Chú giải Pháp Cú · Kệ 176 · Dhp 176

Tích Nàng Ciñcamāṇavikā

Ciñcamāṇavikāvatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 176 Kinh Pháp Cú, phẩm Thế Gian, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 176)

“Ekaṃ dhammaṃ atītassa,
Musāvādissa jantuno;
Vitiṇṇaparalokassa,
Natthi pāpaṃ akāriyaṃ.”

“Ai vi phạm một pháp,
Ai nói lời vọng ngữ,
Ai bác bỏ đời sau,
Không ác nào không làm.”
(Ngài HT Minh Châu)

Kệ Pháp cú nầy được Đức Bổn Sư thuyết lên, khi Ngài ngự tại Jetavana, đề cập đến nàng Ciñcamāṇavikā.

Tương truyền rằng: Trong thời đầu tiên hoằng hóa Chánh Pháp, Đấng Thập Lực có rất đông đại chúng, số lượng đệ tử ngày càng tăng thịnh, hội chúng Sa môn Thích Tử càng phát triển. Đa số Chư Thiên cùng nhân loại đi vào Thánh Vức. Khi Đạo Quang của Đức Thế Tôn càng lan rộng thì Tăng chúng càng phát sanh nhiều thắng lợi, danh thơm, tài vật càng tăng thịnh…

Bấy giờ, các ngoại đạo giống như con đom đóm giữa ánh sáng nhật nguyệt rạng ngời. Bọn Ngoại đạo sư cuồng nộ, đứng bên ven lộ tuyên bố với chúng thị dân rằng:

- Này các người! Chẳng phải chỉ có Sa môn Gotama là vị Phật thôi. Chúng tôi cũng là vị Phật vậy. Cúng dường đến Sa môn Gotama có quả báu như thế nào, thì cúng dường đến chúng tôi cũng có nhiều quả phước như thế. Các người nên làm những gì đáng làm đến chúng tôi đi.

Tuy ngoại đạo tuyên thuyết lên như thế, nhưng lợi lộc vẫn không phát sanh đến cho họ được. Họ liền hội họp cùng nhau rằng:

- Chúng ta hãy nêu tội trạng của Sa Môn Gotama giữa đại chúng khiến cho lợi lộc của y sẽ bị tổn giảm. Nhưng chúng ta phải làm như thế nào đây nhỉ?

Trong khi ấy, trong thành Sāvatthī có nàng cư sĩ ngoại đạo là Ciñcamāṇavikā, nàng ta có một nhan sắc lộng lẫy như thiên tiên, thân nàng có đầy đủ những nét diễm kiều.

Bây giờ một gã ngoại giáo suy nghĩ được một cách vu họa đến Đức Thế Tôn rằng:

- Chúng ta hãy nhờ nàng Ciñcamāṇavikā nêu tội của Sa môn Gotama làm cho y cùng hội chúng của y bị tổn giảm lợi lộc.

Chúng ngoại đạo hoan hỷ tán thành kế ấy rằng: “Thật là diệu kế”.

Thế là, khi nàng Ciñcamāṇavikā đi đến tu viện của ngoại Đạo Sư, nàng đảnh lễ xong rồi, đứng yên tại một chỗ. Bọn ngoại đạo không ngỡ ngàng cũng không nói đến nàng chi cả. Nàng Ciñcamāṇavikā suy nghĩ rằng:

- Hẳn là ta đã phạm tội gì với quí Ngài đây, nhưng ta không biết được lỗi ấy là lỗi chi?

Nàng liền bạch hỏi rằng:

“Thưa các Ngài! Có phải là tôi đã phạm một lỗi lầm trầm trọng đến quí Ngài chăng?”

Bọn ngoại đạo vẫn im lặng, nàng bạch hỏi đến ba lượt:

- Bạch các Ngài! Tôi xin đảnh lễ các Ngài, chẳng hay tôi đã phạm vào lỗi gì đối với các Ngài vậy? Tại sao các Ngài lại im lặng đối với tôi như thế?

- Nầy cô! Cô không biết rằng Sa môn Gotama đã làm chúng tôi tổn giảm lợi đắc hay sao?

- Bạch các Ngài! Tôi nào biết việc ấy đâu. Vậy thì trong chuyện nầy tôi phải làm sao?

- Nầy cô! Nếu cô muốn đem lại sự an lạc cho chúng tôi, cô hãy nêu tội sa môn Gotama ra, như thế sẽ khiến lợi đắc của y tổn giảm.

- Được thôi, điều ấy là việc làm của tôi, xin các Ngài đừng có suy nghĩ chi cả.

