is there any other soever possessed of splendor like mine?” “Splendor such as it is, King Udena of Kosambi possesses exceeding great splendor.” “Very well, let us take him captive.” “It is impossible to capture him.” “By employing some means or other, let us capture him all the same.” “It is impossible, your majesty.” “Why?” “He understands the art of charming elephants. By reciting spells and playing his elephant-charming lute, he either drives elephants away or captures them at his pleasure. No one possesses so many riding-elephants as he.” “I suppose it is impossible for me to capture him.” “If you are bent on doing it, have a wooden elephant made and turned loose near him. Let him hear of a good mount, be it elephant or horse, and he will go a long way for it. When he is close by, you can capture him.” “A stratagem indeed!” exclaimed the king.
So the king had a mechanical elephant made of wood, wrapped about with strips of cloth and deftly painted, and turned it loose on the bank of a certain lake near the country of his enemy. Within the belly of the elephant sixty men walked back and forth; every now and then they loaded their shovels with elephant dung and dumped it out. A certain woodman saw the elephant, and thinking to himself, “Just the thing for our king!” went and told the king, “Your majesty, I saw a noble elephant, pure white even as the peak of Kelasa, just the sort of elephant your majesty would like.”
Udena mounted his elephant and set out, taking the woodman along as a guide and accompanied by his retinue. His approach was observed by spies, who went and informed Caṇḍa Pajjota. The latter straightway dispatched armies on both flanks of his enemy, allowing the space between them to remain open. Udena, unaware of his enemy’s approach, continued to pursue the elephant. He recited his spell and played his lute, but all to no purpose. The wooden elephant, driven with great speed by the men concealed within its belly, made as if it failed to hear the charm and continued its flight. The king, unable to overtake the elephant, mounted his horse. On and on sped the horse, galloping so rapidly that by degrees the army of the king was left far behind and the king was quite alone. Then Caṇḍa Pajjota’s men, who were posted on both flanks, captured Udena and turned him over to their king. Udena’s army, perceiving that their leader had fallen into the hands of the enemy, built a stockade just outside of Ujjeni and remained there.
Caṇḍa Pajjota, having thus captured Udena alive, clapped him into prison behind closed doors and kept wassail for three days. On the third day Udena asked his keepers, “Friends, where’s your king?” “Carousing, for, says he, ‘I’ve landed my enemy.’ ” “What does your king mean by acting like a woman? He has captured a royal adversary and surely ought either to release him or to kill him. He has brought humiliation upon us and is ‘carousing’– indeed!” The keepers went and reported the incident to the king. The king came and asked, “Is it true that you said thus and thus?” “Yes, your majesty.” “Very well, I will release you. They say you have such and such a charm; will you give it to me?” “Certainly I will give it to you; but when you receive it, will you pay me homage?” “I pay you homage? I’ll not pay you homage.” “Then I’ll not give it to you.” “In that case I will have you executed.” “Do so; you are lord of my body, not of my mind.”
When the king heard Udena’s defiant answer, he thought to himself, “How in the world can I get the charm? I have it. I’ll have my daughter learn it from him, and then I’ll learn it from her. It would never do to let anyone else learn a charm like this.” So he said to Udena, “Will you divulge the charm to another, if the other will pay you homage?” “Yes, your majesty.” “Well then, we have in our house a hunchbacked woman. She will sit behind a curtain; you remain outside and have her repeat the charm.” “Be she hunchback or cripple, I will teach her the charm, provided she will pay me homage.”
Then the king went to his daughter Vāsuladattā and said, “Dear daughter, there is a certain leper who knows a priceless charm. You sit behind a curtain, and he will remain outside and repeat it to you. You get it from him, for it would never do to let anyone else learn it, and then I will get it from you.” After this sort, for fear of their making love, did Caṇḍa Pajjota feign that his daughter was a hunchback and Udena a leper. So Vāsuladattā seated herself behind a curtain, and Udena remained outside and caused her to repeat the charm.
One day Udena repeated the words of the charm over and over again to Vāsuladattā, but the latter was unable to reproduce it correctly. Thereupon Udena cried out, “Dunce of a hunchback, your lips are too thick and your cheeks too pudgy! I’ve a mind to beat your face in! Say it this way!” Vāsuladattā replied in anger, “Villain of a leper, what do you mean by those words? Do you call such as I hunchback’?” Udena lifted the fringe of the curtain and asked, “Who are you?” Said the maiden, “I am Vāsuladattā, daughter of the king.” “When your father spoke to me, he described you as a hunchback.” “When he spoke to me, he made you out a leper.” Both said, “He must have said it for fear of our making love.” Then and there within the curtain they made love, and from that time on there was no learning charms or getting lessons. The king regularly asked his daughter, “Daughter, are you learning your lessons?” “Yes, father.”
Now one day Udena said to Vāsuladattā, “My dear, a husband can do that which neither father nor mother nor brothers nor sisters can do. If you will save my life, I will give you a retinue of five hundred women and make you my chief consort.” “If you will carry out your promise without fail, I will save your life.” “My dear, I will do so without fail.” “Very well, husband.” So she went to her father, saluted him, and stood respectfully on one side. Her father asked her, “Daughter, is your task completed?” “Not quite completed, father.” “What do you require, daughter?” “We must have at our disposal a door and a mount, father.” “Why this request?” “Father, this is what my teacher says: ‘In order to work the charm, a certain medicinal herb is necessary, and this must be obtained at night at a time indicated by the stars.’ Therefore whenever we are obliged to go out, whether it be early or late, we must have a door and a mount at our disposal.” “Very well,” said the king, giving his consent. They secured permission to use a certain door at any time they pleased.
Now the king was possessed of the five conveyances: a female elephant named Bhaddavatī, which could travel fifty leagues a day; a slave named Kāka, who could travel sixty leagues a day; two mares, Celakaṇṭhī and Muñjakesī, which could travel a hundred leagues a day; and an elephant named Nālāgiri, which could travel a hundred and twenty leagues a day.
Story of the Past: Caṇḍa Pajjota wins the five conveyances
It seems that before the appearance in the world of the present Buddha, the king had been the servitor of a certain ruler. Now one day as this ruler was returning from his bath outside of the city, a certain Private Buddha who had entered the city to receive alms came out with his bowl clean as it had been washed, having received not a single morsel of food by reason of the evil influence of Māra over all the residents of the city. Indeed when the Private Buddha reached the gate of the city, Māra approached him in disguise and asked him, “Reverend Sir, did you receive anything?” “But have you made it possible for me to receive anything?” “Well then, turn back and go in again. Now I will make it possible for you to receive alms.” “I will not go back again.” Had the Private Buddha returned, Māra would once more have taken possession of the bodies of all the residents of the city and would have subjected him to the embarrassment of hand-clapping and rude laughter.
