Tích Kumbhaghosaka
Kumbhaghosakaseṭṭhivatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 24 Kinh Pháp Cú, phẩm Không Phóng Dật, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú 24)
“Uṭṭhānavato satimato,
Sucikammassa nisammakārino;
Saññatassa ca dhammajīvino,
Appamattassa yasobhivaḍḍhatīti”
“Người chánh niệm nhiệt thành,
Tịnh nghiệp hiệp tri hành,
Giữ mình sống phải đạo,
Không buông lung thô tháo,
Hằng lừng lẫy thinh danh”
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết khi Ngài ngự ở Veḷuvana, đề cập đến Thiên hộ Kumbhaghosaka (Đào Khí Âm).
Thuở ấy, nhà của một phú Trưởng giả trong thành Rājagaha bị nhiễm bịnh thời khí (ahivātakarogo).
Lúc bịnh mới phát, ruồi lằn chết trước, kế đến những bò cái, súc vật khác chết tiếp theo. Từ đó, bệnh lây qua các nô tỳ, công nhân trong nhà và sau cùng lây đến chủ nhà.
Khi biết mình lâm trọng bịnh, liệu thế chắc không thoát khỏi chết, hai ông bà phú Trưởng giả đưa đôi mắt đẫm lệ nhìn cậu công tử đang đứng gần đó và bảo rằng: “Con ơi! Nghe nói lúc bịnh nầy mới phát, những người phá vách chạy thoát ra ngoài thì được sống sót. Vậy con đừng lo cho cha mẹ. Hãy tiên bảo kỳ thân, chạy thoát đi cho mau, nếu con còn sống ngày sau con trở về đây, đến hầm cha mẹ chôn giấu bốn trăm triệu đồng vàng, con đào lấy lên mà làm của sinh sống”.
Nghe qua những lời trăn trối của song thân trong giờ hấp hối, cậu con trai xúc động đến rơi nước mắt. Vừa lạy vừa khóc, cậu không biết làm gì hơn là vâng lời cha mẹ, trốn tránh tử thần, phá vách thoát ra ngoài chạy về miền sơn lâm (Pabbatagahano). Cậu ở tại đó mười hai năm trời dài đăng đẳng, mới quay về sanh quán.
Lúc ra đi là tiểu công tử hãy còn ấu xuân, bây giờ trở về râu tóc sum sê, mặt mày đổi khác nên không ai nhìn biết cậu là con nhà đại phú đã từ trần.
Công tử lên đến thăm chừng hầm chôn vàng mà song thân quá cố đã di ngôn cho cậu, thấy còn nguyên vẹn thì nghĩ thầm: “Bây giờ không còn ai nhận ra ta hết, nếu ta đào lên lấy kho vàng tiêu xài, thì sao khỏi chánh quyền bắt bớ làm khó dễ ta, nghĩ rằng ta là một kẻ bần cùng đạo trộm của người chôn giấu. Thôi ta hãy kiếm việc làm thuê, lấy tiền chi độ khẩu”
Thế rồi, công tử cải trang, ăn vận rách rưới, đi dần vào xóm lao động vừa đi vừa nói:
- Ai có cần mướn người làm không?
Khi ấy có người ở mướn, trông thấy Kumbhaghosaka trong bộ y phục bần cùng đi xin việc thì bảo cậu: “Nầy chú em, làm việc nầy giúp bọn ta, thì bọn ta sẽ cấp lương thực cho chú em”.
- Việc chi vậy mấy anh?
- Ôi việc nầy dễ ợt, nếu chú em mầy siêng năng thì hừng đông dậy cho sớm đi loanh quanh kiếm các công nhân và kêu gọi họ: “Anh em ơi! Hãy thức dậy đẩy xe ra ngoài và hãy bắt kê bỏ vô! Đã đến giờ thả voi, ngựa ra đồng cỏ rồi nghe! Chị em cũng mau mau ra nấu cơm, nấu cháo đi nghe!”, chỉ có vậy thôi.
Nghe giảng giải xong, công tử nhận chịu đáp:
- Được vậy tốt lắm.
Khi ấy, công tử được cấp cho một cái nhà ở gần nơi đó, mỗi ngày công tử làm tròn phần việc mà họ đã giao.
Thời bấy giờ, Quốc vương Bimbisāra có phép chỉ nghe tiếng nói mà đoán biết thân thế của tất cả mọi người. Một hôm Quốc vương tình cờ nghe được tiếng nói của công tử Kumbhaghosaka, bèn buột miệng phán rằng: “Đó là một tiếng nói của một thanh niên cự phú”.
Lúc ấy có bà ngự nữ đứng hầu đức vua, bà muốn ứng tiếng hỏi nhưng lại nghĩ thầm: “Chắc có lẽ đức vua cũng chẳng dạy cho ta biết rõ việc nầy đâu? Ta cần phải tự mình truy cho ra sự thật”.
Nghĩ rồi, bà ngự nữ phái một quan nội thị ra đi: “Khanh hãy điều tra xem thanh niên đó là người thế nào?”.
Nội thần vội vã ra đi, giáp mặt công tử Kumbhaghosaka rồi trở về tâu rằng: “Tâu lịnh bà, thanh niên đó là một người nghèo khổ, làm công cho một người ở mướn”.
Quốc vương nghe tâu làm thinh.
Qua ngày thứ hai, thứ ba, Quốc vương vẫn còn nghe tiếng nói ấy và cũng đã thốt ra những lời như trước, khiến cho bà ngự nữ đứng hầu nghe được, bà cũng nghĩ như trước: “Ta phải truy cho ra manh mối việc nầy”.
Bà đã sai phái người đi điều tra nhiều lượt, nhưng ai cũng về trả lời rằng: “Đó là một kẻ bần nhơn”.
Bà ngự phi suy nghĩ: “Quốc vương nghe tấu đó là một kẻ bần nhơn thì không tin, cứ lập đi lập lại rằng: “Đó là tiếng nói của chàng thanh niên đại phú”. Việc nầy ta phải làm cho ra lẽ, ta phải biết rõ sự thật mới được”.
Bà tâu cùng Quốc vương: “Tâu bệ hạ, xin bệ hạ cho thần thiếp một ngàn đồng vàng, thần thiếp sẽ dắt Công chúa đi theo, nhất định sẽ đem kho tàng ấy về nhập vào vương khố”.
Quốc vương chuẩn tấu, ban cho Vương phi một ngàn đồng vàng vương phi nhận tiền rồi, bảo Công chúa vận y phục bằng thứ vải thô kệch dơ dáy, đoạn hai mẹ con rời thành Rājagaha ra đi.
