Chú giải Pháp Cú · Kệ 244–245 · Dhp 244–245

Tích Tỳ Khưu Cūḷasāri Tà Mạng

Cūḷasārivatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 244–245 Kinh Pháp Cú, phẩm Cấu Uế, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 244-245) 244. “Sujīvaṃ ahirikena, “Sống không biết tàm quý,

Kākasūrena dhaṃsinā;

Sống lỗ mãng như quạ,

Pakkhandinā pagabbhena, Sống chê bai khoác lác, Saṃkiliṭṭhena jīvitaṃ .” Sống ngạo mạng nhiễm ô.”

245. “Hirīmatā ca dujjīvaṃ
Niccaṃ sucigavesinā
Alīnen'appagabbhena
Suddhājīvena passatā .”

“Sống vô cầu khiêm tốn,
Sống thường cầu thanh tịnh,
Sống thanh tịnh sáng suốt,
Khó thay đời sống ấy.”
(HT Thích Minh Châu)

Pháp Cú nầy được Đức Thế Tôn thuyết lên, khi Ngài ngự tại Jetavana, đề cập đến Tỳ Khưu Cūḷasāri là đệ tử theo hầu Đại Đức Sāriputta.

Tương truyền rằng: Một ngày nọ, sau khi làm nghề thầy thuốc, Tỳ Khưu Cūlasāri được dâng cúng thực phẩm ngon quí, đang ôm bát ra cổng thành, giữa đường gặp Đại Đức, bèn thưa rằng:

- Bạch Ngài, vật thực nầy con có được nhờ làm y sĩ. Ở nơi khác Ngài sẽ không có được loại vật thực nầy đâu. Xin thầy hãy thọ dụng vật thực nầy. Với nghề thầy thuốc, con sẽ cúng dường Ngài vật thực ngon quí như vậy luôn luôn.

Đại Đức nghe dứt mấy lời của đệ tử, Ngài im lặng bỏ đi luôn. Chư Tỳ Khưu về đến chùa, đem chuyện nầy bạch với Đức Thế Tôn. Ngài dạy rằng:

- Nầy các Tỳ Khưu, người xuất gia mà vô tàm vô quý, giống như con quạ, sống theo 21 pháp tà mạng để được sung sướng. Còn bậc có đầy đủ tàm quý thì hằng sống vất vả cực khổ.

Nói rồi Ngài ngâm lên kệ ngôn:

244. “Sujīvaṃ ahirikena,
Kākasūrena dhaṃsinā;
Pakkhandinā pagabbhena,
Saṃkiliṭṭhena jīvitaṃ .”
245. “Hirīmatā ca dujjīvaṃ
Niccaṃ sucigavesinā
Alīnen'appagabbhena
Suddhājīvena passatā .”

“Sống không biết tàm quý,
Sống lỗ mãng như quạ,
Sống chê bai khoác lác,
Sống ngạo mạng nhiễm ô.”
“Sống vô cầu khiêm tốn,
Sống thường cầu thanh tịnh,
Sống thanh tịnh sáng suốt,
Khó thay đời sống ấy.”
(HT Thích Minh Châu)

CHÚ GIẢI:

Ahirikenā : Sống mà không có sự hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi. Tỳ Khưu không có tàm quý, gặp người nữ không phải mẹ cũng nhận làm mẹ mình, người nam không phải cha cũng nhận là cha mình, hoặc dùng lối nói hay hành vi tưng bợ người thế theo 21 pháp tà mạng, có thể sống sung sướng.

Kākasūrena : Sống bạo dạn như con quạ, như là con quạ lỗ mãng (sūrakāko) muốn xớt vật thực như cháo … trong nhà khá giả, thường đậu lên trên mái nhà cao như đầu tường…, sợ người ta biết ý đồ của mình nên giả vờ như không có ý nhìn vật chi cả, hoặc giả vờ ngủ, chờ người ta sơ ý, không lưu tâm gìn giữ, nói chuyện cùng nhau, nó bay xuống cực nhanh xớt đồ ăn đầy miệng rồi bay vụt đi. Cũng như thế, kẻ vô tàm vô quý cùng các Tỳ Khưu vào làng để biết những nơi nào có cúng dường tứ vật dụng. Sau khi khất thực về, chư Tỳ Khưu quán tưởng, rồi tham thiền chú tâm trên đề mục thiền định, hoặc quét sạch Tăng đường. Kẻ vô tàm vô quý thì chẳng làm việc ấy, chỉ thừa cơ Tăng vào làm, sợ chư Tăng để ý mình, dầu đang nhìn cũng giả cách không nhìn, giả vờ như ngủ hoặc như đang thắt dây lưng, đang xếp y… rồi nói rằng: “Tôi bận việc nầy…” . Từ chỗ ngồi đi vào làng, đến một nhà trong số những nhà được Tăng chỉ định từ sáng sớm. Mặc dầu gia chủ đã khép kín cửa, vị ấy cũng đưa tay mở cửa để đi vào. Khi thấy vị Sa môn, dù muốn dù không, gia chủ cũng phải mời ngồi, tiếp hộ cơm cháo, dâng cúng vật theo khả năng có được của mình. Sau khi thọ thực rồi, còn tàn thực thì kẻ vô tàm vô quý bỏ vào bát mang về. Kẻ vô tàm vô quý sống một cách sung sướng như thế, thật đáng gọi là con quạ lỗ mãng.

Dhamsinā : Khi nghe chư Tăng nói: “Đại Đức tên đó là vị Tỳ Khưu tri túc, thiểu dục…” thì lại chê rằng: “Như vậy có gì đáng khen đâu? Chúng ta há chẳng phải cũng là những Sa môn tri túc thiểu dục sao?” cốt ý hạ bớt giá trị ân đức của kẻ khác và tự đề cao mình. Mọi người nghe vậy, tưởng lầm rằng: “Vị nầy cũng là bậc có giới đức trong sạch, tri túc, thiểu dục.” . Rồi họ nghĩ đến sự cúng dường. Nhưng từ đó về sau, kẻ hay chê bai cũng không lấy được niềm tin của hàng thức giả, vì thế lợi lộc cũng suy tàn. Kẻ hay chê bai (dhamsī) phá hoại lợi lộc của chính mình và của người khác như thế đó.

Pakkhandinā : (Sống khoác lác), kẻ khoác lác thì hay mạo nhận những công việc của người khác là công việc chính mình. Như buổi sáng sớm chư Tăng chia nhau thành từng nhóm làm công việc nọ việc kia, như quét sân Thánh tháp chẳng hạn, làm xong việc rồi, ngồi tịnh tham thiền giây lát mới đứng dậy vào làng khất thực. Lúc bấy giờ kẻ khoác lác mới dậy súc miệng rửa mặt khoác y vàng lên mình, nhỏ thuốc vào hai mắt, xức dầu… trang điểm thân thể xong, giả vờ lấy chỗi quét sân chùa, nhưng chỉ quét qua loa vài cái thôi.

Ngay trước cổng chùa, những người đến từ sáng sớm với ý định “Chúng ta sẽ lễ bái Thánh tháp, chúng ta sẽ dâng cúng tràng hoa.” . Trông thấy vị Sa môn đang quét thì nghĩ rằng: “Nhờ có vị nầy chăm nom, săn sóc ngôi chùa mới được sạch sẽ như vầy, chúng ta chớ nên lãng quên vị ấy.” . Nói rồi, họ làm phước cúng dường đến ông ta. Do khéo giả vờ mà kẻ khoác lác sống được an vui hạnh phúc.

Pagabbhena : Nhờ có đủ tư cách bạo dạn bằng thân, khẩu, ý do dám liều lĩnh.

Sankiliṭṭhena jīvitaṃ : Con người sống nếp sống như thế, đáng gọi là sống nhiễm ô. Sống như thế là sống xấu xa tội lỗi.

Hiramatā ca : Người có đầy đủ tàm quý thì sống khó khăn. Thật vậy: Những ai không phải là cha mẹ ruột, người ấy không mạo nhận: “Đây là cha mẹ của tôi.” . Tứ vật dụng không hợp lẽ đạo, người ấy thị như phẩn uế. Khi đói khát, người ấy đi khấtthực với tâm bình đẳng đi bát từng nhà mà nuôi mạng sống và sống một nếp sống đạm bạc, thô sơ.

Sucigavesinā : Sống thường cầu thanh tịnh cả ba nghiệp thân, khẩu, ý.

Alīnena : Sống hoạt động, không làm biếng.
Suddhājīvena passata : Người như thế đáng gọi

là người sống trong sạch. Do nếp sống thanh bạch như thế, người ấy càng nhớ rõ, hiểu rành nếp sống thanh bạch, rồi cam chịu sống vất vả khổ cực với nếp sống đạm bạc thô sơ.

Cuối thời Pháp, nhiều Tỳ Khưu đắc Thánh Quả, nhất là quả Tu Đà Hườn.

Tu thật, làm sao cũng chịu nghèo
Giả thì hỏng mất hạnh Tỳ Khưu
Mỗi ngày quán tưởng, tùy duyên sống
Hàng bữa tham thiền, liệu sự đeo
Tà mạng1, lòng no ăn giống quạ
Chánh tâm, bụng đói hửi như mèo
Thánh phàm hai hạng, xưa từng vậy
Rằng khổ, rằng vui chớ trả treo…

DỨT TÍCH TỲ KHƯU CŪḶASĀRI

  1. Hai mươi mốt pháp tà mạng của vị Tỳ Khưu, có ghi trong Tứ Thanh Tịnh giới của Ngài Bửu Chơn. Đây kể sơ lược: 1- Cho tre, 2- Cho lá, 3- Cho hoa, 4- Cho trái, 5- Cho cây đánh răng, 6- Cho nước rửa mặt, 7- Cho vật tắm gội, 8- Cho phấn sáp, 9- Cho đất sét, 10- Nịnh bợ, 11- Nói nửa thật nửa đùa, 12- Giúp đẻ, 13- Làm công nhân, 14- Làm thầy thuốc, 15- Đem tin, 16- Làm tay sai, 17- Cho ăn bát trước, 18- Cho qua cho lại, 19- Làm thầy địa lý, 20- Xem thiện văn, 21- Xem tướng coi tay.

Cūḷasārivatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Sujīvanti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto cūḷasāriṃ nāma sāriputtattherassa saddhivihārikaṃ ārabbha kathesi.

So kira ekadivase vejjakammaṃ katvā paṇītabhojanaṃ labhitvā ādāya nikkhamanto antarāmagge theraṃ disvā, “bhante, idaṃ mayā vejjakammaṃ katvā laddhaṃ, tumhe aññattha evarūpaṃ bhojanaṃ na labhissatha, imaṃ bhuñjatha, ahaṃ te vejjakammaṃ katvā niccakālaṃ evarūpaṃ āhāraṃ āharissāmī”ti āha. Thero tassa vacanaṃ sutvā tuṇhībhūtova pakkāmi. Bhikkhū vihāraṃ gantvā satthu tamatthaṃ ārocesuṃ. Satthā, “bhikkhave, ahiriko nāma pagabbho kākasadiso hutvā ekavīsatividhāya anesanāya ṭhatvā sukhaṃ jīvati, hiriottappasampanno pana dukkhaṃ jīvatī”ti vatvā imā gāthā abhāsi –

“Sujīvaṃ ahirikena, kākasūrena dhaṃsinā;
Pakkhandinā pagabbhena, saṃkiliṭṭhena jīvitaṃ.

“Hirīmatā ca dujjīvaṃ, niccaṃ sucigavesinā;
Alīnenāppagabbhena, suddhājīvena passatā”ti.

Tattha ahirikenāti chinnahirottappakena. Evarūpena hi amātarameva “mātā me”ti apitādayo eva ca “pitā me”tiādinā nayena vatvā ekavīsatividhāya anesanāya patiṭṭhāya sukhena jīvatuṃ sakkā. Kākasūrenāti sūrakākasadisena. Yathā hi sūrakāko kulagharesu yāguādīni gaṇhitukāmo bhittiādīsu nisīditvā attano olokanabhāvaṃ ñatvā anolokento viya aññavihitako viya niddāyanto viya ca hutvā manussānaṃ pamādaṃ sallakkhetvā anupatitvā “sūsū”ti vadantesuyeva bhājanato mukhapūraṃ gahetvā palāyati, evamevaṃ ahirikapuggalopi bhikkhūhi saddhiṃ gāmaṃ pavisitvā yāgubhattaṭṭhānādīni vavatthapeti. Tattha bhikkhū piṇḍāya caritvā yāpanamattaṃ ādāya āsanasālaṃ gantvā paccavekkhantā yāguṃ pivitvā kammaṭṭhānaṃ manasi karonti sajjhāyanti āsanasālaṃ sammajjanti. Ayaṃ pana akatvā gāmābhimukhova hoti.

So hi bhikkhūhi “passathima”nti olokiyamānopi anolokento viya aññavihito viya niddāyanto viya gaṇṭhikaṃ paṭimuñcanto viya cīvaraṃ saṃvidahanto viya hutvā “asukaṃ nāma me kammaṃ atthī”ti vadanto uṭṭhāyāsanā gāmaṃ pavisitvā pātova vavatthapitagehesu aññataraṃ gehaṃ upasaṅkamitvā gharamānusakesu thokaṃ kavāṭaṃ pidhāya dvāre nisīditvā kandantesupi ekena hatthena kavāṭaṃ paṇāmetvā anto pavisati. Atha naṃ disvā akāmakāpi āsane nisīdāpetvā yāguādīsu yaṃ atthi, taṃ denti. So yāvadatthaṃ bhuñjitvā avasesaṃ pattenādāya pakkamati. Ayaṃ kākasūro nāma. Evarūpena ahirikena sujīvanti attho.

Dhaṃsināti “asukatthero nāma appiccho”tiādīni vadantesu – “kiṃ pana mayaṃ na appicchā”tiādivacanena paresaṃ guṇadhaṃsanatāya dhaṃsinā. Tathārūpassa vacanaṃ sutvā “ayampi appicchatādiguṇe yutto”ti maññamānā manussā dātabbaṃ maññanti. So pana tato paṭṭhāya viññūpurisānaṃ cittaṃ ārādhetuṃ asakkonto tamhāpi lābhā parihāyati. Evaṃ dhaṃsipuggalo attanopi parassapi lābhaṃ nāsetiyeva.

Pakkhandināti pakkhandacārinā. Paresaṃ kiccānipi attano kiccāni viya dassento pātova bhikkhūsu cetiyaṅgaṇādīsu vattaṃ katvā kammaṭṭhānamanasikārena thokaṃ nisīditvā uṭṭhāya gāmaṃ pavisantesu mukhaṃ dhovitvā paṇḍukāsāvapārupanaakkhiañjanasīsamakkhanādīhi attabhāvaṃ maṇḍetvā sammajjanto viya dve tayo sammajjanipahāre datvā dvārakoṭṭhakābhimukho hoti. Manussā pātova “cetiyaṃ vandissāma, mālāpūjaṃ karissāmā”ti āgatā taṃ disvā “ayaṃ vihāro imaṃ daharaṃ nissāya paṭijagganaṃ labhati, imaṃ mā pamajjitthā”ti vatvā tassa dātabbaṃ maññanti. Evarūpena pakkhandināpi sujīvaṃ. Pagabbhenāti kāyapāgabbhiyādīhi samannāgatena. Saṃkiliṭṭhena jīvitanti evaṃ jīvikaṃ kappetvā jīvantena hi puggalena saṃkiliṭṭhena hutvā jīvitaṃ nāma hoti, taṃ dujjīvitaṃ pāpamevāti attho.

Hirīmatā cāti hirottappasampannena puggalena dujjīvaṃ. So hi amātādayova “mātā me”tiādīni avatvā adhammike paccaye gūthaṃ viya jigucchanto dhammena samena pariyesanto sapadānaṃ piṇḍāya caritvā jīvikaṃ kappento lūkhaṃ jīvikaṃ jīvatīti attho. Sucigavesināti sucīni kāyakammādīni gavesantena. Alīnenāti jīvitavuttimanallīnena. Suddhājīvena passatāti evarūpo hi puggalo suddhājīvo nāma hoti. Tena evaṃ suddhājīvena tameva suddhājīvaṃ sārato passatā lūkhajīvitavasena dujjīvaṃ hotīti attho.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.

Cūḷasārivatthu chaṭṭhaṃ.

XVIII. 6. Courtesy and Rudeness

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

244-245. Easy is the life...

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Culla Sāri, a co-resident of Elder Sāriputta.

The story goes that one day this monk administered medical treatment, in return for which he received a portion of choice food. As he went out with this food, he met an Elder on the road and said to him, “Reverend Sir, here is some food which I received for administering medical treatment. Nowhere else will you receive food like this. Take it and eat it. Henceforth, whenever I receive such food as this in return for administering medical treatment, I will bring it to you.” The Elder listened to what he said, but departed without saying a word. The monks went to the monastery and reported the matter to the Teacher. Said the Teacher, “Monks, he that is shameless and impudent like a crow, he that practices the twenty-one varieties of impropriety, lives happily. But he that is endowed with modesty and fear of mortal sin, lives in sorrow.” So saying, he pronounced the following Stanzas,

244. Easy is the life of the man who is shameless, bold like a crow, a backbiter,
Insolent, impudent, corrupt.

245. Hard is the life of the man who is modest, ever seeking what is pure,
Free from attachment, contained, blameless in conduct, possessed of vision clear.

  1. Text: N iii. 351-355.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.