Now when this ruler saw the Private Buddha returning with his bowl clean as it had been washed, he asked him, “Reverend Sir, did you receive anything?” “I have gone my round and am coming out, brother.” The ruler thought to himself, “His reverence does not answer the question I asked him, but tells me something I did not ask about. It must be that he failed to receive anything.” The ruler looked at his bowl and saw that it was empty. Not knowing whether the food in his house was ready or not, and therefore, brave though he was, not daring to take his bowl, he said, “Wait a moment, Reverend Sir.” So saying, he went home quickly and asked, “Is our food ready?” Receiving the answer that it was ready, he said to his servitor, “Friend, there is no one possessed of greater speed than you. Make the greatest possible speed, and when you reach his reverence, say to him, ‘Reverend Sir, give me your bowl,’ and then take his bowl and return to me.”
At the mere word of his master the servitor set out, obtained the bowl, and brought it back. The ruler filled the bowl with his own food and said, “Convey this to his reverence with all speed. I make over to you the merit of this action.” The servitor went quickly, gave the bowl to the Private Buddha, saluted him with the Five Rests, and said to him, “Reverend Sir, the time is short. I went and returned with the greatest possible speed. As the fruit of this speed, may I obtain the five conveyances able to travel fifty, sixty, a hundred, and a hundred and twenty leagues a day respectively. As I returned and went, my body was heated by the rays of the sun. As the fruit of this, in the various places where I shall be reborn, may I possess authority equal to the power of the rays of the sun. My master has made over to me the merit of this alms. In consequence of this may I be a partaker of the Truth you have seen.” The Private Buddha said, “So be it,” and returned thanks in the following Stanzas,
May all you’ve wished and prayed for come out well;
May all your aspirations be fulfilled, even as the moon at the full.
May all you’ve wished and prayed for come out well;
May all your aspirations be fulfilled, as by the jewel Dew of Light.
This was the king’s deed in a previous state of existence. He was now Caṇḍa Pajjota, and in consequence of this deed he came to possess these five conveyances. End of Story of the Past.
Now one day the king went out to amuse himself in the garden. “Now’s the time to flee,” thought Udena. So he filled several big leather sacks with gold and silver coins, placed the sacks on the back of the female elephant, assisted Vāsuladattā to mount, and away they went. The harem guards saw what was happening and went and told the king. The king sent out a force in pursuit. “Go quickly,” said he. When Udena perceived that a force had set out in pursuit, he opened a sack of gold and scattered the coins along the way. His pursuers stopped to pick up the coins and then hurried along. Then he opened a sack of silver and scattered the coins along the way. While his pursuers delayed because of their greed for silver, Udena reached his own stockade built without the city. When his men saw him coming, they surrounded him, and escorted him back to Kosambi. When he arrived there, he sprinkled Vāsuladattā and raised her to the rank of chief consort.
Part 5. Rejection of Māgandiyā by the Buddha
Still another maiden who gained the dignity of chief consort of the king was Māgandiyā. She, we are told, was the daughter of the Brahman Māgandiya, who lived in the Kuru country, her mother also bore the name Māgandiyā and her father’s younger brother likewise bore the name Māgandiya. She was as beautiful as a celestial nymph. Now her father was unable to find a husband who was worthy of her; and although scions of all the great families in the country asked for her hand, her father sent them all away, reviling them and saying, “You are not worthy of my daughter.”
Now one day, as the Teacher surveyed the world at early dawn, he perceived that the Brahman Māgandiya and his wife possessed the dispositions requisite for the attainment of the Fruit of the Third Path. Therefore, taking his own bowl and robe, he went to a place just outside of a certain market-town, where the Brahman was tending the sacred fire. The Brahman surveyed the person of the Tathāgata, beholding in him the perfection of physical beauty, and thought to himself, “There is no other man in the whole world comparable to this man. I will give my daughter to this man to cherish and support.” Accordingly he said to the Teacher, “Monk, I have a single daughter, and all this time I have not seen a man worthy of her. But you are suitable for her, and she is suitable for you. For you ought to have a wife, and she ought to have a husband. I will give her to you. Wait right here until I come back.” The Teacher said not a word, but remained silent.
The Brahman went home quickly and said to his wife, “Wife! wife! I saw a man who is worthy of our daughter. Hurry! hurry! Dress her in her beautiful garments.” So the Brahman had his daughter dressed in her beautiful garments, and taking daughter and wife with him, went to the Teacher. The whole city was agitated. “All this time,” said the people, “this man has said of every suitor, ‘He is not suitable for my daughter,’ and has refused to give her to anyone. But it is reported that he has said, ‘To-day I saw a man who is suitable for my daughter.’ What manner of man can he be? Let us go see him.” So a great throng of people went out of the city with him.
Now when the Brahman set out with his daughter, the Teacher, instead of remaining in the place mentioned by the Brahman, moved away from that place and took his stand in another place, leaving a footprint. (When the Buddhas establish a footprint, it appears only in a trodden place and not elsewhere, and only those for whom it is established can see it. Let elephants or other wild animals tread upon a footprint of the Buddhas to render it invisible, or let a violent storm pour forth rain upon it, or let the roaring winds beat upon it, yet not one of them can obliterate it.)
Now the Brahman’s wife said to the Brahman, “Where is this man?” The Brahman replied, “I said to him, ‘Remain in this place.’ Where can he possibly have gone?” He looked all about, and seeing his footprint, said, “Here is his footprint.” Now the Brahman’s wife was familiar with the three Vedas, including the verses relating to signs. So she repeated the verses relating to signs, considering carefully the signs borne by the footprint before her. Finally she said, “Brahman, this is no footprint of one who follows the Five Lusts.” So saying, she pronounced the following Stanza,
The footprint of a lustful man will be squatty;
That of a wicked man, violently pressed down;
Of one infatuate, the footprint will be shuffling;
This is the sort of footprint made by one who has rolled back the Veil of Passion.
Then said the Brahman to her, “Wife, you are always seeing crocodiles in the water-vessel and thieves hiding in the house. Be still.” “Brahman, you may say what you like, but this is no footprint of one who follows the Five Lusts.”
Just then the Brahman looked around and saw the Teacher. “There is the man!” said he. Thereupon the Brahman went to him and said, “Monk, I give you my daughter to cherish and support.” The Teacher, instead of saying, “I have need of your daughter,” or “I have no need of your daughter,” said to him, “Brahman, I have something to say to you.” “Say it, monk,” replied the Brahman. Thereupon the Teacher told him how Māra had pursued him from the time of the Great Retirement to the time of the Session under the Goatherd’s Banyan-tree, and how, when Māra seated himself under the Goatherd’s Banyan-tree, overcome with sorrow at the thought, “Now this man has escaped from my power,” Māra’s daughters came to assuage their father’s sorrow and endeavored to seduce him by appearing before him in the forms of women both young and old. “At that time,” said the Teacher,
Having seen Craving, Pining, and Lust,
I had no desire for the pleasures of love.