Nàng Ciñcamāṇavikā đi vào Tịnh Xá Jetavana ngày hôm sau, nàng mặc chiếc áo có màu vàng như con rùa vào Tịnh Xá, tay cầm hương hoa, vật thơm… Khi vào Tịnh xá nghe Pháp được thời gian ngắn, bấy giờ nàng đợi cho thính chúng nghe Pháp ra về hết, nàng mới ra về sau, rồi thì nàng chờ cho Đại chúng nghe pháp ra về khi ấy nàng mới đi đến Tịnh Xá, khi gặp người hỏi, thì nàng xảo quyệt trả lời câu hỏi của người ấy: “Nàng đi đâu đến Tinh Xá vào giờ nầy”

Nàng: “Tôi đi đâu thì mặc kệ tôi, các người hỏi mà làm gì?”. Thừa lúc vắng người, nàng lẽn trốn về trú nơi Tịnh xá của ngoại đạo ở gần đó. Khi gần sáng, đợi có bóng người lãng vãng, là cận sự nữ hay cận sự nam đến đãnh lễ Đức Thế Tôn, nàng lại giả vờ như người vừa từ trong Tịnh Xá Jetavana trở về, các cận sự hỏi rằng: “Nầy cô! Cô ở đâu mà về thế?”

Nàng: “Các người hỏi nơi trú ngụ của tôi để mà làm gì?”

Trãi qua một, hai tháng sau, khi bị hỏi, nàng tỏ vẽ thật thà nói rằng:

“Tôi ngụ chung Hương Thất với Sa môn Gotama trong Tịnh xá Jetavana”

Những kẻ phàm nhân nghe vậy, phát sanh nghi hoặc rằng:

- Điều nàng nầy nói có thật như thế chăng nhỉ?

Đến khoảng ba, bốn tháng sau, nàng lấy vải độn vào bụng, giả như người có mang, làm cho hạng phàm nhân thiếu trí nghĩ rằng: “Đây là thai bào do Sa môn Gotama tạo ra”. Vào khoảng 8-9 tháng sau, nàng dùng gỗ tròn, đẻo gọt tròn lản rồi độn vào bụng phủ áo bên ngoài, nàng còn gian xảo dùng cây đập vào tay chân, mình mẫy cho sưng lên, giống như người sắp đến thời kỳ sanh nở.

Một hôm, vào buổi chiều khi Đức Thế Tôn đang giảng Pháp thoại giữa đại chúng nơi Giảng Pháp đường. Nàng Ciñcamāṇavikā đi vào giữa Giảng đường, đứng giữa hội chúng, trước mặt Đấng Như Lai, nói rằng: Nầy ông Đại Sa Môn! Ông chỉ giỏi nói Pháp cho thính chúng nghe mà thôi, tiếng của ông thanh tao, giọng nói của ông ngọt ngào, lời nói của ông thật là êm ái. Riêng tôi cũng vì thế mà nay đã đến ngày sanh rồi.

Sao ông không biết đến việc sanh nở của tôi, ông không biết điều dưỡng thai nhi bằng những loại thuốc bổ dưỡng như bơ lỏng, sữa, đậu mè… Ông không tự làm, cũng không hề sai bảo cận sự nam hay cận sự nữ của mình như bà Visākhā hoặc ông Nāthapindika, hoặc giả một cận sự nào khác rằng: “Hãy lo cho nàng Ciñcamāṇavikā nầy. Ông chỉ là người biết hưởng thụ khoái lạc, không hề biết đến phận sự chu toàn cho thai nhi của chính mình”.

Nàng Ciñcamāṇavikā giống như người cầm phân toan bôi bẩn mặt trăng sáng, nàng tạo thành ác trọng nghiệp quá nặng, là phỉ báng Đức Thế Tôn, vu họa cho Ngài giữa đại hội chúng như thế.

Khi ấy, Đức Thế Tôn rống lên tiếng rống Sư Tử Vương rằng:

- Nầy Ciñcamāṇavikā: Sự việc mà nàng vừa nói đó, chỉ có nàng và Như Lai biết rõ mà thôi.

- Đúng như thế, nầy ông Đại Sa Môn! Điều đó phát sanh lên chỉ có ông và tôi biết mà thôi.

Đức Thế Tôn im lặng, khi ấy nơi Bảo Tọa của Đức Thiên Vương bỗng nóng ran, Ngài ngạc nhiên suy nghĩ: “Ai muốn chiếm ngôi vị của ta như thế”.

Thiên chủ dùng Thiên Nhãn quán xét thế gian biết rằng nàng Ciñcamāṇavikā đã phỉ báng và vu cáo Ngài giữa đại chúng, làm phát sanh nghi ngờ cho Đại chúng. Thiên Chúa suy nghĩ: “Ta sẽ thanh minh việc nầy giữa Hội chúng, làm thanh tịnh Giới hạnh Sa môn của Ngài”, Đế Thích sai bốn vị Thiên Tử đến phán:

- Các ngươi hãy đến Tịnh xá Jetavana làm rõ ràng minh bạch việc nàng Ciñcamāṇavikā vu cáo Đức Thế Tôn.