Giả trang khách lữ hành, hai phụ nữ quyền quí nầy đến ngay xóm lao động vào trong một nhà nọ hỏi một chủ nhà: “Bác ơi! Chúng tôi đi xa lỡ đường, xin bác làm ơn cho ở đỡ vài hôm rồi chúng ta sẽ ra đi”.
Chủ nhà đáp:
- Bác à! Không mấy khi bác đến đây hỏi xin ở nhờ, nhưng nhà cháu đông người chật chội lắm, đùm đậu ở đây không tiện, hay bác hỏi ở nhà Kumbhaghosaka thử xem, chú ấy ở một mình một cái nhà rộng lớn.
Vương phi dắt Công chúa đến đó, yêu cầu: “Ông ơi! Chúng cháu lỡ đường, xin ông chủ cho chúng cháu ở nhà nhờ trong một vài hôm”.
Thấy thanh niên từ chối nhiều lượt vương phi khẩn khoản van nài: “Ông chủ làm ơn cho chúng cháu ngủ nhờ một đêm nay thôi, ngày mai chúng cháu sẽ đi sớm”.
- Ờ thôi được! Hai người ở đỡ một đêm thì cứ ở.
Ngày hôm sau vương phi không chịu từ giã lên đường, chờ khi công tử đi ra đồng làm việc trở về vương phi bảo: “Ông chủ ơi! Ông có lòng tốt cho chúng tôi ở tá túc, chúng tôi không biết lấy chi đền ơn vậy chúng tôi xin nấu cơm giúp ông chủ”.
- Thôi đi bà ơi! Tôi tự nấu lấy mà ăn cũng được.
Tuy bị từ chối vương phi cũng không nản lòng, cứ đeo theo yêu cầu mãi về sau cũng được công tử chấp nhận vương phi bèn ra chợ mua các thứ ngon lành hảo hạng như gạo trắng thơm… đem về nấu nướng theo thực đơn của nhà vua, gồm: Có cơm trắng nuốt như bông bưởi, phụ thêm hai ba món sơn hào hải vị cam trân ngào ngạt, chờ công tử đi làm về dọn ra cho công tử dùng. Khi thấy công tử dùng xong bữa có vẻ hài lòng thỏa mãn. Vương phi bèn nói với ông chủ:
- Ông chủ ơi! Mẹ con chúng tôi còn mệt, xin ông chủ cảm phiền cho mẹ con tôi ở lại một đôi ngày nữa.
Công tử nhận lời:
- Ờ được.
Ngày hôm sau vương phi đích thân đứng nấu các
món thực phẩm hướng điềm dọn cho công tử ăn.
Thấy biết công tử đã xiêu lòng vương phi nài nỉ xin ở thêm mấy ngày nữa.
Nay lần mai lượt, thừa lúc công tử Kumbhaghosaka vắng nhà vương phi dùng dao bén cắt đứt nhiều khúc ở dưới hai bên phía dưới giường nệm của công tử. Khi công tử đi làm về, ngồi lên giường thì cái giường lún thấp xuống.
Công tử hỏi: “Tại sao cái giường nầy thủng xuống như vầy đây?”.
- Thưa ông chủ, có mấy đứa con nít ở lối xóm lại chơi, chúng nó nghịch quá, tôi ngăn cản không được. Chúng nó cả đám trèo ngồi hết trên giường hoài.
- Bà ơi! Tôi mắc cái nạn nầy cũng là tại cho bà ở đậu mà ra, chớ lúc trước mỗi lần ra đi, tôi khóa cửa nhà lại hết thì đâu có xảy ra chuyện gì?
- Tôi ngăn lũ trẻ không được thì biết làm sao. Thưa ông chủ.
Vương phi kiếm lời chống chế như vậy, rồi cứ ngày một ngày hai xin lưu lại ở trong nhà, cắt đứt hết dàn dây treo nệm, chỉ còn chừa lại mỗi sợi vải tao nguyên mà thôi, mặc cho công tử phiền hà trách móc.
Một hôm, công tử đi làm về vừa ngồi trên giường thì cái giường nệm sụp xuống luôn, làm công tử té ngồi, dộng trán trên hai đầu gối. Công tử đứng dậy cằn nhằn: “Tôi làm cái gì, tôi sẽ đi đâu bây giờ, mấy bà báo hại tôi mất cả giường nằm”.
- Ông chủ ơi! Ông đừng buồn tội nghiệp, tôi biết làm sao hơn, tại lũ trẻ con tinh nghịch quá, tôi không ngăn nổi. Thôi giờ nầy ông định đi đâu? Thôi ông cảm phiền lên ngủ đỡ một giường với em gái một đêm nay.
Vương phi bảo Công chúa: “Con ạ, con nằm nép qua một bên cho anh con nằm chung với”.
Công chúa nằm chừa một khoảng trống và kêu: “Ông chủ lên nằm đây đi”.
Vương phi cũng giục công tử: “Ông chủ cứ lên nằm một bên em gái đi”.
Công tử Kumbhaghosaka y lời, lên nằm ngủ chung một giường với Công chúa, chỉ trong đêm ấy, trai gái đã giao tình với nhau. Thiếu nữ phát khóc thút thít. Nghe tiếng vương phi gạn hỏi:
- Sao con khóc vậy con?
- Thưa mẹ! Chuyện xảy ra như vầy…
- Con ạ! Việc đã lỡ rồi, có khóc cũng chẳng ích chi. Vả lại con gái lớn cần phải lấy chồng, trai lớn cần phải lấy vợ. Con được sửa trấp nâng khăn cho công tử đây, cũng là một việc rất hay vậy.
Nói rồi Vương phi nhìn nhận công tử là giai tế của mình. Từ đó, ba mẹ con sống chung với nhau rất thuận hòa êm thắm.
Cách mấy hôm sau vương phi cho người thông tin lên đức vua: “Xin bệ hạ cho kỵ binh đi rao truyền. Cho thần dân trong xóm lao động phải ăn mừng lễ khánh hạ, nhà nào không tuân lệnh thì phải nộp tiền phạt!”.
Quốc vương y tấu, cho lính mã kỵ bắt loa loan truyền vương lịnh trong xóm lao động.
Khi ấy, bà hỏi chàng rể:
- Con ạ! Có lịnh đức vua truyền lịnh dân chúng trong xóm lao động chúng ta phải ăn mừng lễ khánh hạ. Vậy ta phải làm sao bây giờ?