What is this body, filled with urine and dung?
I should not be willing to touch it, even with my foot.
At the conclusion of the Stanza the Brahman and his wife were established in the Fruit of the Third Path.
As for Māgandiyā, she said to herself, “If this man has no need of me, it is perfectly proper for him to say so, but he declares me to be full of urine and dung. Very well! By virtue of the fact that I possess birth, lineage, social position, wealth, and the charm of youth, I shall obtain a husband who is my equal, and then I shall know what ought to be done to the monk Gotama.” And then and there she conceived hatred towards the Teacher.
(Did the Teacher know, or did he not know, that she had conceived hatred towards him? He knew. If he knew, why did he pronounce the Stanza? For the sake of the other two. For the Buddhas take no account of hatred directed against them, but preach the Law solely for the sake of those who are worthy to attain the Paths and the Fruits.)
Her mother and father took her and committed her to the charge of her uncle Culla Māgandiya, and then retired from the world and attained Arahatship. Culla Māgandiya thought to himself, “My daughter is not suited to be the wife of a low person, but is suited to be the consort of a king.” Accordingly he adorned her with all the adornments, took her with him to Kosambi, and presented her to King Udena, saying, “This jewel of a woman is worthy to become a consort of your majesty.” When the king saw her, he fell deeply in love with her, conferred the ceremonial sprinkling upon her, provided her with a retinue of five hundred ladies-in-waiting, and raised her to the dignity of chief consort.
Thus the king had three chief consorts with a retinue of fifteen hundred nautch-girls.
Part 6. Death of Sāmāvatī and of Māgandiyā, and the explanation thereof
Treasurers, monks, and tree-spirit
Now at this time there were living in Kosambi three treasurers, Ghosaka, Kukkuṭa, and Pāvāriya. As the beginning of the rainy season drew near, these men saw five hundred ascetics who had returned from the Himālaya country going the round of the city for alms. With joyful hearts they provided them with seats, offered them food, and obtaining from them a promise to reside with them, they provided them with lodging in their own homes during the four months of the rains. Then, having obtained from them a promise to return and spend the following rainy season with them, they let them go. From that time forth, after the ascetics had resided for eight months in the Himālaya country, they kept residence during the four months of the rains with the three treasurers.
On a later occasion, as the ascetics were on their way back from the Himālaya country, they saw a certain great banyan-tree in a forest retreat and went and sat down at the foot of it. The oldest ascetic thought to himself, “The deity who resides in this tree cannot be mundane. There must be a deva-king of great power here. How good it would be if he would give this band of ascetics water to drink!” Immediately the tree-spirit gave them water to drink. Then the ascetic thought of water to bathe in, and the spirit gave that also. Then he thought of food, and the spirit gave that also.
Then this thought occurred to the ascetic, “This deva-king gives us every single thing we think of. I wish we might see him.” Immediately the spirit burst the trunk of the tree and showed himself. Thereupon they asked him, “Deva-king, you possess great power. What did you do to get it?” “Do not ask me, Reverend Sirs.” “Deva-king, please tell us.” But the spirit was exceedingly modest, for the reason that the work of merit he had performed was a very small one, and therefore he did not wish to tell. However, after a good deal of urging, he said, “Well then, listen,” and told the following
Story of the Past: Tree-spirit’s former deed
The tree-spirit, it appears, was once a poor man who sought and obtained work for hire from Anāthapiṇḍika and through him made a living. Now one fast-day Anāthapiṇḍika asked on his return from the monastery, “Has anyone told this laborer that to-day is fast-day?” “He has not been told, master.” “Well then, cook him his supper.” So they cooked him a measure of rice. Now the laborer had worked all day in the forest, and when he returned in the evening, he said, “I am hungry.” But when the rice had been prepared and given to him, all of a sudden he refused to eat. “On other days,” he thought to himself, “there is a great uproar in this house, ‘Give me rice, give me sauce, give me curry;’ but to-day all have lain down without making a sound, and they have prepared food for me alone. What can this mean?”
So he asked them, “Have the rest eaten?” “They have not eaten.” “Why?” “In this house people eat no supper on fast-days; all keep the fast. The great treasurer requires all to fast, even infants at the breast, first causing them to rinse their mouths and to eat the four sweet foods. A lamp of scented oil is lighted, and all, both young and old, retire to recite the Thirty-two Constituents of the Body. But we did not think it worth while to tell you it was fast-day, and therefore rice was cooked for you alone. Eat it.” “If it is proper for me to begin the fast now, I should like to do so.” “This is a matter for the treasurer to decide.” “Well then, ask him.” They went and asked the treasurer, and he replied as follows, “If he begins the fast now and rinses his mouth and takes upon himself the fast-day precepts, he will earn half the merit of keeping fast-day.” When the laborer heard the answer, he began the fast.
Now the laborer had worked all day long and was hungry, and the result was that the humors of his body became disordered. He bound a girth about his body, and holding the end of the girth in his hand, he rolled over and over. When the treasurer learned of this, he took the four sweet foods and with torches borne before him went to the laborer and asked, “Friend, what is the matter?” “Master, the humors of my body are out of order.” “Well then, get up and eat this medicinal food.” “You eat it, master.” “I am not sick. You eat it.” “Master, as for keeping the fast, I was not able to keep it all, but let me not be deprived of half.” With these words the laborer refused to eat. “Do not act thus, friend,” said the treasurer. But the laborer steadfastly refused to eat, and when the sun rose, he died even as a garland of flowers withers, and was reborn in that banyan-tree.
Treasurers, monks, and tree-spirit, concluded.
Therefore the tree-spirit explained the matter as follows, “The treasurer was devoted to the Buddha, devoted to the Law, devoted to the Order; and it was through him, and in consequence of the merit I earned by keeping half of fast-day, that I obtained this power.” When the five hundred ascetics heard the name “Buddha,” they arose and stretched out their hands in an attitude of reverent supplication to the spirit and said, “Say ‘Buddha.’ ” Three times they caused the spirit to confess his faith by repeating the formula, “I say ‘Buddha.’ ” Then they breathed forth the solemn utterance, “This is an utterance difficult to obtain in this world,” and said in conclusion, “Spirit, you have permitted us to hear a sound we have not heard for many hundred thousand cycles of time.”