Bốn vị Thiên Tử vâng lịnh Đế Thích, đi đến Jetavana, hóa thành bốn con chuột, cắn đứt vải buộc khúc gỗ tròn, rồi nổi gió lên thổi tung vạt áo, khiến khúc gỗ tròn đột nhiên rơi xuống bàn chân của nàng Ciñcamāṇavikā, khiến hai chân nàng đau đớn kinh khủng.

Sự việc ấy, đã làm sáng tỏ giới hạnh thanh nghiêm của Đức Thế Tôn, và tố cáo sự cáo gian của nàng Ciñcamāṇavikā, đại chúng phẫn nộ rằng: “Nầy ác nữ! (Tại sao) ngươi lại phỉ báng Đức Thế Tôn với những lời phi chân thật như thế?”

Đại chúng tân xuất nàng ra khỏi Tịnh xá Jetavana, cùng làm những hình phạt ô nhục dành cho nàng. Nàng Ciñcamāṇavikā vừa ra khỏi Tịnh xá Jetavana, khuất mắt Đức Thế Tôn, quả địa cầu bỗng nứt ra rút nàng vào tận Đại địa ngục A Tỳ, ngọn lửa trong ngục A Tỳ phun ra thiêu đốt nàng vàng hực như tấm vải vàng mà nàng hằng mặc. Sau việc nầy, lợi đắc của ngoại giáo càng tổn giảm nặng nề, trái lại lợi đắc của Tăng chúng càng thêm tăng thịnh.

Sáng hôm sau chư Tỳ Khưu cùng nhau bàn luận trong Giảng Đường rằng:

- Nầy chư Hiền giả! Nàng Ciñcamāṇavikā đã phỉ báng Đức Thế Tôn Chánh Đẳng Giác, là bậc đáng cúng dường cao thường hơn mọi nhân thiên, là bậc có ân đức vô lượng như thế. Với lời vu khống, phi chân như thế đã mang đến tổn thất nặng nề cho nàng.

Từ nơi Hương Thất, với thiên nhĩ thuần tịnh Siêu Nhân, Bậc Đạo Sư nghe được sự luận bàn ấy, Ngài ngự đến Giảng đường, ngồi vào nơi được soạn sẵn, phán hỏi rằng:

- Nầy các Tỳ Khưu! Bấy giờ các ngươi ngồi lại đây, bàn luận về việc chi thế?

- Bạch Thế Tôn, về chuyện như vậy…

Đức Thế Tôn, Ngài phán dạy rằng:

- Nầy các Tỳ Khưu! Chẳng phải chỉ trong kiếp nầy nàng Ciñcamāṇavikā vu khống Như Lai rồi phỉ báng. Mà trong quá khứ, nàng cũng đã từng làm như thế rồi, và cũng bị tổn hại như thế.

Theo lời thỉnh cầu của chư Tỳ Khưu, Đức Thế Tôn thuyết lại Bổn Sanh Mahāpaduma trong Dvādosakanipāta với đầy đủ chi tiết rằng: “Người không thấy được lỗi nhỏ, lớn của người khác một cách toàn diện. Tự mình chưa kịp quán xét (thì) không nên hành phạt”. Ngài phán rằng: Trong thời đó, nàng Ciñcamāṇavikā chính là kế mẫu của Bồ tát Mahāpaduma, là Hoàng Hậu của Đức Vua, cha của Bồ Tát, đã toan nài ép Bồ Tát hành phi phạm hạnh với nàng, nhưng Bồ Tát cự tuyệt, nàng giã vờ bịnh nặng, tâu với Đức Vua rằng:

- Con của Bệ Hạ đã làm cho thần thiếp không còn muốn sống nữa, nên phải bị bịnh.

Đức Vua nổi giận, cho bắt Bồ Tát ném xuống núi, là hố chôn xác bọn cướp cho chết đi.

Một Thiên nhân ngụ gần sườn núi ấy, đã đở lấy Bồ Tát mong Ngài xuống Long Cung. Long Vương nhường cho Bồ Tát nửa Thủy Quốc, Bồ Tát sống ở Long Cung được một năm, Ngài lại trở về Nhân giới, xuất gia làm đạo sĩ trong rừng Tuyết Lãnh, chứng đắc thiền định và thần thông.

Bấy giờ, có người thợ săn, y lạc đường khi đi sâu vào rừng Tuyết Lãnh, thấy Bồ Tát liền trở về báo lại Đức Vua. Đức Vua rất vui mừng ngự thân đến nơi ngụ của Bồ Tát, được Bồ Tát tiếp đón rất cung kính, Ngài thuật lại mọi việc câu chuyện, cùng với sự dâm loạn của Hoàng Hậu. Nghe rõ câu chuyện, Đức Vua hối hận, mời Bồ Tát trở về thay Vua trị quốc, nắm giữ Vương quyền. Nhưng Bồ Tát khước từ, trước khi từ giả Phụ Vương, Ngài ban lời giáo huấn Vương Phụ:

- Tâu Phụ Vương! Con chẳng còn có phận sự gì đối với Vương Quốc cả. Xin Phụ Vương hãy trị dân theo đúng Thập pháp Vương, hãy từ bỏ sự thiên vị. Xin Phụ vương hãy là người cai trị Vương Quốc tốt đẹp đi, hãy xứng đáng là vị Minh quân vậy.

Đức Vua đành gạt lệ từ giã đứa con thân yêu hiền trí trở về kinh thành, trên đường về Đức Vua hỏi các Đại Thần rằng:

- Do ai mà Trẫm mất đứa con hiền trí, hiếu hạnh như vậy?

- Tâu Bệ Hạ! Đó là do Hoàng Hậu làm ra.

Đức Vua nghe tâu như thế, truyền lịnh bắt Hoàng Hậu, tự thân Ngài nắm lấy hai chân Hoàng Hậu đỡ lên cao, ném xuống hố bọn cướp, rồi Ngài trở về kinh thành cai trịVương Quốc theo đúng Thập Vương Pháp của vị Minh quân.

Bồ Tát Mahāpaduma chính là tiền thân của Đức Thế Tôn, kế mẫu của Ngài nay là nàng Ciñcamāṇavikā.

Sau khi thuyết giảng ý nghĩa nầy xong, Đức Thế Tôn phán dạy rằng:

- Nầy các Tỳ Khưu! Gọi là ác nghiệp mà người đã từ bỏ pháp chân thật ấy, sống bằng pháp hư ngụy phi ngôn, là người làm mất đi gốc hướng thượng cho đời sau, vì rằng: Như vậy thì không có tội lỗi nào mà người ấy không dám làm cả.

Rồi Ngài phán lên kệ ngôn rằng: “Ekaṃ dhammaṃ atītassa, “Ai vi phạm một pháp,

Musāvādissa jantuno;
Vitiṇṇaparalokassa,

Ai nói lời vọng ngữ,
Ai bác bỏ đời sau,

Natthi pāpaṃ akāriyaṃ.” Không ác nào không làm.”

(Ngài HT Minh Châu)
176. Không có điều ác nào mà người vọng ngữ vi

phạm định luật (chơn thật), và dững dưng trước thế giới bên kia, không làm được.

CHÚ GIẢI:

Ekaṃ dhammaṃ: Nghĩa là pháp độc nhất, chính là pháp chân thật.

Musāvādissa: Nghĩa là trong 10 lời nói chân thật, thì một lời cũng không có đến cho người nào, người ấy được gọi là người thường vọng ngôn.

Vitiṇṇaparalokassa: Nghĩa là người đã mất gốc, đứt mất sự tăng trưởng tốt đẹp cho đời sau. Người như thế sẽ không nhận được một trong ba loại tài sản là nhân sản, thánh sản và thiên sản.

Natthi pāpaṃ: Nghĩa là sự nghi ngờ là tội lỗi như vậy mà người đó, tức là người như vậy không làm thì không có.

Dứt Pháp thoại nhiều người an trú vào Dự Lưu Quả…

Ngoại đạo Chinh Cha đẹp tợ tiên,
Hằng ngày độn bụng đến Kỳ Viên.
Để phao vu Phật trò ân ái;
Dân chúng ngu khờ cũng đảo điên!
Thiên Vương Đế Thích nóng ngai vàng,
Không thể ngồi yên, xuống đạo tràng,
Hóa chuột, cắn dây đai buộc bụng
Làm rơi khúc gỗ, dập chân nàng.
Thiện tín đứng lên đánh Chinh Cha,
Người cầm gạch đá, đuổi nàng ra,
Khỏi chùa, đất sụp và chôn sống
Kẻ cố tâm bôi lọ Thích Ca.
Phật dạy: Ai vi phạm lý chân,
Nói lời giả dối, gạt thường nhân,
Không tin quả báo, luân hồi nghiệp,
Thì có ác nào chẳng dám làm?

DỨT TÍCH NÀNG CIÑCAMĀṆAVIKĀ

Ciñcamāṇavikāvatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Ekaṃ dhammanti dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto ciñcamāṇavikaṃ ārabbha kathesi.

Paṭhamabodhiyañhi dasabalassa puthubhūtesu sāvakesu appamāṇesu devamanussesu ariyabhūmiṃ okkantesu patthaṭe guṇasamudaye mahālābhasakkāro udapādi. Titthiyā sūriyuggamane khajjopanakasadisā ahesuṃ hatalābhasakkārā. Te antaravīthiyaṃ ṭhatvā “kiṃ samaṇo gotamova buddho, mayampi buddhā, kiṃ tasseva dinnaṃ mahapphalaṃ, amhākampi dinnaṃ mahapphalameva, amhākampi detha sakkarothā”ti evaṃ manusse viññāpentāpi lābhasakkāraṃ alabhitvā raho sannipatitvā “kena nu kho upāyena samaṇassa gotamassa manussānaṃ antare avaṇṇaṃ uppādetvā lābhasakkāraṃ nāseyyāmā”ti cintayiṃsu.

Tadā sāvatthiyaṃ ciñcamāṇavikā nāmekā paribbājikā uttamarūpadharā sobhaggappattā devaccharā viya. Assā sarīrato rasmiyo niccharanti. Atheko kharamantī evamāha – “ciñcamāṇavikaṃ paṭicca samaṇassa gotamassa avaṇṇaṃ uppādetvā lābhasakkāraṃ nāsessāmā”ti. Te “attheko upāyo”ti sampaṭicchiṃsu. Atha sā titthiyārāmaṃ gantvā vanditvā aṭṭhāsi, titthiyā tāya saddhiṃ na kathesuṃ. Sā “ko nu kho me doso”ti yāvatatiyaṃ “vandāmi, ayyā”ti vatvā, “ayyā, ko nu kho me doso, kiṃ mayā saddhiṃ na kathethā”ti āha. “Bhagini, samaṇaṃ gotamaṃ amhe viheṭhayantaṃ hatalābhasakkāre katvā vicarantaṃ na jānāsī”ti? “Na jānāmi, ayyā, kiṃ panettha mayā kattabba”nti. “Sace tvaṃ, bhagini, amhākaṃ sukhamicchasi, attānaṃ paṭicca samaṇassa gotamassa avaṇṇaṃ uppādetvā lābhasakkāraṃ nāsehī”ti.

Sā “sādhu, ayyā, mayhaṃveso bhāro, mā cintayitthā”ti vatvā pakkamitvā itthimāyāsu kusalatāya tato paṭṭhāya sāvatthivāsīnaṃ dhammakathaṃ sutvā jetavanā nikkhamanasamaye indagopakavaṇṇaṃ paṭaṃ pārupitvā gandhamālādihatthā jetavanābhimukhī gacchati. “Imāya velāya kuhiṃ gacchasī”ti vutte, “kiṃ tumhākaṃ mama gamanaṭṭhānenā”ti vatvā jetavanasamīpe titthiyārāme vasitvā pātova “aggavandanaṃ vandissāmā”ti nagarā nikkhamante upāsakajane jetavanassa antovuṭṭhā viya hutvā nagaraṃ pavisati. “Kuhiṃ vuṭṭhāsī”ti vutte, “kiṃ tumhākaṃ mama vuṭṭhaṭṭhānenā”ti vatvā māsaddhamāsaccayena pucchiyamānā jetavane samaṇena gotamena saddhiṃ ekagandhakuṭiyā vuṭṭhāmhīti. Puthujjanānaṃ “saccaṃ nu kho etaṃ, no”ti kaṅkhaṃ uppādetvā temāsacatumāsaccayena pilotikāhi udaraṃ veṭhetvā gabbhinivaṇṇaṃ dassetvā upari rattapaṭaṃ pārupitvā “samaṇaṃ gotamaṃ paṭicca gabbho uppanno”ti andhabāle saddahāpetvā aṭṭhanavamāsaccayena udare dārumaṇḍalikaṃ bandhitvā upari paṭaṃ pārupitvā hatthapādapiṭṭhiyo gohanukena koṭṭāpetvā ussade dassetvā kilantindriyā hutvā sāyanhasamaye tathāgate alaṅkatadhammāsane nisīditvā dhammaṃ desente dhammasabhaṃ gantvā tathāgatassa purato ṭhatvā, “mahāsamaṇa, mahājanassa tāva dhammaṃ desesi, madhuro te saddo, samphusitaṃ dantāvaraṇaṃ. Ahaṃ pana taṃ paṭicca gabbhaṃ labhitvā paripuṇṇagabbhā jātā, neva me sūtigharaṃ jānāsi, sappitelādīni sayaṃ akaronto upaṭṭhākānampi aññataraṃ kosalarājānaṃ vā anāthapiṇḍikaṃ vā visākhaṃ upāsikaṃ vā ‘imissā ciñcamāṇavikāya kattabbayuttakaṃ karohī’ti na vadesi, abhiramituṃyeva jānāsi, gabbhaparihāraṃ na jānāsī”ti gūthapiṇḍaṃ gahetvā candamaṇḍalaṃ dūsetuṃ vāyamantī viya parisamajjhe tathāgataṃ akkosi. Tathāgato dhammakathaṃ ṭhapetvā sīho viya abhinadanto, “bhagini, tayā kathitassa tathabhāvaṃ vā vitathabhāvaṃ vā ahameva ca tvañca jānāmā”ti āha. “Āma, mahāsamaṇa, tayā ca mayā ca ñātabhāvenetaṃ jāta”nti.

