Tích Đại Thí Vô Song
Asadisadānavatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 177 Kinh Pháp Cú, phẩm Thế Gian, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 177)
“Na ve kadariyā devalokaṃ vajanti,
Bālā have nappasaṃsanti dānaṃ;
Dhīro ca dānaṃ anumodamāno,
Teneva so hoti sukhī parattha.”
Keo kiết không sanh thiên,
Kẻ ngu ghét bố thí,
Người trí thích bố thí,
Đời sau, được hưởng lạc.”
(Ngài HT Minh Châu)
Kệ ngôn Pháp cú nầy được Đức Thế Tôn thuyết lên, khi Ngài trú tại Jetavana, đề cập đến cuộc đại thí vô song của Vua Pasenadi.
Tương truyền rằng: Một thời nọ, sau khi Đức Thế Tôn cùng chư Tỳ Khưu đi du hóa, rồi Ngài trở về trú tại Jetavana gần thành Sāvatthī. Bấy giờ, Đức Vua Pasenadi đi đến Tịnh xá, bạch thỉnh rằng:
- Bạch Thế Tôn! Xin thỉnh Đức Thế Tôn cũng chư Tăng ngự đến Hoàng cung của Trẫm thọ thực vào ngày mai.
Đức Thế Tôn im lặng nhận lời, Đức Vua trở về Hoàng Cung. Vào sáng hôm sau, Ngài cho chuẩn bị mọi vật thực thượng vị để cúng dường, loan truyền trong thần dân rằng:
- Hãy đến xem sự cúng dường của Vua Pasenadi Kosala.
Dân chúng tề tự đến Hoàng cung, chứng kiến sự cúng dường của Đức Vua. Rồi đại chúng đi đến Tịnh xá bạch thỉnh Đức Thế Tôn cùng chư kỳ khưu nhận lời thọ thực vào Ngài mai của thị dân Sāvatthī.
Vào sáng hôm sau, khi đã chuẩn bị đầy đủ mọi vật thí thượng vị, đại chúng đến tâu với Đức Vua rằng:
- Tâu Bệ Hạ! Xin thỉnh Bệ Hạ ngự đến xem chúng thần cúng dường Đức Thế Tôn và chư Tăng.
Sự cúng dường của thị dân hơn hẳn Đức Vua ngày hôm trước. Khi Đức Vua ngự đến xem, thấy thế nghĩ rằng:
“Dân chúng cúng dường hơn cả ta rồi. Một vị Vua như ta không thể thua chúng thần dân”
Thế là, Đức Vua bạch xin cúng dường Tăng chúng có Đức Phật là vị Thượng Thủ vào ngày mai.
Đức Vua lại cúng dường hơn thị dân Sāvatthī, cứ như thế cuộc tranh tài về thí sự giữa thị dân và Đức Vua kéo dài đến 6 lần. Đến lần thứ bảy thì chúng thị dân dốc tất cả tài lực vào cuộc đại thí, cuộc cúng dường của thị dân vô cùng long trọng, không ai có thể phàn nàn rằng: Trong cuộc đại thí nầy thiếu đi loại vật được chúng dân đem đến cúng dường.
Đức Vua kinh hoàng trước đức tin của thị dân, Ngài suy nghĩ:
- Nếu sự cúng dường của ta mà thua kém chúng dân thì ta còn mặt mũi nào làm Chúa của họ được chứ.
Đức Vua cứ băn khoăn, suy nghĩ tìm phương cách bố thí hơn thị dân Sāvatthī. Bấy giờ, Hoàng Hậu Mallikā đi vào yết kiến Đức Vua, thấy Ngài đang đăm chiêu suy nghĩ, bà hỏi rằng:
- Tâu Bệ Hạ! Vì sao Ngài ũ rũ như thế? Vì sao Long Thể của Bệ Hạ có vẻ dã dượi như thế nầy?
- Nầy Hậu! Hậu chưa biết việc chi hay sao?
- Tâu Bệ Hạ! Thần thiếp nào biết được việc gì đâu?
Đức Vua tường thuật lại cuộc thi tài cúng dường giữa mình với thị dân, đã trãi qua 6 lần bất phân thắng bại cho Hoàng Hậu nghe tận tường. Bấy giờ, Hoàng Hậu tâu rằng:
- Tâu Thánh thượng! Xin Ngài chớ nhọc tâm suy nghĩ nữa. Lẽ thường là vị Chúa tất phải hơn chúng dân chứ. Ngài hãy nghe và biết như thế đi, thần thiếp sẽ giúp Bệ Hạ thắng cuộc trong thí sự nầy.
Hoàng hậu tâu với Đức Vua như thế, vì nàng muốn rằng sự cúng dường tối thắng nầy do bà sắp xếp, sự cúng dường nầy là cuộc đại thí sự không một thí sự nào có thể sánh bằng.
- Tâu Đại Vương! Xin Ngài hãy cho làm nhà Trai đường bằng cây quí, nền được san bằng phẳng, mái nhà là cây mà phải là cây Sôla mới được. Trai thí đường nầy rộng rãi, đủ chỗ cho Đức Thế Tôn cùng 500 vị Tỳ Khưu ngồi theo thứ lớp cao thấp được phân theo hạ lạp. Bên ngoài là sân rộng dành cho đại chúng. Hãy cho làm 500 cây lọng trắng, lọng che Đức Thế Tôn là lọng hai tầng, còn những vị Tỳ Khưu là lọng một tầng. Chọn 500 thớt tượng thuần hóa để cầm lọng che cho các Ngài. Cho làm từ 8 đến 10 chiếc thuyền vàng đặt giữa trai đường, trong thuyền ấy chứa đầy hương trầm Chiên Đàn được tán nhuyển, cho những nàng Công Nương đứng quanh thuyền, dùng hoa sen xanh để rãi hương thơm Chiên Đàn cúng dường Đức Phật và chư Tăng, cho mỗi vị Công Nương đứng quạt hầu hai vị Tỳ Khưu và rãi hương hoa cúng dường khắp hướng. Những vị Công Chúa trẻ tuổi sẽ mang vật thơm được tán nhuyễn đổ vào thuyền. Mùi hương thơm sẽ thơm ngát ngôi trai thí đường ấy. Rồi Đại Vương cho dâng những vật thực có đầy đủ hương vị tối thắng đến Đức Thế Tôn cùng chư Tăng. Như thế, Bệ Hạ sẽ thắng cuộc vì thị dân làm sao có được voi thuần hóa, cũng không thể có những Công Nương xinh đẹp trang điểm lộng lẫy phục vụ chư Tăng và Đức Thế Tôn. Xin Thánh thượng hãy thực hiện như thế đi.
- Lành thay! Lành thay, nầy Ái Hậu.
Đức Vua thực hiện y theo lời của Hoàng Hậu Mallikà, mọi việc tiến hành được thuận lợi và tốt đẹp. Chỉ riêng về tượng chiến thì chỉ có được 499 con là thuần hóa, có thể điều khiển voi dùng vòi quấn lọng hầu chư Tăng mà thôi. Đức Vua bối rối, hỏi Hoàng Hậu rằng:
- Nầy Hậu! Voi chiến thuần hóa chỉ có được 499 con thôi, thiếu mất một con, vậy Trẫm phải xử trí ra sao bây giờ?
- Tâu Bệ Hạ, không có đủ 500 voi chiến sao?
- Nầy Hậu, tượng chiến thì có nhiều, nhưng tượng được thuần hóa rồi chỉ có 499 con thôi. Lại nữa, có con tượng rất hung dữ, e rằng nó sẽ nổi cơn hung bạo như cuồng phong, làm hại đến chư Tỳ Khưu.
- Tâu Bệ Hạ! Thần thiếp biết cách, sắp xếp hung tượng ấy vào đâu rồi. Bệ Hạ hãy cho hung tượng ấy đứng cầm lọng hầu Ngài Angulimāla đi.
Đức Vua y theo lời của Hoàng hậu Mallikà. Khi hung tượng cầm lọng đứng hầu Trưởng Lão Angulimāla thì nó trở nên hiền thục như đã từng được dày công huấn luyện. Nó cúp đuôi vào hai chân sau, hai tai phe phẩy, đứng ôm lọng nhắm mắt che cho Trưởng Lão Angulimāla. Chúng thị dân trông thấy như thế, suy nghĩ rằng:
- Tượng nầy có tiếng là hung dũ bậc nhất, thế mà Trưởng Lão Angulimāla chinh phục được tượng hung hãn ấy.
Đức Vua sau khi cúng dường vật thực thượng vi loại cứng loại mềm đến chư Tăng rồi cung kính đảnh lễ Đức Thế Tôn và chư tăng. Trãi qua 7 ngày như thế, đến ngày thứ bảy thì Đức Vua bạch rằng:
- Bạch Thế Tôn! Trong cuộc đại thí vật trọng thể nầy, ngoài những vật bất hợp lẽ, vật nào dâng cúng hợp pháp Trẫm xin cúng dường tất cả đến Đức Thế Tôn và chư Tỳ Khưu Tăng.
Người ta bảo rằng: Trong cuộc đại thí ấy, Đức Vua đã tiêu hết 14 koti tiền vàng trong một ngày. Cả bốn vật là: Lọng, Bảo tọa, chân bát và bệ kê chân dành cho Đức Phật và chư Tăng Tỳ Khưu đều là những vật vô giá toàn bằng vàng ròng cả. Không một ai có thể cúng dường thí vật tối thắng hơn Vua Pasenadi được và trong đời Đức Phật hiện tiền (kể cả chư Phật quá khứ) các Ngài chỉ có một lần Đại thí vô song mà thôi. Và cũng phải do người nữ sắp xếp (sự cúng dường ấy) đến Bậc Đạo Sư được thành tựu viên mãn.
Đức Vua Pasenadi có hai vị quan Đại Thần là Kāla và Junha. Vị Đại Thần Kāla có sự suy nghĩ thấp kém rằng:
- Ôi! Sự tổn hại đã đến và vây Hoàng Tộc rồi, Đức Vua đã bỏ ra 14 Koti tiền vàng trong mỗi ngày cho đại thí nầy, cúng dường đến các vị Sa môn ấy, khi các vị ấy chỉ có ăn rồi ngủ mà thôi. Công khổ của Hoàng Tộc sẽ đi đến chỗ suy vong mất. Hoàng Tộc có sự tổn hại như vầy rồi.
Riêng Đại Thần Junha thì hoan hỷ, nghĩ rằng:
- Sự cúng dường của Đức Vua thật là thù diệu và hy hữu, ngoài Ngài ra không một ai có thể cúng dường thí vật cao thương được như thế nữa. Đức Vua không chia phần phước báu của mình đến các chúng sanh, việc như thế sẽ không hề có đến cho Ngài đâu. Vậy ta hãy hoan hỷ với phước báu cao thượng của Đức Vua Pasenadi.
Khi Đức Thế Tôn cùng chư Tỳ Khưu đã thọ thực xong, tay rời khỏi miệng bát, đã ngăn vật thực. Đức Vua đến nhận bát và lời phúc chúc tùy hỷ nơi Bậc Đạo Sư, Đức Thế Tôn suy nghĩ:
- Đức Vua cúng dường Đại thí như vầy, ví như giòng nước lớn được khai mở, nhưng đại chúng hoan hỷ không nhỉ?
Ngài dùng trí quán xét, thấy được hai nguồn tư tưởng của hai vị Đại Thần, và quán tiếp Ngài thấy rằng: “Nếu Như Lai tùy hỷ phước cho xứng đáng với phước báu của Đức Vua, thì Đại Thần Kāla sẽ vỡ tim, đầu bị bể thành bảy mãnh mà chết. Trái lại Đại thần Junha sẽ chứng đạt Dự Lưu Quả”
Với tâm đại bi đối với Đại thần Kāla, Ngài chỉ tùy hỷ phước bằng bốn kệ ngôn ngắn, rồi từ nơi ngồi đứng dậy cùng Tăng chúng trở về Tịnh xá. Khi về đến Jetavana, chư Tỳ Khưu hỏi Trưởng Lão Angulimāla rằng:
- Nầy Hiền giả! Hiền giả thấy con tượng hung dữ ấy, đứng cầm lọng che cho mình như thế, Hiền giả có hãi kinh chăng?
- Nầy chư Hiền! Tôi không có sự sợ hãi đó đâu.
Chư Tỳ Khưu cho rằng Trưởng Lão là người khoe Thượng Nhân Pháp, là đạo quả A La Hán, nên trình bạch với Đức Thế Tôn rằng:
- Bạch Thế Tôn! Tỳ Khưu Angulimāla đã nói điều phi chân, sai với ý của mình.
- Nầy các Tỳ Khưu! Angulimāla hằng không còn kinh sợ nữa, con của Như Lai giống như Ngưu Vương giữa đàn bò, tức là đồng với Bậc Vô Lậu rồi.
Ngài thuyết lên kệ ngôn (trong phẩm Bà La Môn) rằng:
“Ta nói rằng: Người dũng cảm, cao thượng, hùng dũng, người tầm cầu ân đức lớn, người chiến thắng đặc biệt, người không rúng động, người đã rửa sạch (mọi ô nhiễm) người đã giác ngộ, đó gọi là Bà La Môn”
Riêng Đức Vua Pasenadi u sầu khi nghe Đức Thế Tôn chỉ tùy hỷ phước bằng bốn câu kệ ngắn, rằng:
“Bậc Đạo Sư đã không tùy hỷ phước xứng đáng với sự cúng dường của ta, giữa hội chúng Ngài chỉ thuyết lên có bốn câu kệ ngôn vắn tắt như thế, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy ra về. Có lẽ ta đã thất kính với Đức Đạo Sư, đã cúng dường bất xứng đến Ngài rồi chăng? Có phải chăng ta đã làm cho Ngài không hoan hỷ. Lẽ ra Ngài sẽ tùy hỷ phước xứng đáng với đại thí nầy rồi. Vì Ngài hằng tùy hỷ xứng đáng với những ai hằng hành đại thí hạnh kia mà.”
Đức Vua đi đến Tịnh xá Jetavana, vào đảnh lễ Đức Thế Tôn, xong rồi bạch hỏi rằng:
- Bạch Thế Tôn! Có phải Trẫm cúng dường vật không thích hợp chăng? Hay là vật cúng dường của Trẫm không được thanh tịnh? Hoặc Trẫm chỉ cúng dường vật bất xứng còn vật thích hợp lại không cúng dường?
- Tâu Đại Vương! Vì sao Đại Vương lại hỏi Như Lai như thế?
- Bạch Thế Tôn! Vì Trẫm thấy Ngài tùy hỷ phước đại thí chỉ bốn kệ ngôn ngắn.
- Nầy Đại Vương! Đại Vương đã cúng dường đại thí vật Vô song. Đó là sự cúng dường thí vật không sự cúng dường thí vật nào có thể so sánh được. Trong đời chư Phật chỉ có một lần Vô Song Thí như thế thôi. Lẽ thường, đại thí như thế, người thường khó làm.
- Nếu sự kiện là như thế, vì sao Đức Thế Tôn lại không, phúc chúc cho xứng với đại thí như thế.
- Nầy Đại Vương! Vì trong hội chúng của Đại Vương không được trong sạch.
- Bạch Thế Tôn! Vậy trong hội chúng có lầm lỗi chi thế?
Đức Thế Tôn thuật lại hai ý nghĩ của Đại Thần Kāla và Đại Thần Junha, rồi cho Vua biết rằng với tâm đại bi mẫn đối với Kāla, nên Ngài chỉ chúc phước ngắn gọn bằng bốn câu kệ mà thôi.
Được nghe như thế, Đức Vua trở về Hoàng Cung cho đòi Đại Thần Kāla đến, hỏi rằng:
- Nầy Kāla khanh! Được biết rằng khanh có ý nghĩ như thế, như thế phải chăng?
- Tâu Đại Vương! Có thật như thế.
- Nầy khanh! Ta và Hoàng Tộc đâu có dùng tài sản của khanh hay của gia tộc khanh để cúng dường, Trẫm cũng không có làm điều chi khiến khanh buồn phiền cả. Vậy thì, tài sản nào mà Trẫm đã ban cho khanh, khanh hãy mang theo đi, khanh hãy rời khỏi Vương Quốc của Trẫm.
Đức Vua sau khi tần xuất Đại Thần Kāla ra khỏi Vương quốc rồi, Ngài cho gọi Junha đến phán hỏi rằng:
- Được nghe rằng khanh có được ý nghĩ như thế phải chăng?
- Tâu Bệ Hạ! Vâng.
- Lành thay! Lành thay, Trẫm rất hành lòng về khanh, Trẫm sẽ ban cho khanh ngôi vị Quốc Vương trong 7 ngày, khanh toàn quyền xuất cửa kho ra hành thí hạnh như Trẫm đã làm.
Đức Vua Pasenadi giao vương quốc cho Đại Thần Junha trị vì 7 ngày. Rồi Đức Vua đến trình lên Đức Thế Tôn việc làm của mình, bạch rằng: “Bạch Thế Tôn! Xin Ngài hãy nhìn thấy hậu quả xấu của kẻ cuồng si kia, y đã khinh thường sự tín thí của Trẫm cúng dường như thế đấy.
Đức Đạo Sự phán rằng:
- Thật vậy, nầy Đại Vương! Kẻ ngu không hoan hỷ với thí hạnh của kẻ khác, là người sẽ nhận lấy khổ cảnh sau nầy. Còn Bậc Đại trí có sự hoan hỷ thí hạnh của kẻ khác nên nhận được thiên giới sau nầy vậy.
Rồi Ngài thuyết lên kệ ngôn rằng:
“Na ve kadariyā devalokaṃ vajanti,
Bālā have nappasaṃsanti dānaṃ;
Dhīro ca dānaṃ anumodamāno,
Teneva so hoti sukhī parattha.”
“Keo kiết không sanh thiên,
Kẻ ngu ghét bố thí,
Người trí thích bố thí,
Đời sau, được hưởng lạc.”
(Ngài HT Minh Châu)
177. Đúng như vậy, người hà tiện không lên cảnh trời. Kẻ cuồng si không tán dương đức quảng đại.
Người thiện trí hoan hỷ bố thí, do đó được hạnh phúc về sau.
CHÚ GIẢI:
Kadariyā: Nghĩa là người có sự bỏn xẻn, rón rít. Người không biết lợi ích đời nầy và đời sau, gọi là ngu nhân.
Sukhī parattha: Nghĩa là Bậc trí khi thọ hưởng Thiên sản, gọi là người có sự an lạc về sau, vì chính do quả phước tùy hỷ về sự bố thí đó.
Dứt kệ ngôn, Đại Thần Junha chứng đắc Pháp Nhân. Pháp thoại mang lại lợi ích cho Đại chúng như thế.
Đại Thần Junha đã cúng dường đến Đức Thế Tôn cùng chư Tăng trọn cả 7 ngày như Đức Vua Pasenadi thường làm.
Vua với dân thành gắng sức đua,
Trai tăng làm phước, chẳng ai thua.
Nhờ bà Mạt lỵ bày mưu chước,
Dân chẳng làm hơn nỗi Đức Vua.
Trong lễ trai tăng bất nhị này,
Năm trăm voi, lọng hộ tăng thầy,
Thêm ban chiêu đãi giòng vương giả.
Vật thực, hương hoa, cúng đủ đầy.
Dầu Vua thiết lễ tốn nhiều tiền
Phật chẳng khen theo lẽ tự nhiên,
Vì có Đại thần không đắc ý,
Sợ ông vỡ sọ phải quy thiên.
Phật dạy: trai tăng phước thật nhiều,
Người tâm tùy hỉ cũng đồng siêu,
Kẻ ngu bón rít, không khen tặng
Lợi ích không cầu, hoạ hại chiêu!
DỨT TÍCH ĐẠI THÍ VÔ SONG
Asadisadānavatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Na ve kadariyāti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto asadisadānaṃ ārabbha kathesi.
Ekasmiñhi samaye satthā cārikaṃ caritvā pañcasatabhikkhuparivāro jetavanaṃ pāvisi. Rājā vihāraṃ gantvā satthāraṃ nimantetvā punadivase āgantukadānaṃ sajjetvā “dānaṃ me passantū”ti nāgare pakkosi. Nāgarā āgantvā rañño dānaṃ disvā punadivase satthāraṃ nimantetvā dānaṃ sajjetvā “amhākampi dānaṃ, devo, passatū”ti rañño pahiṇiṃsu. Rājā tesaṃ dānaṃ disvā “imehi mama dānato uttaritaraṃ kataṃ, puna dānaṃ karissāmī”ti punadivasepi dānaṃ sajjesi. Nāgarāpi taṃ disvā punadivase sajjayiṃsu. Evaṃ neva rājā nāgare parājetuṃ sakkoti, na nāgarā rājānaṃ. Atha chaṭṭhe vāre nāgarā sataguṇaṃ sahassaguṇaṃ vaḍḍhetvā yathā na sakkā hoti “idaṃ nāma imesaṃ dāne natthī”ti vattuṃ, evaṃ dānaṃ sajjayiṃsu. Rājā taṃ disvā “sacāhaṃ imesaṃ dānato uttaritaraṃ kātuṃ na sakkhissāmi, kiṃ me jīvitenā”ti upāyaṃ cintento nipajji. Atha naṃ mallikā devī upasaṅkamitvā, “kasmā, mahārāja, evaṃ nipannosi, kena te indriyāni kilantāni viyā”ti pucchi. Rājā āha – “na dāni tvaṃ, devi, jānāsī”ti. “Na jānāmi, devā”ti. So tassā tamatthaṃ ārocesi.
Atha naṃ mallikā āha – “deva, mā cintayi, kahaṃ tayā pathavissaro rājā nāgarehi parājiyamāno diṭṭhapubbo vā sutapubbo vā, ahaṃ te dānaṃ saṃvidahissāmī”ti. Itissa asadisadānaṃ saṃvidahitukāmatāya evaṃ vatvā, mahārāja, sālakalyāṇipadarehi pañcannaṃ bhikkhusatānaṃ anto āvaṭṭe nisīdanamaṇḍapaṃ kārehi, sesā bahiāvaṭṭe nisīdissanti. Pañca setacchattasatāni kārehi, tāni gahetvā pañcasatā hatthī pañcannaṃ bhikkhusatānaṃ matthake dhārayamānā ṭhassanti. Aṭṭha vā dasa vā rattasuvaṇṇanāvāyo kārehi, tā maṇḍapamajjhe bhavissanti. Dvinnaṃ dvinnaṃ bhikkhūnaṃ antare ekekā khattiyadhītā nisīditvā gandhe pisissati, ekekā khattiyadhītā bījanaṃ ādāya dve dve bhikkhū bījamānā ṭhassati, sesā khattiyadhītaro pise pise gandhe haritvā suvaṇṇanāvāsu pakkhipissanti, tāsu ekaccā khattiyadhītaro nīluppalakalāpe gahetvā suvaṇṇanāvāsu pakkhittagandhe āloḷetvā vāsaṃ gāhāpessanti. Nāgarānañhineva khattiyadhītaro atthi, na setacchattāni, na hatthino ca. Imehi kāraṇehi nāgarā parājissanti, evaṃ karohi, mahārājāti. Rājā “sādhu, devi, kalyāṇaṃ te kathita”nti tāya kathitaniyāmena sabbaṃ kāresi. Ekassa pana bhikkhuno eko hatthi nappahosi. Atha rājā mallikaṃ āha – “bhadde, ekassa bhikkhuno eko hatthi nappahoti, kiṃ karissāmā”ti. “Kiṃ, deva, pañca hatthisatāni natthī”ti? “Atthi, devi, avasesā duṭṭhahatthino, te bhikkhū disvāva verambhavātā viya caṇḍā hontī”ti. “Deva, ahaṃ ekassa duṭṭhahatthipotakassa chattaṃ gahetvā tiṭṭhanaṭṭhānaṃ jānāmī”ti. “Kattha naṃ ṭhapessāmā”ti? “Ayyassa aṅgulimālassa santike”ti. Rājā tathā kāresi. Hatthipotako vāladhiṃ antarasatthimhi pakkhipitvā ubho kaṇṇe pātetvā akkhīni nimiletvā aṭṭhāsi. Mahājano “evarūpassa nāma caṇḍahatthino ayamākāro”ti hatthimeva olokesi.
Rājā buddhappamukhaṃ bhikkhusaṅghaṃ parivisitvā satthāraṃ vanditvā, “bhante, yaṃ imasmiṃ dānagge kappiyabhaṇḍaṃ vā akappiyabhaṇḍaṃ vā, sabbaṃ taṃ tumhākameva dammī”ti āha. Tasmiṃ pana dāne ekadivaseneva pariccattaṃ cuddasakoṭidhanaṃ hoti. Satthu pana setacchattaṃ nisīdanapallaṅko ādhārako pādapīṭhikāti cattāri anagghāneva. Puna evarūpaṃ katvā buddhānaṃ dānaṃ nāma dātuṃ samattho nāhosi, teneva taṃ “asadisadāna”nti paññāyi. Taṃ kira sabbabuddhānaṃ ekavāraṃ hotiyeva, sabbesaṃ pana itthīyeva saṃvidahati. Rañño pana kāḷo ca juṇho cāti dve amaccā ahesuