Chú giải Pháp Cú · Kệ 160 · Dhp 160

Tích Mẹ Của Trưởng Lão Ca Diếp Đồng Tử

Kumārakassapamātutherīvatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 160 Kinh Pháp Cú, phẩm Tự Ngã, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 160)

“Attā hi attano nātho,
Ko hi nātho paro siyā;
Attanā hi sudantena,
Nāthaṃ labhati dullabhaṃ.”

“Tự mình y chỉ mình,
Nào có y chỉ khác,
Nhờ khéo điều phục mình,
Được y chỉ khó được.”
(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư thuyết khi ngự tại Jetavana Vihāra (Kỳ Viên Tự), đề cập đến Mẹ của Trưởng lão Kumārakassapa (Ca Diếp Đồng Tử).

Tương truyền rằng: Mẹ của Trưởng lão Kumārakassapa là con gái của một Bá hộ trong thành Rājagaha (Vương Xá). Khi tuổi có trí khôn, nàng lại hướng tâm đến đời sống xuất gia. Nhiều lần Tiểu thư xin song thân cho mình được sống đời sống vô gia đình trong Giáo Pháp của Đức Thế Tôn nhưng song thân nàng không ưng thuận.

Đến tuổi cập kê, Tiểu thư xuất giá vu quy về ở nhà chồng, chẳng bao lâu Tiểu thư thọ thai. Tuy nhiên nàng chẳng hề biết được điều đó, nên vẫn làm vừa lòng chồng rồi xin xuất gia.

Một hôm, trong thành Rājagaha có lễ hội, không màng trang điểm, nàng lại chẳng tha thiết chi đến lễ hội. Công tử lấy làm lạ hỏi nguyên nhân, nàng bày tỏ nguyện vọng của mình. Công tử vô cùng hoan hỷ cho Tiểu thư được xuất gia trong Ni viện.

Khi ấy, người chồng cho sắm sửa nhiều lễ vật trọng thể đưa vợ mình đi xuất gia, nhưng vì không biết tịnh xá Ni ở đâu nên đi ngay đến chỗ trú của chư Tỳ khưu Ni thuộc nhóm chia rẽ Tăng của Devadatta (Đề Bà Đạt Đa).

Thời gian sau, khi thai bào tăng trưởng, chư Ni biết được, hỏi nàng rằng:

- Nầy Sư Cô! Vì sao có chuyện lạ như thế?

- Thưa chư Hiền tỷ! Tôi cũng không rõ vì sao nữa nhưng Giới hạnh của tôi không bị lấm nhơ đâu!

Chư Tỳ khưu Ni bèn đem việc nầy trình với Devadatta rằng:

- Bạch Ngài! Nữ Ni nầy xuất gia do đức tin nhưng chúng tôi không rõ vì sao nàng lại mang thai cả. Giờ đây chúng tôi phải xử sự làm sao?

Devadatta chẳng chịu suy xét kỹ lưỡng, chỉ nghĩ đến một điều là: “Đừng để tai tiếng đến chư Ni trong trú xứ của ta là những người mà chính ta hằng giáo giới.”. Tôn giả nói với chư Tỳ khưu Ni rằng:

- Các cô hãy tẩn xuất nàng ấy ra khỏi trú xứ, cho nàng trở về đời sống thế tục đi.

Nghe Devadatta nói như thế, vị Nữ Ni trẻ bạch với chư Tỳ khưu Ni rằng:

- Thưa chư Hiền tỷ! Xin các Hiền tỷ đừng làm tổn hại đến tôi, tôi không có xuất gia riêng với Devadatta. Xin chư Hiền tỷ hãy đưa tôi đến yết kiến Đức Thế Tôn và trình bày việc nầy đến Đức Đạo Sư đi.