- Thưa má, con đi làm thuê, lương không đủ sống, biết làm thế nào bây giờ.
- Con ạ! Những người có nhà ở thì vay mượn được, còn lịnh vua truyền xuống thì không thể cãi lại đâu con. Vậy con đi hỏi coi có nhà nào cho vay thì con cầm cố vay mượn đỡ một vài đồng vàng đem về cho má.
Công tử bực mình vừa đi vừa cằn nhằn, đến hầm chôn vàng đào lấy lên một đồng đưa cho nhạc mẫu.
Vương phi gởi đồng vàng ấy lên cho đức vua và lấy tiền mình ra xài phí trong cuộc lễ.
Độ vài hôm sau vương phi lại cho người thông tin lên Quốc vương, cũng tâu xin như trước.
Quốc vương lại hạ lịnh cho thần dân ăn mừng lễ khánh chức, nhà nào không tuân lịnh thì phải nộp phạt.
Công tử Kumbhaghosaka nghe mẹ vào báo tin và thúc hối chạy tiền thì cằn nhằn, nhưng cũng đi lấy hai ba đồng vàng đem về.
Vương phi nhận được tiền của con rể, bèn gọi người thân tín đem dâng lên đức vua. Lại cách mấy hôm nữa vương phi thông tin lên đức vua: “Bây giờ, xin bệ hạ hãy triệu công tử về triều”.
Quốc vương y tấu, cho binh cầm lịnh tiển đi triệu công tử Kumbhaghosaka.
Toán lệ binh đến xóm lao động, kiếm hỏi người rằng: “Ai tên là Kumbhaghosaka?”. Sau cùng gặp được công tử, họ gọi:
- Lại đây chú ơi! Có lịnh của đức vua đòi chú về triều.
Công tử hoảng hốt, không biết có chuyện gì mà binh lính đến kiếm mình, nên đáp:
- Quốc vương không quen biết với tôi mà. Vả lại, tôi có làm tội lệ gì đâu…
Nói rồi, công tử không chịu đi.
Khi ấy, toán lệ binh bất đắc dĩ phải dùng cường lực, nắm hai tay công tử lôi đi, thấy họ làm như vậy vương phi quở rằng:
- Nè những quân khó dạy. Bây nắm tay lôi bừa con rể của ta như vậy là bất hợp pháp đó nghe.
Hăm he toán lính rồi vương phi trấn an công tử:
- Con cứ đi đi, đừng sợ chi cả. Mẹ về bái kiến đức vua xong, đứa nào nắm tay con lôi kéo, mẹ sẽ bắt chặt tay chúng nó hết.
Nói rồi Vương phi dắt Công chúa về triều trước, thay đổi xiêm y, trang điểm tươm tất và mặc y phục lộng lẫy, rồi đứng chờ ở trong một phía nơi cung đình.
Công tử Kumbhaghosaka bị lệ binh điệu đến sân triều, quì xuống triều bái Quốc vương xong, đứng lên chờ lịnh.
Quốc vương phán hỏi: “Khanh tên là Khumbhaghosaka phải không ?”.
- Muôn tâu đại vương, phải.
- Vì lý do gì, khanh có một kho tàng to tát mà lại giấu, không khai báo chi hết vậy?
- Muôn tâu đại vương, ngu dân nầy đâu có kho vàng nào. Ngu dân nghèo khó, còn phải đi làm mướn kiếm ăn.
Khi ấy, Quốc vương lấy mấy đồng tiền vàng của công tử trưng ra làm tang vật và phán hỏi: “Mấy đồng vàng nầy của ai đây?”.
Công tử nhìn biết là tiền của mình thì sợ hãi, than rằng:
- Trời ơi! Nguy cho ta rồi, tại sao mấy đồng tiền vàng này lọt vào tay đức vua?”.
Nhìn quanh một lượt, công tử trông thấy Vương phi và Công chúa xiêm y lộng lẫy đang đứng chỗ ngưỡng cửa ngự phòng thì nói thầm: “Quả thật ta mắc tội khi quân nặng lắm, hai mẹ con bà ấy chắc là người của đức vua cho theo do thám ta”.
Thấy công tử nín thinh, Quốc vương phán bảo: “Thôi khanh hãy nên khai hết sự thật. Tại sao khanh làm như thế?”.
- Tâu đại vương! Vì hạ thần không có ai là người bảo trợ để cho hạ thần nương nhờ cả.
- Người như trẫm không làm chỗ nương nhờ cho khanh được sao?
- Tâu đại vương! Thật là tốt đẹp quí báu, nếu hạ thần được đại vương bảo trợ cho hạ thần được có chỗ nương nhờ.
- Kho vàng của khanh tất cả được bao nhiêu?
- Tâu đại vương, bốn trăm triệu đồng vàng.
- Khanh cần phương tiện gì để đem lên?
- Tâu đại vương, hạ thần cần nhiều xe bò.
Quốc vương truyền lịnh thắng mấy trăm cỗ xe bò, cho lệ binh đi theo Kumbhaghosaka đến hầm chôn vàng, lấy vàng chất lên xe bò, chở về sân ngự chất thành một đống to lớn. Đoạn Quốc vương triệu tập tất cả dân cư trong thành Rājagaha và phán hỏi:
- Trong đô thành có ai làm chủ được bấy nhiêu vàng đây không ?
- Tâu đại vương, không.
- Vậy ta nên làm gì đây?
- Tâu đại vương! Xin đại vương trọng thưởng và phong chức tước cho chủ kho vàng nầy.
Quốc vương y tấu, ân tứ nhiều tặng phẩm tưởng thưởng công tử Kumbhaghosaka, phong cho công tử chức Thiên hộ và gả Công chúa cho công tử.
Xong rồi Quốc vương với tân Phò mã, ngự đến yết kiến Đức Bổn Sư. Sau khi đảnh lễ Ngài, Quốc vương bạch rằng: “Bạch Ngài, quả nhân chưa từng thấy ai cương nghị như thanh niên nầy, mặc dù làm chủ một kho tàng bốn trăm triệu, chàng không hề ỷ lại, chàng làm như kẻ bần hàn, ăn vận rách rưới, làm thuê cho xóm lao động mà nuôi mạng sống, quả nhân đã khéo dùng mưu mẹo điều tra mới khám phá ra sự thật và cho đào lấy kho vàng đưa vào triều. Quả nhân đã gả Công chúa cho chàng, phong cho phẩm hàm Thiên hộ kiêm chức Phò mã. Bạch Ngài, thật quả nhân chưa từng thấy ai giàu nghị lực như thiếu niên nầy vậy”.
Nghe xong, Đức Bổn Sư đáp:
- Tâu đại vương! Người giữ theo một nếp sống như thế, mới gọi là sống theo lẽ đạo, còn kẻ bất lương làm nghề trộm cướp chẳng hạn, chỉ chuyên đàn áp nhiễu hại trong kiếp hiện tại, chúng sẽ không có sự an vui. Quả thật thanh niên con nhà giàu có, không may gặp cảnh sa sút mà chịu khó làm công nhân hoặc làm nông phu để nuôi mạng như thế, thì đáng gọi là sống chánh mạng, phải đạo lý. Người có sự tinh tấn, đầy đủ sự ghi nhớ chánh niệm, sau khi dùng trí tuệ cân nhắc rồi mới hành động sao cho tri hành hiệp nhất giữa ba nghiệp, thân, khẩu và ý của mình thuần tịnh luôn luôn, nhất là giữ mình sống đời đạo lý, nương theo chánh mạng, không bao giờ xa lìa chánh niệm thì thanh danh về quyền hành, chức tước hoặc sự nghiệp càng ngày càng tăng trưởng thêm lên.
Đến đây, Đức Bổn Sư ngâm kệ ngôn rằng:
“Uṭṭhānavato satimato,
Sucikammassa nisammakārino;
Saññatassa ca dhammajīvino,
Appamattassa yasobhivaḍḍhatīti”
“Nhiệt thánh chánh niệm song song,
Thân, tâm, khẩu nghiệp sạch trong phải đường.
Trí năng cân nhắc tỏ tường,
Sống theo đạo lý, luân thường chẳng quên”
CHÚ GIẢI:
Trên đây, tiếng Uṭṭhānavato chỉ người có lòng nhiệt thành, tinh tấn hăng hái, chuyên cần.
Satimato: Người có đầy đủ sự ghi nhớ hay pháp chánh niệm.
Sucikammassa: (là người) tịnh nghiệp, nghĩa là tam nghiệp (thân, khẩu, ý) đều thanh tịnh, trong sạch vô tội.
Nisammakārino: Là người có chánh niệm nhận thức đúng đắn và hành động phù hợp với kiến thức chân xác của mình. Hễ ý nghĩ hay lời nói làm sao thì việc làm cũng vậy, hoặc là người suy xét kỹ lưỡng, nghĩ đến nguyên nhân và hậu quả các nghiệp mình tạo do thân, khẩu, ý trong sạch vô tội rồi mới hành động.
Saññatassa: là biết rõ bằng trí tuệ các thanh hạnh của mình, biết tam nghiệp mình vô tội.
Dhammajīvino: Là người sống hợp theo lý đạo, nuôi mạng chân chánh, như tại gia thì không lường thăng tráo đấu, mua cân già bán cân non, điêu ngoa gian xảo… còn xuất gia tu hành thì không làm hai mươi mốt pháp tà mạng, như cho thuốc, đi thơ… chỉ sống tự túc và tri túc bằng cách trì bình khất thực, lây lất qua ngày.
Appamattassa: Là không buông lung, không phóng dật, không quên lãng sự thu thúc, chánh niệm.
Yasobhivaḍḍhati: Thanh danh tăng trưởng, là quyền tước chức vụ, tên tuổi… càng ngày càng lừng lẫy, càng được nhiều người mến phục.
Sau khi bài kệ chấm dứt, Thiên hộ Kumbhaghosaka đắc quả Nhập Lưu, ngoài ra còn có nhiều người đắc Thánh quả. Nhất là Sơ quả do nhờ thính pháp của Đức Bổn Sư, hàng đại chúng hưởng được lợi ích như thế.
Chánh niệm, chuyên cần, nhẫn biết bao!
Tấm gương Kumbha sáng hùng hào!
Giá nghề ti tiện thân hèn hạ,
Thật kế châu toàn của quí cao!
Nếu chẳng Tần Vương nghe tiếng mách,
Thì không hoàng tộc bước chân vào,
Đức dày phước lớn càng tăng trưởng,
Bỏ lúc trần ai chịu khổ lao!
DỨT TÍCH KUMBHAGHOSAKA
Kumbhaghosakaseṭṭhivatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Uṭṭhānavatoti imaṃ dhammadesanaṃ satthā veḷuvane viharanto kumbhaghosakaṃ ārabbha kathesi. Rājagahanagarasmiñhi rājagahaseṭṭhino gehe ahivātarogo uppajji, tasmiṃ uppanne makkhikā ādiṃ katvā yāva gāvā paṭhamaṃ tiracchānagatā maranti, tato dāsakammakaro, sabbapacchā gehasāmikā, tasmā so rogo sabbapacchā seṭṭhiñca jāyañca gaṇhi. Te rogena phuṭṭhā puttaṃ santike ṭhitaṃ oloketvā assupuṇṇehi nettehi taṃ āhaṃsu – “tāta, imasmiṃ kira roge uppanne bhittiṃ bhinditvā palāyantāva jīvitaṃ labhanti, tvaṃ amhe anoloketvā palāyitvā jīvanto punāgantvā amhākaṃ asukaṭṭhāne nāma cattālīsa dhanakoṭiyo nidahitvā ṭhapitā, tā uddharitvā jīvikaṃ kappeyyāsī”ti. So tesaṃ vacanaṃ sutvā rudamāno mātāpitaro vanditvā maraṇabhayabhīto bhittiṃ bhinditvā palāyitvā pabbatagahanaṃ gantvā dvādasa vassāni tattha vasitvā mātāpituvasanaṭṭhānaṃ paccāgañchi.
Atha naṃ daharakāle gantvā parūḷhakesamassukāle āgatattā na koci sañjāni. So mātāpitūhi dinnasaññāvasena dhanaṭṭhānaṃ gantvā dhanassa arogabhāvaṃ ñatvā cintesi – “maṃ na koci sañjānāti, sacāhaṃ dhanaṃ uddharitvā valañjissāmi, ‘ekena duggatena nidhi uddhaṭo’ti maṃ gahetvā viheṭheyyuṃ, yaṃnūnāhaṃ bhatiṃ katvā jīveyya”nti. Athekaṃ pilotikaṃ nivāsetvā, “atthi koci bhatakena atthiko”ti pucchanto bhatakavīthiṃ pāpuṇi. Atha naṃ bhatakā disvā, “sace amhākaṃ ekaṃ kammaṃ karissasi, bhattavetanaṃ te dassāmā”ti āhaṃsu. “Kiṃ kammaṃ nāmā”ti? “Pabodhanacodanakammaṃ. Sace ussahasi, pātova uṭṭhāya ‘tātā, uṭṭhahatha, sakaṭāni sannayhatha, goṇe yojetha, hatthiassānaṃ tiṇatthāya gamanavelā; ammā, tumhepi uṭṭhahatha, yāguṃ pacatha, bhattaṃ pacathā’ti vicaritvā ārocehī”ti. So “sādhū”ti sampaṭicchi. Athassa vasanatthāya ekaṃ gharaṃ adaṃsu. So devasikaṃ taṃ kammaṃ akāsi.
Athassa ekadivasaṃ rājā bimbisāro saddamassosi. So pana sabbaravaññū ahosi. Tasmā “mahādhanassa purisassesa saddo”ti āha. Athassa santike ṭhitā ekā paricārikā “rājā yaṃ vā taṃ vā na kathessati, idaṃ mayā ñātuṃ vaṭṭatī”ti cintetvā – “gaccha, tāta, etaṃ jānāhī”ti ekaṃ purisaṃ pahiṇi. So vegena gantvā taṃ disvā āgantvā, “eko bhatakānaṃ bhatikārako kapaṇamanusso eso”ti ārocesi. Rājā tassa vacanaṃ sutvā tuṇhī hutvā dutiyadivasepi tatiyadivasepi taṃ tassa saddaṃ sutvā tatheva āha. Sāpi paricārikā tatheva cintetvā punappunaṃ pesetvā, “kapaṇamanusso eso”ti vutte cintesi – “rājā ‘kapaṇamanusso eso’ti vacanaṃ sutvāpi na saddahati, punappunaṃ ‘mahādhanassa purisassesa saddo’ti vadati, bhavitabbamettha kāraṇena, yathāsabhāvato etaṃ ñātuṃ vaṭṭatī”ti. Sā rājānaṃ āha, “deva, ahaṃ sahassaṃ labhamānā dhītaraṃ ādāya gantvā etaṃ dhanaṃ rājakulaṃ pavesessāmī”ti. Rājā tassā sahassaṃ dāpesi.
Sā taṃ gahetvā dhītaraṃ ekaṃ malinadhātukaṃ vatthaṃ nivāsāpetvā tāya saddhiṃ rājagehato nikkhamitvā maggapaṭipannā viya bhatakavīthiṃ gantvā ekaṃ gharaṃ pavisitvā, “amma, mayaṃ maggapaṭipannā, ekāhadvīhaṃ idha vissamitvā gamissāmā”ti āha. “Amma, bahūni gharamānusakāni, na sakkā idha vasituṃ, etaṃ kumbhaghosakassa gehaṃ tucchaṃ, tattha gacchathā”ti. Sā tattha gantvā, “sāmi, mayaṃ maggapaṭipannakā, ekāhadvīhaṃ idha vasissāmā”ti vatvā tena punappunaṃ paṭikkhittāpi, “sāmi, ajjekadivasamattaṃ vasitvā pātova gamissāmā”ti nikkhamituṃ na icchi. Sā tattheva vasitvā punadivase tassa araññagamanavelāya, “sāmi, tava nivāpaṃ datvā yāhi, āhāraṃ te pacissāmī”ti vatvā, “alaṃ, amma, ahameva pacitvā bhuñjissāmī”ti vutte punappunaṃ nibandhitvā tena dinne gahitamattakeyeva katvā antarāpaṇato bhājanāni ceva parisuddhataṇḍulādīni ca āharāpetvā rājakule pacananiyāmena suparisuddhaṃ odanaṃ, sādhurasāni ca dve tīṇi sūpabyañjanāni pacitvā tassa araññato āgatassa adāsi. Atha naṃ bhuñjitvā muducittataṃ āpannaṃ ñatvā, “sāmi, kilantamha, ekāhadvīhaṃ idheva homā”ti āha. So “sādhū”ti sampaṭicchi.
Athassa sāyampi punadivasepi madhurabhattaṃ pacitvā adāsi. Atha muducittataṃ tassa ñatvā “sāmi, katipāhaṃ idheva vasissāmā”ti. Tattha vasamānā tikhiṇena satthena tassa mañcavāṇaṃ heṭṭhāaṭaniyaṃ tahaṃ tahaṃ chindi. Mañco tasmiṃ āgantvā nisinnamatteyeva heṭṭhā olambi. So “kasmā ayaṃ mañco evaṃ chijjitvā gato”ti āha. “Sāmi, daharadārake vāretuṃ na sakkomi, ettheva sannipatantī”ti. “Amma, idaṃ me dukkhaṃ tumhe nissāya jātaṃ. Ahañhi pubbe katthaci gacchanto dvāraṃ pidahitvā gacchāmī”ti. “Kiṃ karomi, tāta, vāretuṃ na sakkomī”ti. Sā imināva niyāmena dve tayo divase chinditvā tena ujjhāyitvā khīyitvā vuccamānāpi tatheva vatvā puna ekaṃ dve rajjuke ṭhapetvā sese chindi. Taṃ divasaṃ tasmiṃ nisinnamatteyeva sabbaṃ vāṇaṃ bhūmiyaṃ pati, sīsaṃ jaṇṇukehi saddhiṃ ekato ahosi, so uṭṭhāya, “kiṃ karomi, idāni kuhiṃ gamissāmi, nipajjanamañcassapi tumhehi asāmiko viya katomhī”ti āha. “Tāta, kiṃ karomi, paṭivissakadārake vāretuṃ na sakkomi, hotu, mā cintayi, imāya nāma velāya kuhiṃ gamissasī”ti dhītaraṃ āmantetvā, “amma, tava bhātikassa nipajjanokāsaṃ karohī”ti āha. Sā ekapasse sayitvā “idhāgaccha, sāmī”ti āha. Itaropi naṃ “gaccha, tāta, bhaginiyā saddhiṃ nipajjā”ti vadesi. So tāya saddhiṃ ekamañce nipajjitvā taṃ divasaññeva santhavaṃ akāsi, kumārikā parodi. Atha naṃ mātā pucchi – “kiṃ, amma, rodasī”ti? “Amma, idaṃ nāma jāta”nti. “Hotu, amma, kiṃ sakkā kātuṃ, tayāpi ekaṃ bhattāraṃ imināpekaṃ pādaparicārikaṃ laddhuṃ vaṭṭatī”ti taṃ jāmātaraṃ akāsi. Te samaggavāsaṃ vasiṃsu.
Sā katipāhaccayena rañño sāsanaṃ pesesi – “bhatakavīthiyaṃ chaṇaṃ karontu. Yassa pana ghare chaṇo na karīyati, tassa ettako nāma daṇḍoti ghosanaṃ kāretū”ti. Rājā tathā kāresi. Atha naṃ sassu āha – “tāta, bhatakavīthiyaṃ rājāṇāya chaṇo kattabbo jāto, kiṃ karomā”ti? “Amma, ahaṃ bhatiṃ karontopi jīvituṃ na sakkomi, kiṃ karissāmī”ti? “Tāta, gharāvāsaṃ vasantā nāma iṇampi gaṇhanti, rañño āṇā akātuṃ na labbhā. Iṇato nāma yena kenaci upāyena muccituṃ sakkā, gaccha, kutoci ekaṃ vā dve vā kahāpaṇe āharā”ti āha. So ujjhāyanto khīyanto gantvā cattālīsakoṭidhanaṭṭhānato ekameva kahāpaṇaṃ āhari. Sā taṃ kahāpaṇaṃ rañño pesetvā attano kahāpaṇena chaṇaṃ katvā puna katipāhaccayena tatheva sāsanaṃ pahiṇi. Puna rājā tatheva “chaṇaṃ karontu, akarontānaṃ ettako daṇḍo”ti āṇāpesi. Punapi so tāya tatheva vatvā nippīḷiyamāno gantvā tayo kahāpaṇe āhari. Sā tepi kahāpaṇe rañño pesetvā puna katipāhaccayena tatheva sāsanaṃ pahiṇi – “idāni purise pesetvā imaṃ pakkosāpetū”ti. Rājā pesesi. Purisā gantvā, “kumbhaghosako nāma kataro”ti pucchitvā pariyesantā taṃ disvā “ehi, bho rājā, taṃ pakkosatī”ti āhaṃsu. So bhīto “na maṃ rājā jānātī”tiādīni vatvā gantuṃ na icchi. Atha naṃ balakkārena hatthādīsu gahetvā ākaḍḍhiṃsu. Sā itthī te disvā, “are, dubbinītā, tumhe mama jāmātaraṃ hatthādīsu gahetuṃ ananucchavikā”ti tajjetvā, “ehi, tāta, mā bhāyi, rājānaṃ disvā tava hatthādigāhakānaṃ hattheyeva chindāpessāmī”ti dhītaraṃ ādāya purato hutvā rājagehaṃ patvā vesaṃ parivattetvā sabbālaṅkārapaṭimaṇḍitā ekamantaṃ aṭṭhāsi. Itarampi parikaḍḍhitvā ānayiṃsuyeva.
Atha naṃ vanditvā ṭhitaṃ rājā āha – “tvaṃ kumbhaghosako nāmā”ti? “Āma, devā”ti. “Kiṃ kāraṇā mahādhanaṃ vañcetvā khādasī”ti? “Kuto me, deva, dhanaṃ bhatiṃ katvā jīvantassā”ti? “Mā evaṃ kari, kiṃ amhe vañcesī”ti? “Na vañcemi, deva, natthi me dhana”nti. Athassa rājā te kahāpaṇe dassetvā, “ime kassa kahāpaṇā”ti āha. So sañjānitvā, “aho bālomhi, kathaṃ nu kho ime rañño hatthaṃ pattā”ti ito cito ca olokento tā dvepi paṭimaṇḍitapasādhanā gabbhadvāramūle ṭhitā disvā, “bhāriyaṃ vatidaṃ kammaṃ, imāhi raññā payojitāhi bhavitabba”nti cintesi. Atha naṃ rājā “vadehi, bho, kasmā evaṃ karosī”ti āha. “Nissayo me natthi, devā”ti. “Mādiso nissayo bhavituṃ na vaṭṭatī”ti. “Kalyāṇaṃ, deva, sace me devo avassayo hotī”ti. “Homi, bho, kittakaṃ te dhana”nti? “Cattālīsakoṭiyo, devā”ti. “Kiṃ laddhuṃ vaṭṭatī”ti? “Sakaṭāni devā”ti? Rājā anekasatāni sakaṭāni yojāpetvā pahiṇitvā taṃ dhanaṃ āharāpetvā rājaṅgaṇe rāsiṃ kārāpetvā rājagahavāsino sannipātāpetvā, “atthi kassaci imasmiṃ nagare “ettakaṃ dhana”nti pucchitvā “natthi, devā”ti. “Kiṃ panassa kātuṃ vaṭṭatī”ti? “Sakkāraṃ, devā”ti vutte mahantena sakkārena taṃ seṭṭhiṭṭhāne ṭhapetvā dhītaraṃ tasseva datvā tena saddhiṃ satthu santikaṃ gantvā vanditvā “bhante, passathimaṃ purisaṃ, evarūpo dhitimā nāma natthi, cattālīsakoṭivibhavo hontopi uppilāvitākāraṃ vā asmimānamattaṃ vā na karoti, kapaṇo viya pilotikaṃ nivāsetvā bhatakavīthiyaṃ bhatiṃ katvā jīvanto mayā iminā nāma upāyena ñāto. Jānitvā ca pana pakkosāpetvā sadhanabhāvaṃ sampaṭicchāpetvā taṃ dhanaṃ āharāpetvā seṭṭhiṭṭhāne ṭhapito, dhītā cassa mayā dinnā. Bhante, mayā ca evarūpo dhitimā na diṭṭhapubbo”ti āha.
Taṃ sutvā satthā “evaṃ jīvantassa jīvikaṃ dhammikajīvikaṃ nāma, mahārāja, corikādikammaṃ pana idhaloke ceva pīḷeti hiṃseti, paraloke ca, tatonidānaṃ sukhaṃ nāma natthi. Purisassa hi dhanapārijuññakāle kasiṃ vā bhatiṃ vā katvā jīvikameva dhammikajīvikaṃ nāma. Evarūpassa hi vīriyasampannassa satisampannassa kāyavācāhi parisuddhakammassa paññāya nisammakārino kāyādīhi saññatassa dhammajīvikaṃ jīvantassa satiavippavāse ṭhitassa issariyaṃ vaḍḍhatiyevā”ti vatvā imaṃ gāthamāha –
“Uṭṭhānavato satīmato,
Sucikammassa nisammakārino;
Saññatassa dhammajīvino,
Appamattassa yasobhivaḍḍhatī”ti.