Then the pupils addressed their teacher as follows, “Well then, let us go to the Teacher.” “Friends, we have three treasurers who are generous benefactors of ours. To-morrow we will receive food in their residence, tell them also what we have heard, and go. Give your consent, friends.” Thereupon they gave their consent. On the following day the treasurers caused rice-porridge to be prepared and seats to be provided. And knowing that the ascetics would arrive on that day, they went forth and met them, escorted them to their residence, provided them with seats, and gave them food. When the ascetics had finished their meal, they said, “Great treasurers, we are going away.” “Reverend Sirs, did we not obtain from you a promise to reside with us during the four months of the rains? Where are you going now?”
“The Buddha has appeared in the world, the Law has appeared, the Order has appeared. We are therefore going to see the Teacher.” “But is it proper for you only to go to the Teacher?” “It is not forbidden to others also, friends.” “Well then, Reverend Sirs, you wait, and we also will go as soon as we have made preparations.” “If you wait to make preparations, we shall be delayed. Therefore we will go on ahead, and you may follow after.” So they went on ahead, and seeing the Supremely Enlightened One, praised him, paid obeisance to him, and sat down respectfully on one side. Then the Teacher preached the Law to them in orderly sequence, and at the conclusion of his discourse all of them attained Arahatship, together with the Supernatural Faculties. Thereupon they asked to be received into the Order. “Come, monks!” said the Teacher. As soon as he spoke the word, they became full-fledged monks, possessed of bowls and robes created by magic.
Those three treasurers procured the requisites for alms, consisting of garments, coverlets, ghee, honey, molasses, and so forth, and conveying five hundred cartloads apiece, proceeded to Sāvatthi. On reaching Sāvatthi, they paid obeisance to the Teacher, listened to a discourse on the Law, and at the conclusion of the discourse were established in the Fruit of Conversion. For a fortnight they resided with the Teacher, bestowing alms, and then invited the Teacher to come to Kosambi. As the Teacher gave his promise, he said, “The Tathāgatas delight in solitude.” Said the treasurers, “Reverend Sir, as soon as we notify you by sending you a message, it will be proper for you to come.” With these words they returned to Kosambi. The treasurer Ghosaka erected Ghosita monastery, the treasurer Kukkuṭa erected Kukkuṭa monastery, and the treasurer Pāvāriya erected Pāvāriya monastery.
When the treasurers had erected these three monasteries, they sent word to the Teacher to come and visit them. The Teacher, receiving their message, went there; whereupon they came forth to meet him, escorted him to the monasteries, and waited upon him by turns. The Teacher resided one day in each monastery and always went to receive alms at the door of the house of the particular treasurer in whose monastery he resided. Now these three treasurers had a servitor named Sumana, and he was a gardener. He said to the treasurers, “I have been a servitor of yours for a long time, and I should like to entertain the Teacher. Let me have the Teacher all to myself for just one day.” “Well then,” said they, “entertain him to-morrow.” “Very well, masters,” he replied, invited the Teacher, and made ready the usual honors.
Conversion of Sāmāvatī by Khujjuttarā
Now at that time King Udena was in the habit of giving Queen Sāmāvatī eight pieces of money every day to buy flowers with. A female slave of the queen named Khujjuttarā went regularly every day to the gardener Sumana and procured the flowers. When she came on that particular day, the gardener said to her, “I have invited the Teacher to be my guest and shall use my flowers to-day to honor the Teacher. You just wait, join with me in attendance on the Buddha, and listen to the Law. Then you may take with you the flowers that remain.” “Very well,” said she, consenting to remain. Sumana waited upon the Congregation of Monks presided over by the Buddha and took his bowl that he might pronounce the words of thanksgiving. The Teacher began to pronounce the words of thanksgiving. Khujjuttarā listened to the discourse on the Law and became established in the Fruit of Conversion.
On previous days she had been in the habit of appropriating to her own use four pieces of money and of buying flowers with the other four; but on that day, spending all eight to buy flowers with, she returned with them. Sāmāvatī said to her, “My good woman, did the king give us twice as much money to-day to buy flowers with?” “No, my lady.” “Then why so many flowers?” “On previous days I kept four pieces of money for myself and brought you only so many flowers as I could buy for four pieces of money.” “Why didn’t you take the money to-day?” “Because I heard the Supremely Enlightened discourse on the Law and acquired understanding of the Law.”
The queen did not revile her and say, “You wretched slave, give me back the pieces of money you have stolen during all this time.” Instead she said to her, “My good woman, you have drunk the Deathless. Give me thereof to drink also.” “Well then,” replied Khujjuttarā, “order that a bath be prepared for me.” So the queen had her bathed with sixteen bowls of scented water and presented her with garments of fine cloth. One of these garments she caused her to put on as an undergarment, the other she caused to be thrown over her shoulder; then she had a seat prepared for her. Khujjuttarā thereupon sat down, took in her hand a painted fan, and addressing the five hundred women, preached the Law to them just as the Teacher had preached it. Then all of them paid obeisance to Khujjuttarā and said, “Friend, from this day forth do no sinful deed, but be to us as a mother and a teacher. Go to the Teacher and listen to every discourse he preaches, and then come back and repeat it to us.” And this she did so faithfully that later on she came to know the Tipiṭaka by heart. Indeed the Teacher assigned her preeminence, saying, “Preeminent among my female lay disciples who are learned in the Scriptures and able to expound the Law is Khujjuttarā.”
Now those five hundred women said to her, “Woman, we should like to see the Teacher. Show him to us, that we may honor him with perfumes, garlands, and so forth.” “My lady, it is a serious matter to live in a king’s house. You have obtained access to it, but it is impossible for you to leave it.” “Woman, do not destroy us. Let us see the Teacher.” “Well then, make holes in the walls of your rooms large enough to look through. Then bring perfumes and garlands, and when the Teacher goes to the door of the house of the three treasurers, stand in your several places and look out and stretch forth your hands and pay obeisance to him and honor him.” They followed her directions, and when the Teacher went and returned, they looked out and paid obeisance to him and honored him.
Māgandiyā’s plot against Sāmāvatī and the Buddha
Now one day Māgandiyā came forth from her own mansion and walked along until she came to the place where those women lived. Seeing a hole in a room, she asked, “What is this?” The women, not knowing of the hatred she had conceived towards the Teacher, said, “The Teacher has come to this city, and we stand here and look at the Teacher and honor him.” “So the hermit Gotama has come to this city!” thought Māgandiyā. “Now I shall know what ought to be done to him. These women also are his supporters. I shall know what ought to be done to them also.” So she said to the king, “Great king, Sāmāvatī and her followers are disloyal to you and in but a few days will take your life.” The king replied, “They will do nothing of the sort,” and refused to believe the charge. Even when the charge was repeated, he still refused to believe. When she made the charge the third time and he still refused to believe, she said to him, “If you do not believe me, great king, go to the place where they reside and judge for yourself.” The king went there, and seeing the holes in the walls of the rooms, asked, “What does this mean?” When the matter was explained to him, he did not get angry, said not a word, but had the holes filled up and windows made with openings above in all the rooms. (Windows with openings above came in at this time, we are told.)