Chư Tỳ khưu Ni bèn dắt nàng về yết kiến Đức Thế Tôn đang ngự tại Jetavana Vihāra (Tịnh xá Kỳ Viên) trong thành Sāvatthī (Xá Vệ). Khi sự việc được trình lên Đức Thế Tôn, Ngài đã rõ biết rằng: “Nữ Ni nầy đã mang thai trước khi xuất gia.”. Để làm sáng tỏ vấn đề nầy, Ngài cho mời Đức vua Pasenadi (Ba Tư Nặc), Trưởng giả Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc), ông Cūḷānāthapiṇḍika (Tiểu Cấp Cô Độc), Đại Tín nữ Visākhā (Thiện Chi) cùng các đại gia vọng tộc khác đến, rồi Ngài phán bảo Trưởng lão Upāli (Ú Pa Ly) rằng:

- Nầy Upāli! Giữa hàng Tứ chúng, hãy xét xử minh bạch trường hợp của Tỳ khưu Ni trẻ nầy!

Vâng lịnh Đức Thế Tôn, Trưởng lão Upāli cho mời nàng Visākhā đến và giao cho bà thẩm nghiệm thời gian thọ thai, cùng xác minh Giới hạnh của Nữ Ni ấy trước mặt đại chúng.

Bà Thiện Chi cho người che màn chung quanh rồi tự thân bà kiểm tra từ tay chân đến rún, bụng của nàng Nữ Ni, rồi tính toán ra ngày tháng đậu thai và biết được rằng: “Ni Cô nầy đã mang thai trước khi xuất gia.”. Bà liền thông qua cho Trưởng lão biết kết quả. Lúc ấy, ngay giữa tứ chúng Trưởng lão đã công bố bản án: “Ni cô hoàn toàn trong sạch.”.

Do tiền kiếp Ni Cô nầy đã có phát nguyện dưới chân Đức Cổ Phật Thượng Liên Hoa (Padumuttara) nên thời gian sau, nàng hạ sanh được một hài nhi, có oai lực lớn.

Một hôm, Đức vua ngự đến tịnh xá Tỳ khưu Ni ấy, bỗng nghe tiếng trẻ thơ, Ngài phán hỏi cận tướng rằng:

- Nầy các khanh! Tiếng gì thế?

- Tâu Bệ hạ! Đứa con trai của Tỳ khưu Ni kia mới sanh, chính đó là tiếng của nó.

Nghe vậy, Đức vua bèn đem đứa đồng tử ấy về hoàng cung giao cho các vú nuôi. Đến ngày lễ đặt tên, đứa bé được đặt tên là Kassapa (Ca Diếp). Nhân vì các vú nuôi săn sóc từ lúc ấu trĩ cho đến tuổi trưởng thành, cho nên các bà quen miệng cứ kêu cậu là Kumārakassapa (Ca Diếp Đồng Tử).

Khi chơi thể thao ở sân vận động, cậu đánh bại hết các trẻ khác. Chúng nói:

- Chúng ta đã thua kẻ không có cha mẹ.

Công tử Kumārakassapa nghe như thế, liền đi đến Đức vua Pasenadi bạch hỏi rằng:

- Tâu Bệ hạ! Các đứa trẻ luôn bảo con là đứa không cha không mẹ, xin Ngài hãy chỉ cha mẹ cho con đi!

- Các nhũ mẫu chính là mẹ của con đấy.

Nghe vậy, cậu bé cãi lại:

- Không phải bấy nhiêu bà đều là mẹ của con hết. Mẹ của con phải là một bà mà thôi. Xin Bệ hạ hãy chỉ giùm bà ấy cho con!

Đức vua suy nghĩ: “Ta không thể nói gạt được đứa bé nầy.”, nên tỏ thật rằng:

- Con ạ! Mẹ ruột của con là một Tỳ khưu Ni, Trẫm đã đến tịnh xá Ni đem con về đây.

Lúc bấy giờ, cậu bé bỗng phát sanh kinh cảm suy nghĩ chín chắn rồi nói:

- Xin Phụ vương cho con xuất gia.

- Lành thay! Con ạ!

Thế rồi, Đức vua cho sắp đặt cuộc lễ rất trọng đại và cho cậu bé xuất gia với Đức Bổn Sư.