Tasmiṃ khaṇe sakkassa āsanaṃ uṇhākāraṃ dassesi. So āvajjamāno “ciñcamāṇavikā tathāgataṃ abhūtena akkosatī”ti ñatvā “idaṃ vatthuṃ sodhessāmī”ti catūhi devaputtehi saddhiṃ āgami. Devaputtā mūsikapotakā hutvā dārumaṇḍalikassa bandhanarajjuke ekappahāreneva chindiṃsu, pārutapaṭaṃ vāto ukkhipi, dārumaṇḍalikaṃ patamānaṃ tassā pādapiṭṭhiyaṃ pati, ubho aggapādā chijjiṃsu. Manussā “dhī kāḷakaṇṇi, sammāsambuddhaṃ akkosī”ti sīse kheḷaṃ pātetvā leḍḍudaṇḍādihattā jetavanā nīhariṃsu. Athassā tathāgatassa cakkhupathaṃ atikkantakāle mahāpathavī bhijjitvā vivaramadāsi, avīcito aggijālā uṭṭhahi. Sā kuladattiyaṃ kambalaṃ pārupamānā viya gantvā avīcimhi nibbatti. Aññatitthiyānaṃ lābhasakkāro parihāyi, dasabalassa bhiyyosomattāya vaḍḍhi. Punadivase dhammasabhāyaṃ kathaṃ samuṭṭhāpesuṃ, “āvuso, ciñcamāṇavikā evaṃ uḷāraguṇaṃ aggadakkhiṇeyyaṃ sammāsambuddhaṃ abhūtena akkositvā mahāvināsaṃ pattā”ti. Satthā āgantvā “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā”ti pucchitvā “imāya nāmā”ti vutte “na, bhikkhave, idāneva, pubbepi esā maṃ abhūtena akkositvā vināsaṃ pattāyevā”ti vatvā –

“Nādaṭṭhā parato dosaṃ, aṇuṃ thūlāni sabbaso;
Issaro paṇaye daṇḍaṃ, sāmaṃ appaṭivekkhiyā”ti. –

Imaṃ dvādasanipāte mahāpadumajātakaṃ (jā. 1.12.106) vitthāretvā kathesi –

Tadā kiresā mahāpadumakumārassa bodhisattassa mātu sapattī rañño aggamahesī hutvā mahāsattaṃ asaddhammena nimantetvā tassa manaṃ alabhitvā attanāva attani vippakāraṃ katvā gilānālayaṃ dassetvā “tava putto maṃ anicchantiṃ imaṃ vippakāraṃ pāpesī”ti rañño ārocesi. Rājā kuddho mahāsattaṃ corapapāte khipi. Atha naṃ pabbatakucchiyaṃ adhivatthā devatā paṭiggahetvā nāgarājassa phaṇagabbhe patiṭṭhapesi. Nāgarājā taṃ nāgabhavanaṃ netvā upaḍḍharajjena sammānesi. So tattha saṃvaccharaṃ vasitvā pabbajitukāmo himavantappadesaṃ patvā pabbajitvā jhānābhiññāyo nibbattesi. Atha naṃ eko vanacarako disvā rañño ārocesi. Rājā tassa santikaṃ gantvā katapaṭisanthāro sabbaṃ taṃ pavattiṃ ñatvā mahāsattaṃ rajjena nimantetvā tena “mayhaṃ rajjena kiccaṃ natthi, tvaṃ pana dasa rājadhamme akopetvā agatigamanaṃ pahāya dhammena rajjaṃ kārehī”ti ovadito uṭṭhāyāsanā roditvā nagaraṃ gacchanto antarāmagge amacce pucchi – “ahaṃ kaṃ nissāya evaṃ ācārasampannena puttena viyogaṃ patto”ti? “Aggamahesiṃ nissāya, devā”ti. Rājā taṃ uddhaṃpādaṃ gahetvā corapapāte khipāpetvā nagaraṃ pavisitvā dhammena rajjaṃ kāresi. Tadā mahāpadumakumāro satthā ahosi, mātu sapattī ciñcamāṇavikāti.

Satthā imamatthaṃ pakāsetvā, “bhikkhave, ekaṃ dhammañhi saccavacanaṃ pahāya musāvāde patiṭṭhitānaṃ vissaṭṭhaparalokānaṃ akattabbapāpakammaṃ nāma natthī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Ekaṃ dhammaṃ atītassa, musāvādissa jantuno;
Vitiṇṇaparalokassa, natthi pāpaṃ akāriya”nti.

Tattha ekaṃ dhammanti saccaṃ. Musāvādissāti yassa dasasu vacanesu ekampi saccaṃ natthi, evarūpassa musāvādino. Vitiṇṇaparalokassāti vissaṭṭhaparalokassa. Evarūpo hi manussasampattiṃ devasampattiṃ avasāne nibbānasampattinti imā tissopi sampattiyo na passati. Natthi pāpanti tassa evarūpassa idaṃ nāma pāpaṃ akattabbanti natthi.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.

Ciñcamāṇavikāvatthu navamaṃ.

XIII. 9. Ciñcā falsely accuses the Buddha

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

176. If a man break one commandment, if he speak lies,
If he abandon the next world, there is no evil deed he will not commit.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Ciñcā Māṇavikā.

For in the First Period of Enlightenment the disciples of the Possessor of the Ten Forces multiplied and gods and men innumerable descended upon Holy Ground. And as the sum of his virtues became noised abroad, rich gain and high honor were bestowed upon him. But as for the heretics, lost to them were gain and honor alike, even as fireflies lose their brilliance before the coming of the sun. And they gathered in the street and cried out, “Is the monk Gotama the only Buddha? We also are Buddhas! Does that alone which is given to him yield abundant fruit?” That which is given to us returns abundant fruit also. Therefore to us do ye give alms; upon us do ye bestow honor.” With such words as these did they appeal to the multitude, but for all their appeals, they got neither gain nor honor the more. Accordingly they met together in secret and considered within themselves, “By what means can we cast reproach upon the monk Gotama before men and so put an end to the gain and honor bestowed upon him?”

Now at that time there lived in Sāvatthi a certain wandering nun named Ciñcā Māṇavikā. She possessed surpassing beauty and loveliness; a very celestial nymph was she; from her body proceeded forth rays of light. Now a certain harsh counselor made this proposal, “With the assistance of this woman we shall be able to cast reproach upon the monk Gotama, and so put an end to the gain and honor bestowed upon him.” “That is the way!” exclaimed the heretics, agreeing to his proposal.

Ciñcā Māṇavikā went to the monastery of the heretics, saluted them, and stood waiting; but the heretics had nothing to say to her. Thereupon she said, “What fault do you find in me?” This question she repeated three times; then she said, “Noble sirs, I appeal to you for an answer. Noble sirs, what fault do you find in me? Why do you not speak to me?” “Sister,” replied the heretics, “know you not the monk Gotama, who goes about doing us harm, depriving us of gain and honor alike?” “No, noble sirs, I know him not; but is there anything I can do to help you in this matter?” “Sister, if you wish us well, summon up your resources, contrive to cast reproach upon the monk Gotama, and so put an end to the gain and honor bestowed upon him.” “Very well, noble sirs,” replied Ciñcā Māṇavikā, “I will take all the responsibility; have no anxiety as to the outcome.” So saying, she departed.

From that time on, she employed all of her skill in the arts of a woman to effect her purpose. When the residents of Sāvatthi were returning from Jetavana after listening to the Law, she would put on a cloak of the color of cochineal, and bearing perfumes and garlands in her hands, would walk in the direction of Jetavana. “Where are you going at this time of day?” people would ask her. “What business of yours is it where I am going?” she would reply. She would spend the night near Jetavana at the monastery of the heretics, and early the following morning, when throngs of lay disciples were coming out of the city for the purpose of rendering the morning greeting to the Teacher, she would wend her way back and reenter the city. “Where have you spent the night?” people would ask her. “What business of yours is it where I have spent the night?” she would reply.

After the lapse of a month and a half, whenever they asked her this question, she would reply, “I spent the night at Jetavana alone with the monk Gotama in the Perfumed Chamber.” And by her answer she caused doubts and misgivings to spring up in the minds of those who were as yet unconverted. And, they said to themselves, “Is this true, or is it false?” When three or four months had gone by, she wrapped her belly about with bandages, to create the impression that she was pregnant, and dressing herself in a scarlet cloak, she went about, saying, “I have conceived a child by the monk Gotama.” Thus did she deceive utter simpletons.

When eight or nine months had gone by, she fastened a disk of wood to her belly, drew a cloak over it, produced swellings all over her body by pounding her hands and feet and back with the jaw-bone of an ox, and pretending to be physically exhausted, went one evening to the Hall of Truth and stood before the Tathāgata. There, in his gloriously adorned Seat of Truth, sat the Tathāgata, preaching the Law. And standing there before him, Ciñcā Māṇavikā opened her lips and reviled him, saying,

“Mighty monk, mighty is the throng to which you preach the Law; sweet is your voice, soft are your lips. Nevertheless you are the one by whom I have conceived a child, and the time of my delivery is near at hand. But in spite of all this, you make no effort to provide a lying-in chamber for me, nor do you offer to provide me with ghee and oil and such other things as I need. And failing yourself to attend to this your duty, neither do you say to any one of your supporters, the king of Kosala, or Anāthapiṇḍika, or Visākhā, your eminent female lay disciple, ‘Do for this young woman what should be done for her.’ You know well enough how to take your pleasure, but you know not how to look after the child you have begotten.” Thus did she revile the Tathāgata in the midst of the congregation, even as a woman with a mass of dung in her hand might seek therewith to defile the face of the moon.

The Tathāgata stopped his discourse, and roaring like a lion, cried out, “Sister, as to whether what you have said be true or false, that is something which only you and I know.” “Yes, mighty monk, but who are to decide between the truth and the falsehood of what is known only to you and to me?” At that moment Sakka’s seat showed signs of heat. Thereupon Sakka pondered the cause, and became aware of the following, “Ciñcā Māṇavikā is falsely accusing the Tathāgata.” Thereupon Sakka said to himself, “I will clear up this matter,” and forthwith set out with four deities. The deities turned themselves into little mice. With one bite of their teeth these little mice severed the cords with which the disk of wood was fastened to the belly of the woman. At that moment the wind blew up the cloak which was wrapped about her, and the disk of wood fell upon her feet, cutting off the toes of both of her feet.

Thereupon the multitude cried out, “A hag is reviling the Supremely Enlightened.” Forthwith they spat on her head, and taking clods of earth and sticks in their hands, drove her out of the Jetavana. As she passed out of sight of the Tathāgata, the great earth split apart, an abyss opened under her feet, and flames shot up from the Avīci Hell. Thus was she swallowed up, enveloped as it were in a scarlet blanket such as is presented by wealthy families, and reborn in the Avīci Hell. From that time the gain and honor of the heretics decreased, but the offerings presented to the Possessor of the Ten Forces increased more and more.

On the following day the monks began a discussion in the Hall of Truth: “Brethren, Ciñcā Māṇavikā, because she falsely accused the Possessor of Eminent Virtues, the Foremost Recipient of Offerings, the Supremely Exalted, came to utter ruin.” The Teacher approached and asked, “Monks, what are you sitting here now talking about?” When they told him, he said, “Monks, this is not the first time she has falsely accused me and come to utter ruin; she did the same thing in a previous state of existence also.” Having thus spoken, he said,

Unless a king discern clearly fault on the part of another,
After himself investigating carefully all of the facts.
Both small and great, he should not inflict punishment

So saying, he related in detail this Mahā Paduma Jātaka, found in the Twelfth Nipāta.

9 a. Story of the Past: The lewd woman and the virtuous youth

At that time, it appears, Ciñcā Māṇavikā was reborn as one of the chief consorts of the king, fellow-wife of the mother of the Future Buddha, Prince Mahā Paduma. She invited the Great Being to lie with her, and when he refused to do so, disfigured her own body with her own hands, feigned sickness, and told the king, “Your son brought me to this pass because I would not lie with him.” The king, hearing this, was filled with rage, and straightway flung the Great Being down Robbers’ Cliff. The deity dwelling in the mountain chasm cared for him and placed him safe and sound within the hood of the King of the Dragons. The King of the Dragons carried him to the Abode of the Dragons and honored him by conferring upon him half his kingly power. After the Great Being had dwelt there for a year, he conceived a desire to adopt the life of a religious. Accordingly he went to the Himālaya country, adopted the life of a religious, and in the course of time developed by the practice of Ecstatic Meditation the Supernatural Faculties.

Now a certain forester happened to see him there and reported the matter to the king. Thereupon the king went to him, exchanged friendly greetings with him, learned what had happened, and offered to bestow his kingdom upon the Great Being. The Great Being, however, declined his offer and admonished him as follows, “For my part, I have no desire to rule. But as for you, do you keep unimpaired the Ten Royal Virtues, avoid evil courses, and rule your kingdom justly.” Thereupon the king arose from his seat in tears and went back to the city. On the way thither he asked his ministers, “Through whose fault was I separated from one endowed with such uprightness?” “Your chief consort was to blame for this, your majesty.” Thereupon the king had her taken by the heels and flung head foremost down Robbers’ Cliff. And entering his city, thenceforth he ruled his kingdom justly. At that time Prince Mahā Paduma was the Great Being, and the fellow-wife of his mother was Ciñcā Māṇavikā. End of Story of the Past.

When the Teacher had made this matter clear, he said, “Monks, in the case of those who have broken one commandment, those who have ceased to speak the truth, who have become confirmed in falsehood, who have abandoned hope of the next world, there is no evil deed which they will not commit.” So saying, he pronounced the following Stanza,

176. If a man break one commandment, if he speak lies,
If he abandon the next world, there is no evil deed he will not commit.

  1. The Story of the Present is almost word for word the same as the Introduction to Jātaka 472: iv. 187-189. Cf. Hardy, Manual of Buddhism, pp. 284-286. Of the story of Prince Paduma and the queen, only a brief outline is given. Cf. the story of Sundarī, xxxii. 1; also Feer’s comparative study of the stories of Ciñcā and Sundarī in JA., 1897, 288-317. Text: N iii. 178-183.
  2. Jātaka 472: iv. 189-196.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp có dẫn kệ này