Unable to injure the women, Māgandiyā thought to herself, “At any rate I will do to the monk Gotama what ought to be done.” So she bribed the citizens and said to them, “When the monk Gotama comes into the city and walks about, instigate slaves to revile him and abuse him and drive him out of the city.” So heretics who did not believe in the Three Jewels followed the Teacher about when he entered the city and shouted at him, “You are a thief, a simpleton, a fool, a camel, an ox, an ass, a denizen of hell, a beast, you have no hope of salvation, a state of punishment is all that you can look forward to.” Thus they reviled and abused him with the Ten Terms of Abuse.
Venerable Ānanda heard this and said to the Teacher, “Reverend Sir, these citizens are reviling and abusing us. Let us go elsewhere.” “Where shall we go, Ānanda?” “To some other city, Reverend Sir.” “If men revile us there, where shall we go then, Ānanda?” “To yet another city, Reverend Sir.” “If men revile us there, where shall we go then?” “To still another city, Reverend Sir.” “Ānanda, one should not speak thus. Where a difficulty arises, right there should it be settled. Only under those circumstances is it permissible to go elsewhere. But who are reviling you, Ānanda?” “Reverend Sir, everyone is reviling us, slaves and all.” “Ānanda, I am like an elephant that has entered the fray. Even as it is the duty of an elephant that has entered the fray to withstand the arrows which come from the four quarters, precisely so it is my duty to endure with patience the words spoken by many wicked men.” So saying, he preached the Law with reference to himself by pronouncing the following three Stanzas in the Nāga Vagga,
320. Even as an elephant engaged in the fray withstands arrows shot from the bow.
So also must I bear abuse, for the multitude is wicked.
321. It is a tamed elephant they lead to battle; it is a tamed elephant the king mounts;
It is the tamed that is best among men, he that endures abuse patiently.
322. Of surpassing excellence are mules which are tamed, and well-bred Sindh horses,
And great elephants of the jungle; but better yet is the man who has tamed himself.
This discourse benefited the assembled multitude. When the Teacher had thus preached the Law, he said, “Ānanda, be not disturbed. These men will revile you for only seven days, and on the eighth day they will become silent. A difficulty encountered by the Buddhas lasts no longer than seven days.”
When Māgandiyā had failed in her attempt to drive the Teacher out of the city by abusing him, she thought to herself, “Pray what can I do now?” Then the thought occurred to her, “These women are his supporters. I will destroy them.” Accordingly one day, while King Udena was drinking strong drink and she was waiting upon him, she sent the following message to her uncle, “Let my uncle come with eight dead cocks and eight live cocks. Having arrived, let him stand at the top of the stairs and announce his arrival. When he hears the word ‘Enter,’ let him not enter, but send in first the eight live cocks and afterwards the others.” And she gave a bribe to the page, saying, “Be sure to carry out my orders.”
Māgandiya came and announced himself to the king. When, however, he heard the word “Enter,” he said, “I will not enter the king’s drinking-place.” Māgandiyā then sent her page, saying, “Boy, go to my uncle.” He went, took the eight live cocks which Māgandiyā gave him, carried them to the king, and said, “Your majesty, the house-priest has sent you a present.” “A most excellent and dainty morsel!” said the king. “Now who will cook them?” Māgandiyā said, “Great king, the five hundred women led by Sāmāvatī have nothing to do. Send the cocks to them. Let them cook them and carry them to you.” Accordingly the king sent them, saying to the page, “Go give these cocks to these women. Tell them not to intrust them to the hands of anyone else, but to kill them and cook them themselves.” “Very well, your majesty,” replied the page, and went and delivered the message. But the women refused to do the king’s bidding, saying, “We do not take the life of any living creature.” The page returned and so informed the king.
Māgandiyā said, “You see, great king? Now you shall find out whether or not they really take the life of living creatures. Your majesty, send word to them, ‘ Cook them and send them to the monk Gotama.’ ” So the king sent this message to them. But the page, while pretending to carry the live cocks to the women, in reality went and gave those cocks to the house-priest and carried the eight dead cocks to the women, saying, “Cook these cocks and send them to the Teacher.” “This, to be sure, is our duty,” said the women in reply, and going to meet him, they received the cocks. When the page returned to the king and the latter asked him, “What was the result, boy?” he gave the king the following report, “The moment I said to them, “Cook these cocks and send them to the hermit Gotama,’ they came to meet me and accepted them.” “See, great king,” said Māgandiyā, “they will not do it for the like of you. But you would not believe me when I said to you, ‘Their inclination is towards another.’ ” But even when the king heard this, he tolerated their conduct and remained silent. Māgandiyā thought to herself, “What shall I do now?”
Now at this time the king was accustomed to divide his time equally among his three consorts, Sāmāvatī, Vāsuladattā, and Māgandiyā, spending seven days by turns in the apartment of each. Māgandiyā, knowing that he would go on the morrow or on the day after to the apartment of Sāmāvatī, sent word to her uncle, “Send me a snake, first washing its fangs with a poisonous drug.” He did as she told him to and sent her a snake. Now wherever the king went, he was accustomed to take with him his lute for charming elephants, and in the shell of this lute was a hole. Māgandiyā inserted the snake in the hole and stopped the hole with a bunch of flowers; for two or three days the snake remained within the lute.
On the day when the king was to go to Sāmāvatī’s apartment, Māgandiyā asked him, “To whose apartment will you go to-day, your majesty?” “To Sāmāvatī’s apartment.” Said Māgandiyā, “Your majesty, to-day I had a bad dream; you must not go there.” “I am going all the same.” Three times she tried to dissuade him from going and failed. Finally she said, “In that case I will go too.” In spite of the king’s protests she went with him, saying, “Your majesty, I do not know what will happen to you.”
The king, wearing garments, flowers, perfumes, and ornaments given him by Sāmāvatī and her followers, ate heartily, and then placed his lute by his pillow and lay down on the bed. Māgandiyā, pretending to be merely walking back and forth, removed the bunch of flowers from the opening in the lute; whereupon the snake, which had been without food for two or three days, glided from the opening, hissed, raised his hood, and coiled himself up on the top of the bed. When Māgandiyā saw the snake, she screamed with a loud voice, “Oh, your majesty, there is a snake!” And she straightway abused the king, saying, “This stupid, unlucky king will not listen to anything I say to him. As for these shameless scoundrels, what do they not receive from the king? You will live happily just as soon as the king is dead, but so long as he lives, you will have a hard time. Your majesty, when I cried out to you, ‘To-day I had a bad dream; you must not go to Sāmāvatī’s apartment’ you would not listen to what I said.”
When the king saw the snake, he was terrified with the fear of death, the fire of anger was kindled within him, and he said, “So this is the sort of thing they are capable of doing! What criminals they are! Yet I would not believe Māgandiyā when she told me of their evil nature. First they made holes in the walls of their own rooms and sat there; again, when I sent the cocks to them, they sent them back; to-day they have let a snake loose in my bed.”
Sāmāvatī delivered the following admonition to her five hundred women, “Friends, we have no other refuge. Cherish precisely the same feelings towards the king and the queen as you do towards yourselves. Be not angry with anyone.” The king took his horn-bow, which required a thousand men to string, twanged the bowstring, fitted a poisoned arrow to the string, and placing Sāmāvatī in front and all the other women in single file behind her, shot an arrow at Sāmāvatī’s breast. But through the supernatural power of her love the arrow turned back, and returning by the same path it had come, penetrated, as it were, the king’s heart.
The king thought to himself, “The arrow I shot is capable of piercing even a rock, and there was nothing in the air to make it turn back. But it turned and came back by the same path it went. Indeed this senseless, lifeless arrow knows her goodness, but I, who am a human being, know it not.” And throwing the bow away and stretching forth his hands in an attitude of reverent supplication, he knelt before Sāmāvatī’s feet and pronounced the following Stanza,
I am utterly confused and bewildered; all four quarters are confused in my mind.
Protect me, Sāmāvatī, and be a refuge to me.
Sāmāvatī, hearing his words, instead of saying, “Very well, your majesty, seek refuge in me,” said, “Great king, in whom I have sought refuge, in him do you also seek refuge.”
Having thus spoken, Sāmāvatī, disciple of the Supremely Enlightened, said,
Do not seek refuge in me! He in whom I have sought refuge,–
He is the Buddha, great king, he is the Buddha Incomparable!
Seek refuge in that Buddha, and do you be a refuge to me.
The king said, “Now I am the more afraid,” and pronounced the following Stanza,
Now I am the more confused; all four quarters are confused in my mind.
Protect me, Sāmāvatī, and be a refuge to me.
But she refused him precisely as before. Finally he said, “Well then, I seek refuge in you and in the Teacher, and I grant you a boon.” “I accept the boon, great king,” she replied.
The king approached the Teacher, sought refuge in him, invited him to accept his hospitality, and for seven days gave generous alms. Then, addressing Sāmāvatī, he said, “Rise and take your choice.” Sāmāvatī replied, “Great king, I have no need of gold and silver, but grant me this boon. Arrange matters so that the Teacher may come here regularly with his five hundred monks, so that I may hear the Law.” So the king paid obeisance to the Teacher and said, “Reverend Sir, come here regularly with your five hundred monks. Sāmāvatī and her attendants say they wish to hear the Law.” The Teacher replied, “Great king, the Buddhas may not always go to one place; many desire their presence.” “Well then, direct one monk to come.” The Teacher directed Ānanda to go. So Ānanda went every day to the royal palace with five hundred monks, and those women every day provided the Elder with food and listened to the Law.
One day, after they had listened to the Elder’s discourse on the Law, their hearts were filled with joy, and they rendered honor to the Elder by presenting him with five hundred yellow robes such as are worn over the shoulders, each worth five hundred pieces of money. When the king saw that they had not a single garment left, he asked them, “Where are your yellow robes?” “We gave them to the Reverend Elder.” “Did he take them all?” “Yes, he took them all.” The king approached the Elder, paid obeisance to him, questioned him about the gift of the robes by the women, and learning that the women had given the robes and that the Elder had received them, asked, “Reverend Sir, there were a great many robes, were there not? What will you do with so many?” “I shall keep as many as we require for ourselves and send the rest to those whose robes are worn out, great king.” “What will they do with their own worn-out robes?” “They will give them to those whose robes are in a still worse state of repair.” “What will they do with their own worn-out robes?” “They will make bedspreads of them.” “What will they do with the old bedspreads?” “They will make carpets of them.” “What will they do with the old carpets?” “They will make foot-towels of them.” “What will they do with the old foot-towels?” “They will cut them into small pieces, mix them with mortar, and use them to plaster walls with.”
“Reverend Sir, although all these are given to your reverences, nothing is lost.” “Quite so, great king.” The king was so pleased that he caused five hundred more robes to be brought and placed at the Elder’s feet.
(We are told that robes worth five hundred pieces of money were presented to the Elder and laid at his feet in lots of a thousand, and that he received this number a hundred thousand times; that robes worth a thousand pieces of money were presented to the Elder and laid at his feet in lots of a thousand, and that he received this number a thousand times; that robes worth a hundred thousand pieces of money were presented to the Elder and laid at his feet in lots of a thousand, and that he received this number a hundred times. It is impossible to enumerate the number of robes he received by ones and twos and threes and fours and fives and tens. We are told that, upon the death of the Teacher, the Elder traveled all over the Land of the Rose-apple, presenting to the monks in all of the monasteries bowls and robes of his own.)
Burning of Sāmāvatī and punishment of Māgandiyā
Māgandiyā thought to herself, “Whatever I do turns out otherwise than I expect. What shall I do now?” Finally she decided on a plan. On her way to the garden to amuse herself, she sent the following message to her uncle, “Go to Sāmāvatī’s palace, open the linen-closets and the oil-closets, soak pieces of cloth in the jars of oil, and wrap these cloths about the pillars. Then assemble all the women within the house, close the door, bar it from without, set fire to the house with torches, and then descend and go your way.”
Māgandiya went up into the palace, opened the closets, soaked garments in the oil-jars, and was just beginning to wrap them about the pillars when the women led by Sāmāvatī came up to him and said, “Why are you doing this, uncle?” “My ladies, the king desires these pillars to be strengthened, and has therefore given orders that they be wrapped in cloths soaked in oil. It is hard to understand why certain things should be done in a king’s house and certain other things should not be done. I beg of you, my ladies, not to remain here with me.” As soon as they had departed and entered their rooms at his suggestion, he closed the doors, barred them from without, set fire to first one cloth and then another, and descended.