Sau khi được thọ Cụ túc giới, ông sư trẻ được gọi là Trưởng lão Kumārakassapa (Ca Diếp Đồng Tử). Ngài thọ huấn đề mục Chỉ Quán từ nơi Đức Thế Tôn rồi, bèn vào rừng thanh vắng yên tịnh để Tinh tấn hành Sa môn Pháp, nhưng không thể giác ngộ Chánh Pháp. Trưởng lão tính trở về đảnh lễ Đức Bổn Sư để xin thụ huấn đề mục hành thiền một lần nữa. Trên đường về, Trưởng lão tạm an cư trong khu rừng Mù (Andhavana). Lúc bấy giờ, có một vị Phạm Thiên, nguyên là một Tỳ khưu đồng hành Sa môn Pháp với Trưởng lão trong thời Đức Phật Tổ Ca Diếp, vị ấy đã đắc A Na Hàm quả và sau đó được sanh lên cõi Phạm Thiên. Từ Phạm Thiên giới, vị ấy bèn xuống hỏi Trưởng lão mười lăm câu hỏi, rồi tiễn Trưởng lão lên đường và bảo rằng:

- Những câu hỏi nầy, ngoại trừ Bậc Đạo Sư ra không một ai khác giải đáp nổi. Hãy đi về tìm gặp Bậc Đạo Sư mà học nghĩa lý của những câu nầy.

Trưởng lão làm theo lời chỉ bảo của vị Phạm Thiên và đắc quả A La Hán khi các câu hỏi vừa được giải đáp hết.

Kể từ khi Trưởng lão ra đi hành pháp Sa môn trong rừng, thấm thoát được mười hai năm, trong mươi hai năm trường ấy, mẹ Ngài không thể ngăn được nước mắt khi nhớ đến con. Vì xa cách con trai nên bà buồn khổ, đang đi khất thực mà mặt đầm đìa nước mắt. Bỗng nhiên, gặp Trưởng lão giữa đường, bà mừng quýnh, vừa chạy đến nắm Trưởng lão vừa kêu to:

- Con ơi, con ơi!

Bất ngờ, bà té nhào xuống đất, hai vú bà tươm sữa ra dính vào y do sự xúc cảm quá mãnh liệt, bà lồm cồm đứng dậy, mang y ướt đến nắm lấy Trưởng lão.

Trưởng lão nghĩ thầm: “Nếu ta dùng lời dịu ngọt nói với mẹ ta, ắt bà sẽ hư hỏng chứ chẳng ích lợi chi cả. Vậy ta nên dùng lời cứng xẵng mà nói chuyện với bà!”.

Trưởng lão suy nghĩ như thế bèn làm nghiêm, hỏi trách bà rằng:

- Bà tu làm chi thế? Tại sao bà đã xuất gia rồi mà không thể cắt đứt được sự thương yêu ấy ư?

Tỳ khưu Ni ấy suy nghĩ rằng: “Than ôi, lời lẽ của con ta sao mà chát chúa quá!”.

Tuy nhiên, bà cũng hỏi lại một lần nữa:
- Con à, con vừa nói chi vậy?

Trưởng lão cũng lặp lại như trước, khiến cho bà tỉnh ngộ, nghĩ rằng: “Ta đã không cầm được nước mắt suốt cả mười hai năm trường vì lòng thương nhớ con, nhưng con của ta nó vô tình quá, té ra đối với ta lòng nó lại cứng cỏi như sắt đá, chẳng nghĩ chi đến ta cả! Thế thì ta còn nuối tiếc nó làm gì nữa!”. Bà suy nghĩ như thế rồi, buông y Trưởng lão ra, trở về Tịnh thất, cố gắng quên đi đứa con vô tình, tinh tấn hành Đạo. Lòng thương con không còn tha thiết như trước nữa, nhờ áp chế được tình thâm mẫu tử bà chứng đạt A La Hán quả trong ngày đó.

Thời gian sau, chư Tỳ khưu bàn luận cùng nhau nơi giảng đường:

- Các đạo hữu ơi! Tôn giả Kumārakassapa và Trưởng lão Ni có đầy đủ duyên lành như thế, vậy mà suýt nữa bị Devadatta làm tổn hại. Còn Bậc Đạo Sư là nơi nương nhờ của hai vị ấy, thật là kỳ diệu thay! Lẽ thường chư Phật là bậc hằng tế độ thế gian vậy!

Với Thiên nhĩ thuần tịnh siêu nhân, Đức Thế Tôn nghe được sự luận bàn ấy của chư Tỳ khưu, Ngài ngự đến hỏi rằng:

- Nầy các Tỳ khưu! Các ngươi đang bàn luận cùng nhau về việc gì?

- Bạch Thế Tôn, chuyện nầy…

Nầy các Tỳ khưu! Chẳng phải chỉ trong kiếp nầy Ta là nơi nương nhờ cho hai mẹ con Kumārakassapa mà trong quá khứ, hai người ấy cũng đã từng nương nhờ nơi Ta rồi.

Theo lời thỉnh cầu của các Tỳ khưu, Ngài thuyết giảng rộng tích Bổn Sanh Nigrodha (Ni Câu Luật Đà), rồi Đức Bổn Sư ngâm kệ rằng:

“Nigrodhameva seveyya
Na sākhamupasaṃvase,
Nigrodhasmiṃ mataṃ seyyo
Yañce sākhasmiṃ jīvitanti.”
- Thà sống với con hươu Nigrodha (Ni Câu Luật

Đà), chớ đừng sống Sākha. Thà chết với Nigrodha, còn hơn sống với Sākha.

Đức Thế Tôn nhận diện Bổn sanh1 rằng: “Nai Sākha trong quá khứ nay là Devadatta, hội chúng của nai Sākha nay là hội chúng của Devadatta trong hiện tại. Nai cái nay chính là Trưởng lão Ni, con nai con nay là Trưởng lão Kumārakassapa. Nai chúa Nigrodha nay chính là Đấng Như Lai vậy.”.

Tiếp theo đó, Đức Bổn Sư dạy cho biết là sau khi đoạn tình mẫu tử, Trưởng lão Ni tự mình đã khiến cho mình giác ngộ Chánh Pháp: “Nầy các Tỳ khưu, người nào nương cậy kẻ khác thì không thể hy vọng sẽ sanh lên cõi trời, hoặc sẽ chứng đắc Đạo quả. Bởi vậy cho nên, mình hãy là chỗ tựa của mình, chớ ai đâu khác sẽ làm chuyện ấy.”. Bổn sanh Nigrodha (Jāt. 145)

Nói rồi, Đức Bổn Sư ngâm kệ rằng:
“Attā hi attano nātho,
Ko hi nātho paro siyā;
Attanā hi sudantena,
Nāthaṃ labhati dullabhaṃ.”
Chính tự mình làm chỗ nương cho mình, chứ người

khác làm sao nương được?

Tự mình khéo tu tập mới đạt đến chỗ nương dựa nhiệm mầu (quả vị A La Hán).

(Bản dịch của T.K. Trí Đức)

CHÚ GIẢI:

Nātho: nương nhờ. Như trên đã nói, người nào tự mình nương cậy lấy mình, kiện toàn thiện pháp rồi, ắt có thể siêu sanh lên nhàn cảnh, hoặc chứng đắc Đạo quả, làm cho thấu rõ Níp Bàn được, bởi vậy mới nói tự ngã chính là chỗ nương (patiṭṭhā = nātho) của mình. Người khác là ai, xưng danh là chỗ nương của ai? Như vậy thì do mình khéo léo tự điều phục lấy mình mà đắc quả A La Hán, là chỗ nương khó mà có được.

Nāthaṃ labhati dullabhaṃ: được điểm tựa khó được trên đây ngụ ý chỉ Quả vị A La Hán vậy.

*
Cuối thời Pháp, nhiều vị Tỳ khưu đắc Thánh quả,

nhất là Tu Đà Hườn quả.

Mười hai năm chẵn cách xa con,
Sư nữ trông chờ, dạ héo hon,
Bỗng gặp, chào mừng Sư Lậu tận,
“Lời Sư sao đắng tợ bồ hòn”.
Nhờ Minh Sát Khổ đến kỳ cùng,
Mẫu tử tình thâm tự cáo chung.
Sư nữ đắc ngay La Hán quả,
Não phiền giũ sạch, sống thung dung.
Phật dạy: “Mỗi người tự độ mình,
Lên trời hoặc đến cõi Vô sinh,
Ngoài Ta, chẳng có người ta tựa,
Tự Ta là nơi tựa tối linh.”

DỨT TÍCH MẸ CỦA TRƯỞNG LÃO KUMĀRAKASSAPA

Kumārakassapamātutherīvatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Attā hi attano nāthoti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto kumārakassapattherassa mātaraṃ ārabbha kathesi.

Sā kira rājagahanagare seṭṭhidhītā viññutaṃ pattakālato paṭṭhāya pabbajjaṃ yāci. Atha sā punappunaṃ yācamānāpi mātāpitūnaṃ santikā pabbajjaṃ alabhitvā vayappattā patikulaṃ gantvā patidevatā hutvā agāraṃ ajjhāvasi. Athassā na cirasseva kucchismiṃ gabbho patiṭṭhahi. Sā gabbhassa patiṭṭhitabhāvaṃ ajānitvāva sāmikaṃ ārādhetvā pabbajjaṃ yāci. Atha naṃ so mahantena sakkārena bhikkhunupassayaṃ netvā ajānanto devadattapakkhikānaṃ bhikkhunīnaṃ santike pabbājesi. Aparena samayena bhikkhuniyo tassā gabbhinibhāvaṃ ñatvā tāhi “kiṃ ida”nti vuttā nāhaṃ, ayye, jānāmi “kimetaṃ”, sīlaṃ vata me arogamevāti. Bhikkhuniyo taṃ devadattassa santikaṃ netvā “ayaṃ bhikkhunī saddhāpabbajitā, imissā mayaṃ gabbhassa patiṭṭhitabhāvaṃ jānāma, kālaṃ na jānāma, kiṃ dāni karomā”ti pucchiṃsu. Devadatto “mā mayhaṃ ovādakārikānaṃ bhikkhunīnaṃ ayaso uppajjatū”ti ettakameva cintetvā “uppabbājetha na”nti āha. Taṃ sutvā sā daharā mā maṃ, ayye, nāsetha, nāhaṃ devadattaṃ uddissa pabbajitā, etha, maṃ satthu santikaṃ jetavanaṃ nethāti. Tā taṃ ādāya jetavanaṃ gantvā satthu ārocesuṃ. Satthā “tassā gihikāle gabbho patiṭṭhito”ti jānantopi paravādamocanatthaṃ rājānaṃ pasenadikosalaṃ mahāanāthapiṇḍikaṃ cūḷaanāthapiṇḍikaṃ visākhāupāsikaṃ aññāni ca mahākulāni pakkosāpetvā upālittheraṃ āṇāpesi – “gaccha, imissā daharāya bhikkhuniyā catuparisamajjhe kammaṃ parisodhehī”ti. Thero rañño purato visākhaṃ pakkosāpetvā taṃ adhikaraṇaṃ paṭicchāpesi. Sā sāṇipākāraṃ parikkhipāpetvā antosāṇiyaṃ tassā hatthapādanābhiudarapariyosānāni oloketvā māsadivase samānetvā “gihibhāve imāya gabbho laddho”ti ñatvā therassa tamatthaṃ ārocesi. Athassā thero parisamajjhe parisuddhabhāvaṃ patiṭṭhāpesi. Sā aparena samayena padumuttarabuddhassa pādamūle patthitapatthanaṃ mahānubhāvaṃ puttaṃ vijāyi.

Athekadivasaṃ rājā bhikkhunupassayasamīpena gacchanto dārakasaddaṃ sutvā “kiṃ ida”nti pucchitvā, “deva, ekissā bhikkhuniyā putto jāto, tassesa saddo”ti vutte taṃ kumāraṃ attano gharaṃ netvā dhātīnaṃ adāsi. Nāmaggahaṇadivase cassa kassapoti nāmaṃ katvā kumāraparihārena vaḍḍhitattā kumārakassapoti sañjāniṃsu. So kīḷāmaṇḍale dārake paharitvā “nimmātāpitikenamhā pahaṭā”ti vutte rājānaṃ upasaṅkamitvā, “deva, maṃ ‘nimmātāpitiko’ti vadanti, mātaraṃ me ācikkhathā”ti pucchitvā raññā dhātiyo dassetvā “imā te mātaro”ti vutte “na ettikā me mātaro, ekāya me mātarā bhavitabbaṃ, taṃ me ācikkhathā”ti āha. Rājā “na sakkā imaṃ vañcetu”nti cintetvā, tāta, tava mātā bhikkhunī, tvaṃ mayā bhikkhunupassayā ānītoti. So tāvatakeneva samuppannasaṃvego hutvā, “tāta, pabbājetha ma”nti āha. Rājā “sādhu, tātā”ti taṃ mahantena sakkārena satthu santike pabbājesi. So laddhūpasampado kumārakassapattheroti paññāyi. So satthu santike kammaṭṭhānaṃ gahetvā araññaṃ pavisitvā vāyamitvā visesaṃ nibbattetuṃ asakkonto “puna kammaṭṭhānaṃ visesetvā gahessāmī”ti satthu santikaṃ gantvā andhavane vihāsi.

Atha naṃ kassapabuddhakāle ekato samaṇadhammaṃ katvā anāgāmiphalaṃ patvā brahmaloke nibbattabhikkhu brahmalokato āgantvā pannarasa pañhe pucchitvā “ime pañhe ṭhapetvā satthāraṃ añño byākātuṃ samattho nāma natthi, gaccha, satthu santike imesaṃ atthaṃ uggaṇhā”ti uyyojesi. So tathā katvā pañhavissajjanāvasāne arahattaṃ pāpuṇi. Tassa pana nikkhantadivasato paṭṭhāya dvādasa vassāni mātubhikkhuniyā akkhīhi assūni pavattiṃsu. Sā puttaviyogadukkhitā assutinteneva mukhena bhikkhāya caramānā antaravīthiyaṃ theraṃ disvāva, “putta, puttā”ti viravantī taṃ gaṇhituṃ upadhāvamānā parivattitvā pati. Sā thanehi khīraṃ muñcantehi uṭṭhahitvā allacīvarā gantvā theraṃ gaṇhi. So cintesi – “sacāyaṃ mama santikā madhuravacanaṃ labhissati, vinassissati. Thaddhameva katvā imāya saddhiṃ sallapissāmī”ti. Atha naṃ āha – “kiṃ karontī vicarasi, sinehamattampi chindituṃ na sakkosī”ti. Sā “aho kakkhaḷā therassa kathā”ti cintetvā “kiṃ vadesi, tātā”ti vatvā punapi tena tatheva vuttā cintesi – “ahaṃ imassa kāraṇā dvādasa vassāni assūni sandhāretuṃ na sakkomi, ayaṃ panevaṃ thaddhahadayo, kiṃ me iminā”ti puttasinehaṃ chinditvā taṃdivasameva arahattaṃ pāpuṇi.

Aparena samayena dhammasabhāyaṃ kathaṃ samuṭṭhāpesuṃ – “āvuso, devadattena evaṃ upanissayasampanno kumārakassapo ca therī ca nāsitā, satthā pana tesaṃ patiṭṭhā jāto, aho buddhā nāma lokānukampakā”ti. Satthā āgantvā “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā”ti pucchitvā “imāya nāmā”ti vutte “na, bhikkhave, idāneva ahaṃ imesaṃ paccayo patiṭṭhā jāto, pubbepi nesaṃ ahaṃ patiṭṭhā ahosiṃyevā”ti vatvā –

“Nigrodhameva seveyya, na sākhamupasaṃvase;
Nigrodhasmiṃ mataṃ seyyo, yañce sākhasmi jīvita”nti. (jā. 1.1.12; 1.10.81) –

Imaṃ nigrodhajātakaṃ vitthārena kathetvā “tadā sākhamigo devadatto ahosi, parisāpissa devadattaparisā, vārappattā migadhenu therī ahosi, putto kumārakassapo, gabbhinīmigiyā jīvitaṃ pariccajitvā gato nigrodhamigarājā pana ahamevā”ti jātakaṃ samodhānetvā puttasinehaṃ chinditvā theriyā attanāva attano patiṭṭhānakatabhāvaṃ pakāsento, “bhikkhave, yasmā parassa attani ṭhitena saggaparāyaṇena vā maggaparāyaṇena vā bhavituṃ na sakkā, tasmā attāva attano nātho, paro kiṃ karissatī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Attā hi attano nātho, ko hi nātho paro siyā;
Attanā hi sudantena, nāthaṃ labhati dullabha”nti.

Tattha nāthoti patiṭṭhā. Idaṃ vuttaṃ hoti – yasmā attani ṭhitena attasampannena kusalaṃ katvā saggaṃ vā pāpuṇituṃ, maggaṃ vā bhāvetuṃ, phalaṃ vā sacchikātuṃ sakkā. Tasmā hi attāva attano patiṭṭhā hoti, paro ko nāma kassa patiṭṭhā siyā. Attanā eva hi sudantena nibbisevanena arahattaphalasaṅkhātaṃ dullabhaṃ nāthaṃ labhati. Arahattañhi sandhāya idha “nāthaṃ labhati dullabha”nti vuttaṃ.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.

Kumārakassapamātutherīvatthu catutthaṃ.

XII. 4. “And Hate not his Father and Mother”

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

160. For self is the refuge of self.
Indeed, how can one man be the refuge of another?
For by his own well-tamed self
A man gains for himself a refuge which is hard to gain.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to the mother of Elder Kumāra Kassapa.

4 a. Birth of Kumāra Kassapa

The story goes that she was the daughter of a treasurer in the city of Rājagaha. From the time she reached the age of reason, she sought permission to become a nun, but although she asked her mother and father again and again, she failed to obtain from them permission to enter the Order. On reaching marriageable age, she married, went to live in her husband’s household, and amid the cares of the household life proved a devoted wife. Now in no long time she conceived a child in her womb. But she knew not that she was pregnant. Winning the favor of her husband, she asked to enter the Order and obtained his permission to do so. So, not knowing that she was pregnant, he conducted her with great pomp to the community of nuns, and obtained for her admission to the Order at the hands of the nuns belonging to the faction of Devadatta.

After a time the nuns observed that she was pregnant. Said they, “What does this mean?” She replied, “Noble sisters, I know not what this may mean, but this I know for certain, that my chastity is unimpaired.” So the nuns conducted her to Devadatta, and said to him, “This nun retired from the world through faith. We know not when she conceived this child. What, therefore, shall we do?” Devadatta thought only, “Let not reproach be cast upon the nuns who receive instruction from me.” Therefore he said, “Expel her from the Order.” When the young nun heard those words of Devadatta, she said, “Noble sisters, do not ruin me. But I did not retire from the world at the instance of Devadatta. Come, conduct me to the Teacher at Jetavana.”

Accordingly they took her with them, went to Jetavana, and laid the matter before the Teacher. Now, although the Teacher knew that she had conceived the child when she was living in the world, yet, for the purpose of disproving the false accusation, he summoned King Pasenadi Kosala, Mahā Anāthapiṇḍika, Culla Anāthapiṇḍika, Visākhā the female lay disciple, and other great personages, giving the following orders to the Elder Upāli, “Go clear this young woman of the charge against her in the midst of the Fourfold Assembly.”

The Elder caused Visākhā to be summoned before the king and put the case in her hands. Visākhā caused a curtain to be drawn about the young woman, and within the curtain made an examination of her hands, feet, navel, belly, and extremities. Then she computed the months and days, and perceiving that the young woman had conceived the child when she was living in the world, informed the Elder of that fact. Thereupon the Elder proclaimed her innocence in the midst of the Fourfold Assembly. After a time she brought forth a son, strong and mighty, for whom she had prayed at the feet of the Buddha Padumuttara.

Now one day, as the king was passing near the community of nuns, he heard the cry of a child. “What is that?” he asked. “Your majesty,” they replied,“a certain nun has given birth to a child; that is the sound of his voice.” So the king took the boy to his own house and committed him to the care of his daughters. On the day appointed for the naming of the child, they gave him the name Kassapa. But because he had been brought up in princely state all the people called him Prince Kassapa, Kumāra Kassapa.

One day on the playground he struck some boys. They cried out, “We have been struck by that Motherless-Fatherless.” Kassapa immediately ran to the king and said to him, “Your majesty, they say I have neither mother nor father; tell me who my mother is.” The king pointed to his daughters and said, “There are your mothers.” But the boy replied, “I have not so many mothers as that; by right I should have only one mother; tell me who she is.” The king thought to himself, “It is impossible to deceive this boy.” So he said to him, “Dear boy, your mother is a nun, and I brought you here from the nuns’ convent.”

No more than this was needed to arouse deep emotion in the heart of the boy. He immediately said, “Dear friend, obtain for me admission to the Order.” “Very well, dear boy,” replied the king. So with great pomp he conducted the boy to the Teacher and had him admitted to the Order. After he had made his full profession he became known as Elder Kumāra Kassapa. Receiving a Subject of Meditation from the Teacher, he retired to the forest. But although he strove and struggled with might and main, he was unable to develop Specific Attainment. So, thinking to himself, “I will obtain a Subject of Meditation from the Teacher better suited to my needs,” he returned to the Teacher and took up his residence in Andha Grove.

(Now a monk who, in the time of the Buddha Kassapa, had performed his meditations alone and had attained the Fruit of the Third Path, and had been reborn in the World of Brahmā returned from the World of Brahmā, and asked Kumāra Kassapa fifteen questions, but sent him away with the words: “None other than the Teacher can resolve these questions. Go to the Teacher and get their solution.” Kumāra Kassapa did so, and at the end of the answers to the questions attained Arahatship.)

4 b. “And hate not his father and mother”

Now for twelve years following Kassapa’s retirement from the world, tears streamed from the eyes of the nun his mother. With face wet with the tears she shed because of the suffering caused her by separation from her son, she went on her rounds for alms. One day she saw her son the Elder in the street. Crying out, “My son! my son!” she ran to meet him, and falling at his feet, rolled on the ground. Milk streamed from her breasts, and her robe was wet, as she rose from the ground and took the Elder in her arms.

The Elder thought to himself, “If she receives kindly words from me, it will mean her undoing; therefore I will speak harshly to her.” So he said to her, “What are you about? Can you not away with human affection?” Thought the mother, “How like a brigand he talks!” And she said to him, “Dear son, what say you?” But he only repeated again the same harsh words. Thereupon she thought, “Ah, because of him I have not been able to restrain my tears for twelve years! But he has hardened his heart towards me; why should I have anything to do with him any more?” And then and there, uprooting affection for her son, on that very day she attained Arahatship.

Some time afterwards the monks began a discussion in the Hall of Truth: “Devadatta all but destroyed Kumāra Kassapa, endowed with the faculties requisite for Conversion, and the nun his mother; but the Teacher became their refuge. Oh, how great is the compassion of the Buddhas for the world!” At that moment the Teacher approached and asked them, “Monks, what subject are you discussing now, as you sit here all gathered together?” When they told him, he said, “Monks, this is not the first time I have been their refuge and defense. I was their refuge in a previous state of existence also.” So saying, he related the Nigrodha Jātaka in detail:

Follow only the Banyan deer; abide not with the Branch.
Better death with the Banyan deer than life with the Branch.

Then said the Teacher, identifying the characters in the Jātaka, “At that time the Branch deer was Devadatta, and the herd of the Branch deer was the retinue of Devadatta; the doe that reached her turn was the nun; her fawn was Kumāra Kassapa; and the Banyan deer, the king of the deer, who offered his life for the doe with young, was I myself.”

And praising the nun for uprooting affection for her son and for establishing herself as a refuge for herself, he said, “Monks, inasmuch as the goal of heaven or the goal of the Paths which one man has earned for himself cannot become the property of another, therefore self is the refuge of self. How can one man be the refuge of another?” So saying, he pronounced the following Stanza,

160. For self is the refuge of self.
Indeed, how can one man be the refuge of another?
For by his own well-tamed self
A man gains for himself a refuge which is hard to gain.

  1. This story follows closely the Introduction to Jātaka 12: i. 145-149. The Jātaka version, however, lacks the account of the meeting between Kumāra Kassapa and his mother. Compare Aṅguttara Commentary on Etadagga Vagga, Story of Kumāra Kassapa, p. 173. Text: N iii. 144-149.
  2. See Majjhima 23: i. 142-145.
  3. Jātaka 12: i. 149-153. Ed. note: a famous story in which the Bodhisatta saves the life of a pregnant deer, whose plight was being disregarded by Devadatta.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.