Tích Trưởng Lão Đề Xá Tinh Tấn Thiền
Padhānikatissattheravatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 159 Kinh Pháp Cú, phẩm Tự Ngã, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 159)
“Attānañce tathā kayirā,
Yathaññamanusāsati;
Sudanto vata dametha,
Attā hi kira duddamo.”
“Hãy tự làm cho mình,
Như điều mình dạy người,
Khéo tự điều, điều người,
Khó thay, tự điều phục!”
(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư thuyết lên khi ngự tại Jetavana Vihāra (Kỳ Viên Tự), đề cập đến Trưởng lão Padhānikatissa (Đề Xá Tinh Tấn Thiền).
Tương truyền rằng: Trưởng lão Padhānikatissa thọ huấn đề mục Tham thiền nơi Bậc Đạo Sư, rồi dẫn năm trăm vị Tỳ khưu vào rừng hành thiền, Trưởng lão dạy rằng:
- Nầy chư đạo hữu! Quí vị đã may mắn được thọ trì đề mục Tham thiền từ nơi Đức Phật hiện tại. Vậy quý vị hãy chuyên cần hành Sa môn Pháp đi!
Giáo hóa chúng Tăng như vậy, thế nhưng Tôn giả ấy lại chính mình nằm ngủ.
Vào canh đầu, các Tỳ khưu đi kinh hành, đến canh giữa thì vào Tịnh thất riêng. Trưởng lão Padhānikatissa tỉnh giấc, đi đến chư Tỳ khưu ấy quở trách:
- Các vị trở vào Tịnh thất với ý định “Sẽ ngủ” đấy à? Hãy nhanh chóng trở ra hành Pháp Sa môn đi chứ!
Rồi Tôn giả lại chính mình vào Tịnh thất ngủ. Các Tỳ khưu đi kinh hành trọn cả canh giữa, đến canh cuối mới trở vào tịnh thất, và Tôn giả lại thức giấc, đến nơi các Tỳ khưu ấy, dẫn các vị ấy ra khỏi Tịnh thất, rồi tự mình trở vào ngủ tiếp.
Tôn giả Padhānikatissa thường làm như thế, chư Tỳ khưu không thể học hỏi hoặc Định tâm trên đề mục được, tâm đã bị phóng dật nhiều, chư Tỳ khưu bàn luận cùng nhau rằng:
- Thầy A Xà Lê của chúng ta đã Tinh tấn quá mức như thế. Vậy chúng ta hãy rình xem Ngài như thế nào?
Khi biết rõ sự việc như thế, các Tỳ khưu bàn luận với nhau:
- Nầy các đạo hữu ơi! Chúng ta bị tổn hại rồi, thầy A Xà Lê chúng ta chỉ dạy chúng ta suông thôi, khi chính Ngài lại không thực hành.
Trong số năm trăm vị Tỳ khưu vất vả đó, chẳng có ai chứng đạt Pháp Thượng nhân cả.
Mãn mùa an cư, chư Tỳ khưu trở về yết kiến Đức Thế Tôn, được Ngài tự thân đón tiếp thân hữu, Ngài phán hỏi rằng:
- Nầy các Tỳ khưu! Các thầy đã chuyên cần hành Sa môn Pháp, phải chăng?
Chư Tỳ khưu bạch trình lên Đức Thế Tôn mọi việc, Ngài dạy rằng:
- Thật vậy, nầy các Tỳ khưu, Tỳ khưu ấy chẳng phải chỉ làm tổn hại các thầy trong hiện tại, trong quá khứ, y cũng đã từng như thế rồi.
Rồi theo lời thỉnh cầu của chư Tỳ khưu, Ngài thuyết giảng rộng rãi Bổn sanh, bắt đầu bằng kệ rằng:
“Amātāpitusaṃvaḍḍho,
Amācāriyakule vasaṃ;
Nāyaṃ kālamakālaṃ vā,
Abhijāmīti kukkuṭoti.”
“Không được cha mẹ nuôi nấng dạy dỗ, cư ngụ
trong nhà thầy giáo của ta, con gà trống nầy không biết rõ lúc nào là chánh thời hoặc phi thời.”
Sau khi kể hết Túc sanh truyện về Con Gà Trống Gáy Phi Thời nầy (Akālaravakukkuṭa). Bậc Đạo Sư kết luận rằng:
- Nầy các Tỳ khưu, muốn xứng danh là bậc thầy dạy dỗ kẻ khác, thì phải khéo tự dạy lấy mình trước đã, người đã khéo dạy mình như thế mới đáng gọi là điều ngự.
Nói rồi, Đức Bổn Sư ngâm kệ rằng:
“Attānañce tathā kayirā,
Yathaññamanusāsati;
Sudanto vata dametha,
Attā hi kira duddamo.”
Nếu muốn khuyên người khác nên làm như mình,
trước hãy sửa mình rồi sau sửa người, vì tự sửa mình
vốn là điều khó nhất.
(Bản dịch của T.K. Trí Đức)
CHÚ GIẢI:
Attānañce tathā kayirā yathaññam anusāsati: dạy người như thế nào, hãy tự dạy mình thế ấy, cũng như khi dạy người khác, mình đã nói: “Nầy Tỳ khưu, thầy phải Tinh tấn đi kinh hành trong canh một, v.v…” thì tự mình phải cương quyết hành đạo như đi kinh hành v.v…
Sudanto vata dametha: Khéo điều mình rồi mới điều người, bằng ân đức nào mình chỉ dạy người, mình hãy tự điều bằng cách khéo dạy mình ân đức đó.
Attā hi kira duddamo: Quả thật, cái gọi là tự ngã nầy rất khó điều phục. Bởi thế, mình khéo tự điều thế nào, thì nên điều kẻ khác thế ấy.
Cuối thời Pháp, chư Tăng đông đến năm trăm vị thảy đều đắc A La Hán quả hết.
Đề Xá có danh “Tinh Tấn Thiền”,
Ngờ đâu thầy cứ ngủ liên miên,
Cuối canh thức dậy, kêu hành giả:
“Hãy thức hành Thiền, chớ ngủ yên!”.
Mỗi đêm thức suốt cả ba canh,
Mệt mỏi thân tâm, Đạo chẳng thành,
Đệ tử đi rình xem Trưởng lão,
Mới hay: Ông ngủ ngáy ngon lành!
Phật dạy: Tự điều rất khó khăn!
Bản thân phải huấn tập siêng năng,
Để làm gương mẫu cho người khác,
Mới đáng là thầy hướng dẫn Tăng.
DỨT TÍCH TRƯỞNG LÃO ĐỀ XÁ TINH TẤN THIỀN
Padhānikatissattheravatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Attānañceti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto padhānikatissattheraṃ ārabbha kathesi.
So kira satthu santike kammaṭṭhānaṃ gahetvā pañcasate bhikkhū ādāya araññe vassaṃ upagantvā, “āvuso, dharamānakassa buddhassa santike vo kammaṭṭhānaṃ gahitaṃ, appamattāva samaṇadhammaṃ karothā”ti ovaditvā sayaṃ gantvā nipajjitvā supati. Te bhikkhū paṭhamayāme caṅkamitvā majjhimayāme vihāraṃ pavisanti. So niddāyitvā pabuddhakāle tesaṃ santikaṃ gantvā “kiṃ tumhe ‘nipajjitvā niddāyissāmā’ti āgatā, sīghaṃ nikkhamitvā samaṇadhammaṃ karothā”ti vatvā sayaṃ gantvā tatheva supati. Itare majjhimayāme bahi caṅkamitvā pacchimayāme vihāraṃ pavisanti. So punapi pabujjhitvā tesaṃ santikaṃ gantvā te vihārā nīharitvā sayaṃ puna gantvā tatheva supati. Tasmiṃ niccakālaṃ evaṃ karonte te bhikkhū sajjhāyaṃ vā kammaṭṭhānaṃ vā manasikātuṃ nāsakkhiṃsu, cittaṃ aññathattaṃ agamāsi. Te “amhākaṃ ācariyo ativiya āraddhavīriyo, pariggaṇhissāma na”nti pariggaṇhantā tassa kiriyaṃ disvā “naṭṭhamhā, āvuso, ācariyo no tuccharavaṃ ravatī”ti vadiṃsu. Tesaṃ ativiya niddāya kilamantānaṃ ekabhikkhupi visesaṃ nibbattetuṃ nāsakkhi. Te vuṭṭhavassā satthu santikaṃ gantvā satthārā katapaṭisanthārā “kiṃ, bhikkhave, appamattā hutvā samaṇadhammaṃ karitthā”ti pucchitā tamatthaṃ ārocesuṃ. Satthā “na, bhikkhave, idāneva, pubbepesa tumhākaṃ antarāyamakāsiyevā”ti vatvā tehi yācito –
“Amātāpitarasaṃvaḍḍho, anācerakule vasaṃ;
Nāyaṃ kālaṃ akālaṃ vā, abhijānāti kukkuṭo”ti. (jā. 1.1.119) –
Imaṃ akālarāvikukkuṭajātakaṃ vitthāretvā kathesi. “Tadā hi so kukkuṭo ayaṃ padhānikatissatthero ahosi, ime pañca satā bhikkhū te māṇavā ahesuṃ, disāpāmokkho ācariyo ahamevā”ti satthā imaṃ jātakaṃ vitthāretvā, “bhikkhave, paraṃ ovadantena nāma attā sudanto kātabbo. Evaṃ ovadanto hi sudanto hutvā dameti nāmā”ti vatvā imaṃ gāthamāha –
“Attānañce tathā kayirā, yathāññamanusāsati;
Sudanto vata dametha, attā hi kira duddamo”ti.
Tassattho – yo hi bhikkhu “paṭhamayāmādīsu caṅkamitabba”nti vatvā paraṃ ovadati, sayaṃ caṅkamanādīni adhiṭṭhahanto attānañce tathā kayirā, yathāññamanusāsati, evaṃ sante sudanto vata damethāti yena guṇena paraṃ anusāsati, tena attanā sudanto hutvā dameyya. Attā hi kira duddamoti ayañhi attā nāma duddamo. Tasmā yathā so sudanto hoti, tathā dametabboti.
Desanāvasāne pañca satāpi te bhikkhū arahattaṃ pāpuṇiṃsūti.
Padhānikatissattheravatthu tatiyaṃ.
XII. 3. “Be Ye Doers of the Word”
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
159. If a man will make himself...
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Elder Padhānika Tissa.
This Elder, we are told, obtained a Subject of Meditation from the Teacher, and taking five hundred monks with him, entered upon residence in a forest. But first he admonished the monks, saying, “Brethren, you have obtained a Subject of Meditation from the Living Buddha; therefore be heedful in meditation.” So saying, he lay down and went to sleep. Those monks walked up and down during the first watch, and in the middle watch entered the monastery. When the Elder, who was sleeping, woke up, he went to those monks and said to them, “Did you come here thinking to yourselves, ‘We will lie down and go to sleep’? Leave the monastery immediately, and devote yourselves to meditation.” So saying, he himself went back again, lay down, and went to sleep.
The other monks walked up and down during the middle watch, and in the last watch entered the monastery. The Elder woke up again, went to them, drove them out of the monastery, and then himself went back again, lay down, and went to sleep. Since the Elder did this repeatedly, those monks were not able to concentrate their attention, either on the recitation of the Sacred Word or on their meditations, and as a result, their minds were distraught. Finally they said to themselves, “Our teacher must be exceedingly energetic. Let us watch him.” When they discovered what he was doing, they said, “We are lost, brethren; our teacher declaims empty declamations.” So tired were the monks from the little sleep they got that not a single monk was able to develop Specific Attainment.
Having completed residence, they went back to the Teacher. The Teacher, after exchanging the usual friendly greetings with them, asked them, “Monks, did you observe heedfulness? Did you perform your meditations faithfully?” Then the monks told him the whole story. Said the Teacher, “Monks, this is not the first time this Elder has made your efforts miscarry; he did the same thing before.” So saying, in compliance with their request, he related the Akālarāvikukkuṭa Jātaka:
Brought up by no mother or father, dwelling in the house of no teacher,
This cock knows neither the right time nor the wrong time to crow.
Said the Teacher, “At that time that cock was this very Elder Padhānika Tissa, those five hundred monks were these very novices, and the world-renowned teacher was I myself.”
Having related this Jātaka, the Teacher said, “Monks, if a man is to admonish others, he must first subdue himself; for if, under these circumstances, he admonish others, being well subdued himself, he can subdue others.” So saying, he pronounced the following Stanza,
159. If a man will make himself what he instructs others to be,
Being himself well-subdued, he may subdue others;
For, as the saying goes, it is a hard thing for a man to subdue himself.
- This story is a very free version of the Introduction to Jātaka 119: i. 435. Text: N iii. 142-144.
- Jātaka 119: i. 436.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.