Sāmāvatī delivered the following admonition to her followers, “It would not be an easy matter, even with the knowledge of a Buddha, to determine exactly the number of times our bodies have thus been burned with fire as we have passed from birth to rebirth in the round of existences which has no conceivable beginning. Therefore be heedful.” As the fire consumed the house, the women applied themselves to meditation on the element of pain, with the result that some of them attained the Fruit of the Second Path, while others attained the Fruit of the Third Path. Therefore it is said,
Now a large number of monks, returning from their alms-pilgrimage after breakfast, drew near to where the Exalted One was, and having drawn near, paid obeisance to the Exalted One and sat down reverently on one side. And as they sat there on one side, those monks said this to the Exalted One, “Here, Reverend Sir, while King Udena was in his pleasure-garden, the quarters of his women were consumed with fire, and five hundred women led by Sāmāvatī lost their lives. Reverend Sir, what will be the end, what will be the future state of these female lay disciples?”
“Monks, some of these female lay disciples obtained the Fruit of Conversion, others obtained the Fruit of the Second Path, others obtained the Fruit of the Third Path. Monks, none of those female lay disciples failed to receive the fruit of their past deeds.” And the Exalted One, clearly understanding the matter, breathed forth at that time the following Solemn Utterance,
Bound with the bond of delusion, the world appears to be good.
The simpleton, fettered by the conditions of being, enshrouded by darkness,
Thinks it eternal. But to him who really sees, there is naught.
So saying, he preached the Law, saying, “Monks, as living beings pass through the round of existences, they are not always heedful, and sometimes they commit sin. Therefore as they pass through the round of existences, they experience both pleasure and pain.”
When the king heard the cry, “Sāmāvatī’s house is on fire!” he went there quickly, but the house was burned before he could reach it. “Having extinguished the flames, he sat down surrounded by his retinue of courtiers, overwhelmed with profound grief, and recalled to his mind the virtues of Sāmāvatī. “Who could have done this deed?” thought he. Coming to the conclusion that Māgandiyā was the author of the crime, he thought to himself, “If I frighten her by my questions, she will not tell me. Therefore I will employ craft and question her gently.”
Accordingly he said to his ministers, “Well, until this moment, no matter what I was engaged in or occupied with, I was apprehensive and suspicious; Sāmāvatī was ever seeking occasion to slay me. But now my mind will rest in peace, and I shall be able to lie down to sleep in security.” “Who was it that did this deed, your majesty?” “Someone who really loved me must have done it.” Now Māgandiyā happened to be standing near, and when she heard the king say this, she said, “None other than I could have done this. I alone did it. I sent word to my uncle and ordered him to do it.” “Except you, there is not a living being who really loves me. I am delighted. I grant you a boon. Send for all of your relatives.”
So Māgandiyā sent the following message to her relatives, “The king is pleased with me and has granted me a boon. Come immediately.” The king rendered high honor to all those who came, insomuch that even persons who were in no way related to Māgandiyā, hearing about it, gave bribes and came and said, “We are relatives of Māgandiyā.” When the king had them all in his hands, he caused pits to be dug waist-deep in the palace-court, set them therein, filled up the pits with earth, spread straw on top, and set the straw on fire. When the skin had been burned to a crisp, he caused the bodies to be plowed with an iron plow and to be broken up into pieces and fragments. As for Māgandiyā, he had pieces of solid flesh ripped from various parts of her body with a sharp knife, and setting a vessel of oil on the brazier, he had them fried like cakes and made her eat them.
In the Hall of Truth the monks began to discuss matters, saying, “It is not right that a female lay disciple endowed with such faith should suffer such a death.” The Teacher came in and asked them, “Monks, what is it you are sitting here now talking about?” When they told him, he said, “Monks, if you regard this existence alone, it is indeed highly improper and unjust that the five hundred women led by Sāmāvatī should suffer such a death. What they received, however, was in every way proper, considering the sin they committed in a previous existence.” “Reverend Sir, what was the sin they committed in a previous existence? Pray tell us.” Responding to their request, the Teacher related the following
Story of the Past: Sāmāvatī’s attempt to burn a Private Buddha
Once upon a time, when Brahmadatta reigned in Benāres, there were eight Private Buddhas who regularly took their meals in the royal palace, and there were five hundred women who waited upon them. Seven of these Private Buddhas retired to the Himālaya, and the Private Buddha who remained sat down on the bank of the river where there was a tangle of grass, and entered into mystic meditation.
Now one day, after the Private Buddhas had departed, the king took those women and went to sport in the water. When those women, who had sported there in the water all day, came out, they were stung with cold. Desiring to warm themselves, they said to each other, “Seek out some place where we can build a fire.” As they walked back and forth, they saw the tangle of grass, and thinking it was no more than a heap of grass, they gathered round it and set it on fire. When the grass burned down and they saw the Private Buddha, they cried out, “We are lost! we are lost! The king’s Private Buddha is burning up. If the king finds it out, he will kill everyone of us. Let us burn him well while we are about it.” So all those women brought firewood from all directions and piled it on the Private Buddha until they had erected a great pyre. Then they poured oil on it, and saying to themselves, “Now he will burn,” they departed.
Now in the beginning their act was a thoughtless one, and they were not bound thereby. But afterwards they committed a deliberate sin and were bound to suffer the consequences thereof. While the Private Buddha was absorbed in mystic meditation, they might have brought a hundred thousand cartloads of firewood and poured oil thereon, and they could not even have caused him to feel the heat. So on the seventh day the Private Buddha arose and went where he pleased. Because they committed this sin, those women were boiled for many hundreds of thousands of years in Hell, and because the fruit of that same evil deed was not yet exhausted, their houses were burned, and they were burned in their houses in a hundred successive states of existence in this very manner. This is the sin they committed in a previous state of existence.
When the Teacher had related this story, the monks asked him, “But, Reverend Sir, how did Khujjuttarā come to be a hunchback? How did she become so wise? How did she obtain the Fruit of Conversion? How did she become an errand-girl?”
Story of the Past: Khujjuttarā’s former deeds
Monks, while that same king was ruling in Benāres, there was a Private Buddha who was slightly hunchbacked. Now a certain serving-woman, throwing a blanket over her shoulder and taking a golden vessel in her hand, bent over so that she looked like a hunchback, and saying, “This is the way our Private Buddha walks,” imitated his manner of walking. It was in consequence of this that she came to be a hunchback.
But on the first day she provided those Private Buddhas with seats in the royal palace, took their bowls, filled them with rice-porridge, and presented them to them. The Private Buddhas took the bowls of porridge, but they were so hot that they were obliged to shift them from one hand to the other. That woman, seeing what they were doing, presented to them eight ivory bracelets of her own, saying, “Use these bracelets as stands for your bowls.” When they had so done, they looked at her, whereupon she said, “Reverend Sirs, we have no use for these bracelets. Accept them as a present from us before you go.” The Private Buddhas took them with them to Nandamūla mountain-cave, and those bracelets are preserved there unimpaired to this day. As the result of this act of hers, she now knows the Tipiṭaka by heart and possesses profound wisdom. Likewise it was through waiting upon the Private Buddhas that she obtained the Fruit of Conversion. These were her deeds in the interval between two Buddhas.
In the dispensation of Kassapa, the Supremely Enlightened, a certain treasurer’s daughter of Benāres took her mirror one day, as the shades of evening drew on, and sat down to adorn herself. Now a certain intimate friend of hers, a nun freed from the Depravities, came to see her. For nuns freed from the Depravities like to visit the households of their supporters at eventide. But at that moment the treasurer’s daughter happened to have no errand-girl with her. So she said to the nun, “I greet you, Reverend Lady. Just take that basket of ornaments and give it to me.” The nun thought to herself, “If I do not take this basket and give it to her, she will take a dislike to me and will be reborn in Hell; but if I do give it to her, she will be reborn as the errand-girl of another. However, it is better to be the errand-girl of another than to suffer torment in Hell.” So out of pity for her she took the basket and gave it to her. In consequence of this act she became the errand-girl of another. Stories of the Past concluded.
Again one day in the Hall of Truth the monks started a discussion. “Sāmāvatī and her five hundred women were burned with fire in their house; as for Māgandiyā and her kinswomen, a fire of straw was built over their bodies, and their bodies were torn asunder with iron plows, and Māgandiyā was boiled in boiling oil. Which of these are alive and which are dead?” The Teacher came in and asked, “Monks, what are you sitting here now talking about?” When they told him, he said to them, “Monks, they that are heedless, though they live a hundred years, yet are they dead. They that are heedful, be they dead or alive, yet are they alive. Māgandiyā, while she yet lived, was dead already. Sāmāvatī and her followers, though they be dead, yet are they alive. For, monks, the heedful never die.” So saying, he pronounced the following Stanzas,
21. Heedfulness is the Way to the Deathless; heedlessness is the way to death.
The heedful never die, but they that are heedless are, as it were, dead already.
22. Knowing this clearly, they that are advanced in heedfulness
Delight in heedfulness, and rejoice in the state of the Elect.
23. They that devote themselves to meditation, they that are persevering, they that put forth resolute effort.
They, the wise, attain Nibbāna, the highest bliss.
- Ed. note: The notes here and in the following headers Story ii. 1. 1-6 are brought in from the Introduction, in accordance with Burlingame’s instruction: The story of Udena is the longest, and in many respects the most interesting, of all the stories of the Dhammapada Commentary. It is in reality a cycle of six stories of diverse origin and character, dealing with the fortunes of Udena, his principal treasurer, and his three queen-consorts. Only two of the stories are mainly concerned with the fortunes of Udena, the rest being introduced by simple and familiar literary devices. The story of the fortunes of Udena in the Dhammapada Commentary stands in much the same relation to the embedded stories as the frame-story of Udena in the Kathāsaritsāgara to the rest of the collection. Parallels to one or more of the stories are found in Buddhaghosa’s Visuddhi-Magga, Buddhaghosa’s Commentaries on the Majjhima and Aṅguttara, the Divyāvadāna, Kathāsaritsāgara, and other Sanskrit collections, and the Tibetan Kandjur. The kernel of two of the stories is derived from the Sutta-Nipāta and the Udāna. See also Rogers, Buddhaghosa’s Parables, v, pp. 32-60. Text: N i. 161-231.
- Story ii. 1. 1: i. 161-169 relates the circumstances of the birth and youthful career of Udena. The same story is related briefly by Buddhaghosa in his Commentary on Majjhima 85 (see Lac"te, p. 9251). A somewhat different version of the story is found in chapter ix of the Kathāsaritsāgara.
- Story ii. 1. 2: i. 169-187 relates the seven marvelous escapes from death of the luck-child Ghosaka, and is preceded by an account of Ghosaka’s previous kamma. The same story is related in detail by Buddhaghosa in his Commentary on the Etadagga Sutta of the Aṅguttara. For a comparative study of the two versions, see E. Hardy, JRAS., 1898, pp. 741-794. Parallels occur in many Sanskrit collections, and in fact in almost all of the literatures of the world. For a comparative study of the Oriental versions, see J. Schick, Das Glückskind mit dam Todesbrief.
- Ed. note: MN 51, Kandarakasutta (PTS, I, 340).
- Story ii. 1. 3: i. 187-191 relates the circumstances under which Sāmāvatī became one of the queen-consorts of Udena. Similar in all respects is the story of Pradyota and Śāntā (Sāmāvatī) in the Kandjur. See A. Schiefner, Mahākātjājana und König Tshanḍa-Pradjota: v, Epidemie zu Udshdshajinī (pp. 14-17).
- Story ii. 1. 4: i. 191-199 relates the capture of Udena by Caṇḍa-Pajjota and the winning of Vāsuladattā by Udena. Close parallels to this story occur in the Kathāsaritsāgara and Kandjur. See Kathāsaritsāgara, frame-story of chapters xi-xiv; and Schiefner, Mahākātjājana, xv, Udajana’s Gefangennehmung und Rettung (pp. 35-40). The same story is related very briefly by Buddhaghosa in his Commentary on Majjhima 85 (see Lac"te, p. 251).
- Story ii. 1. 5: i. 199-203 (cf. xiv. 1: iii. 193-199) relates the Buddha’s rejection of Māgandiyā’s offer of his daughter in marriage. The source of this story is Sutta-Nipāta, iv. 9, or some derivative thereof. A close parallel is Divyāvadāna, xxxvi, part 1, pp. 515-529. For a Sanskrit parallel from Eastern Turkestan, see A. F. R. Hoernle, JRAS., 1916, pp. 709 ff.
- Ed. note: Sn 835 (PTS edition).
- Story ii. 1. 6: i. 208-231 relates the compassing of Sāmāvatī’s death by Māgandiyā, and is preceded by the stories of the three treasurers, the monks and the tree-spirit, and Khujjuttara. A close parallel to this story is Divyāvadāna, xxxvi, part 2, pp. 529-544. Brief outlines of the story occur in Buddhaghosa’s Visuddhi-Magga, xii. 169., and in Schiefner, Lehensbeschreibung Śākjamunis (from the Kandjur), p. 47 (247). The burning of Sāmāvatī and her five hundred women is the subject of Udāna, vii. 10. The Dhammapada Commentary quotes the Udāna-passage word for word.
- Ed. note: see Khp 3, and passim.
- Udāna, vii. 10
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 1, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.