Tattha uṭṭhānavatoti uṭṭhānavīriyavantassa. Satimatoti satisampannassa. Sucikammassāti niddosehi niraparādhehi kāyakammādīhi samannāgatassa. Nisammakārinoti evañce bhavissati, evaṃ karissāmīti vā, imasmiṃ kamme evaṃ kate idaṃ nāma bhavissatīti vā evaṃ nidānaṃ sallakkhetvā rogatikicchanaṃ viya sabbakammāni nisāmetvā upadhāretvā karontassa. Saññatassāti kāyādīhi saññatassa nicchiddassa. Dhammajīvinoti agārikassa tulākūṭādīni vajjetvā kasigorakkhādīhi, anagārikassa vejjakammadūtakammādīni vajjetvā dhammena samena bhikkhācariyāya jīvikaṃ kappentassa. Appamattassāti avippavutthasatino. Yasobhivaḍḍhatīti issariyabhogasampannasaṅkhāto ceva kittivaṇṇabhaṇanasaṅkhāto ca yaso abhivaḍḍhatīti.
Gāthāpariyosāne kumbhaghosako sotāpattiphale patiṭṭhahi. Aññepi bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsu. Evaṃ mahājanassa sātthikā dhammadesanā jātāti.
Kumbhaghosakaseṭṭhivatthu dutiyaṃ.
II. 2. The Voice Of A Rich Man
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
24. If a man exert himself, if he be ever mindful, if his deeds be pure, if he be circumspect of conduct,
If he control himself, if he live in accordance with the Law, if he be heedful, his glory ever increases.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Veḷuvana with reference to Kumbhaghosaka.
For once upon a time the plague broke out at Rājagaha in the house of the principal treasurer of Rājagaha. When the plague breaks out, animals, from flies to cattle, are the first to die; after them, slaves; after them, the master and mistress of a household. So this disease attacked last of all the treasurer and his wife. As soon as they felt the first touch of the disease, they looked at their son, who stood near, and with eyes filled with tears said to him, “Dear son, as we know, when this disease breaks out, only those who break down the wall and flee succeed in saving their lives. Therefore have no consideration for us, but make your escape. Having thus saved your life, come back again, and in such and such a place you will find buried in the earth forty crores of treasure. Dig up the treasure and live on the money.” When the son heard his parents speak thus, he wept aloud, bade farewell to his mother and father, and terrified with the fear of death, broke down the wall and fled. Seeking refuge in a certain mountain jungle, he dwelt there for twelve years, and then returned.
Now since he was a mere boy when he went away, and when he returned his hair and beard had grown long, no one recognized him. A sign which his mother and father had given him enabled him to find the place where the treasure had been buried, and going there he discovered that the treasure had not been disturbed. But he thought to himself, “No one knows me here, and if I dig up this treasure and begin to spend it, they will say, ‘A treasure has been dug up by a certain poor man,’ and will seize me and subject me to annoyance. Suppose I were to work for hire and thus gain a living.” So he dressed himself in rags and went through the servants’ quarters, inquiring, “Is there anyone who has need of a servant?”
When the servants saw him, they said, “If you will do a certain piece of work for us, we will pay you for it in rice.” “What kind of work is it, friends?’ ” “To order and direct our work. You will be obliged to get up early in the morning and go the rounds of the workers and give orders to them, saying, ‘Men, get up and bring out the carts and yoke the oxen; it is time for the elephants and horses to go to pasture. Women, you also get up and cook broth and rice.’ ” “Very well,” said the rich man, accepting the task. So they gave him a house to live in, and he did his work faithfully every day.
Now one day King Bimbisāra, who could recognize anyone by the sound of his voice, heard his voice and straightway said, “That is the voice of some rich man.” A certain female servant who stood near thought to herself, “No matter what the king says, this is something I ought to investigate.” Therefore she sent out a man, saying to him, “Just go and find out who this is.” The messenger straightway went and looked at the man, and on his return made the following report, “That is a poor man who is a servant of servants.” When the king heard his report, he said nothing; but on the second day and on the third day, hearing his voice, said precisely the same thing.
Every time the king made this remark the same thought occurred to that female servant, and again and again she sent a man to investigate. Every time she heard the report, “That is a poor man,” she thought to herself, “Every time the king hears the report, ‘That is a poor man,’ he refuses to believe it, and keeps repeating, ‘That is the voice of some rich man.’ There must be a reason for this, and it is my duty to find out the real facts.” Accordingly she said to the king, “Your majesty, give me a thousand pieces of money, and I will take my daughter and go to this man and bring this treasure to the royal palace.”
The king caused a thousand pieces of money to be given to her. She took the money, caused her daughter to put on a soiled dress, and departed with her from the royal palace. Pretending that she was making a journey, she went to the servants’ quarters, and entering a certain house, said to the mistress, “Woman, we are making a journey and should like to rest here for a day or two before we go on.” “Woman, there are many persons living in this house, and it is out of the question for you to remain here. But Kumbhaghosaka’s house is empty; go there.” So she went there and said to Kumbhaghosaka, “Master, we are making a journey and should like to remain here a day or two.” He refused her request, although she repeated it again and again. Finally she said, “Master, we will remain here to-day, just for one day, and early in the morning will continue our journey.” So saying, she refused to depart.
So she took up her residence there. On the following day, when it was time for Kumbhaghosaka to go to the forest, she said to him, “Master, give me an allowance for food before you go, and I will cook food for you.” “Never mind about that,” replied Kumbhaghosaka; “I will cook food all by myself and eat it.” After she had urged him repeatedly, he gave her the allowance. As soon as she received it, she procured from a shop cooking-vessels and the purest of rice. Preparing the finest of boiled rice in the manner of cooking practiced in the king’s household, and cooking with the greatest care three portions of sauce and curry, she presented the food to Kumbhaghosaka on his return from the forest.
When he had eaten his meal and his senses were dull, she said to him, “Master, we are tired and will remain here for a day or two.” “Very well,” said he, consenting to the arrangement. Likewise in the evening and on the following day she cooked savory food for him and gave it to him. When she perceived that his senses had become dull, she said to him, “Master, we will remain right here for a few days.”
Thus she contrived to establish a residence in his house. One day she took a sharp knife and cut the cords of his mattress underneath at the bed-frame in several places. The result was that, when he returned and lay down on his bed, the mattress sank down. Said he, “How did this bed come to be cut in this fashion?” “Master, I cannot prevent the boys from coming here and jumping on it.” “Woman, it is because of you that I have been subjected to this annoyance. Before you came, whenever I wished to go anywhere, I closed the door and went.” “My friend, what shall I do? I cannot stop them.” On three successive days she cut the mattress of his bed in this way, and when he became irritated and angry and rebuked her, she made the same answer.
Finally she cut all of the cords except one or two. On that day, as soon as he lay down on the bed, the entire mattress fell to the ground, and he was doubled up with his head between his knees. Rising to his feet, he said, “What shall I do? Where shall I go now? I have no longer a bed on which I can lie.” “Dear friend, what can I do? I cannot prevent the boys of the neighborhood from entering. Well, do not worry. Let me think where you might go at this time.” And addressing her daughter, she said to her, “My dear daughter, make room for your brother to lie down.” So her daughter lay down on one side of her bed and said to Kumbhaghosaka, “Master, come lie here.” The mother also said to him, “Dear friend, go lie with your sister.” Accordingly Kumbhaghosaka lay down on the same bed with the girl and that very night did the deed of kind with her. The young girl burst into tears. Her mother asked her, “Dear daughter, why are you weeping?” “Mother, such and such happened.” “Well, what’s to be done about it? You ought to have a husband, and he ought to have a wife.” So she made Kumbhaghosaka her son-in-law, and thereafter Kumbhaghosaka and her daughter lived together.
After a few days she sent a message to the king, saying, “Cause the following proclamation to be made, ‘Let those who dwell in the servants’ quarters make holiday. Whoever does not make holiday in his house shall be visited with such and such punishment.’ ” The king did so. Kumbhaghosaka’s mother-in-law said to Kumbhaghosaka, “Dear son the king commands those who dwell in the servants’ quarters to make holiday. What shall we do?” “Mother, I can barely get along on the wages I earn. What shall I do?” “Dear son, those who live in a house of their own can borrow money. The king’s command must not be disobeyed, but a debt can be paid off in some way or other. Go somewhere and get one or two pieces of money.”
Kumbhaghosaka, much provoked, went to the spot where his forty crores of treasure were buried, removed but a single piece of money, and returned with it. His mother-in-law sent this piece of money to the king and paid the expenses of the holiday with a piece of money of her own. Again after a few days she sent the same message to the king. Again the king gave orders, “Let them make holiday. Those who do not shall be visited with such and such punishment.” And again Kumbhaghosaka, under compulsion of his mother-in-law, who repeated the same suggestion she had previously made, went to his hidden store, removed three pieces of money, and brought and gave them to her. She sent these three pieces also to the king. After a few days more had passed, she sent yet another message to the king, saying, “Now let the king send some of his men and summon this man into his presence.”
The king’s men came and began a search for their man, inquiring, “Which man is Kumbhaghosaka?” When they saw Kumbhaghosaka, they said to him, “Come, sir, the king summons you.” Kumbhaghosaka was frightened and was unwilling to go, saying, “The king does not know me,” and much else. But the king’s men overpowered him, and seizing him by the hands and feet, dragged him off. When his mother-in-law saw what they were doing, she reviled them, saying, “Rascally villains, you are not fit to lay hands on my son-in-law.” Turning to Kumbhaghosaka, she said, “Go, my dear son; be not afraid. When I see the king, I will have him cut off the hands of those who seized you by the hands and feet.” So saying, she took her daughter, and preceding the king’s men, went to the royal palace. When she arrived at the palace, she changed her garments, adorned herself with all her adornments, and thus arrayed took her stand on one side.
The king’s men came, pulling and dragging Kumbhaghosaka with them. Kumbhaghosaka paid obeisance to the king and took his stand before him. The king said to him, “You are Kumbhaghosaka?” “Yes, your majesty.” “Why do you practice deceit in spending your great wealth?” “Where is my great wealth, your majesty? I make a living by working for hire.” “Do not act thus. Why do you deceive us?” “I am not deceiving you, your majesty. I have no wealth.” Then the king showed him those pieces of money and asked him, “Whose are these pieces of money?” Kumbhaghosaka recognized the coins. Thought he, “Alas, I am lost! How did these pieces of money get into the hands of the king?” Looking about him, he saw those two women, adorned and bejeweled, standing at the door of the room. Thought he, “This is a deep-laid plot. These women must have been suborned by the king.”
Then said the king to him, “Speak, sir. Why do you act thus?” “I have no protector, your majesty.” “There does not exist a protector who is my equal.” “Your majesty, it would be most agreeable to me if your majesty were my protector.” “That am I, sir. How great is your wealth?” “Forty crores, your majesty.” “What shall I send to convey your wealth hither?” “Carts, your majesty.” So the king had several hundred carts yoked, and sent and had Kumbhaghosaka’s wealth brought and heaped up in the palace court. Then he assembled the residents of Rājagaha and asked, “Is there anyone at all in this city that possesses so much wealth as this?” “There is not, your majesty.” “What should be bestowed upon him?” “Honor, your majesty.” So the king bestowed high honor upon him, appointed him to the post of treasurer, and gave him his daughter in marriage.
The king then took Kumbhaghosaka to the Teacher, paid obeisance to the Teacher, and said to him, “Reverend Sir, behold this man. For wisdom the like of him does not exist. Though he possesses forty crores of treasure, he gives no sign of being unduly elated, nor is he puffed up in his own conceit. As though he were a poor man, he dressed himself in rags and worked for his living in the servants’ quarter. In this way I came to know of him. And coming to know of him, I sent for him, made him admit his wealth, caused his wealth to be carried to the palace, appointed him to the post of treasurer, and gave him my daughter in marriage. So wise a man I never saw before.”
Hearing this, the Teacher said, “If a man lives thus, great king, his life is a righteous life. But the deeds of thieves and other wicked men oppress them even in this world and afford them no happiness in the next. For if a man, when his wealth is exhausted, works for hire, his life is a righteous life. For such a man, exerting the power of his manhood, always mindful, pure in deeds and words and thoughts, circumspect of conduct through wisdom, exercising self-restraint in deeds and words and thoughts, leading a righteous life, never relaxing mindfulness, such a man goes from strength to strength.” So saying, he pronounced the following Stanza,
24. If a man exert himself, if he be ever mindful, if his deeds be pure, if he be circumspect of conduct,
If he control himself, if he live in accordance with the Law, if he be heedful, his glory ever increases.
- Text: N i. 231-239.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 1, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.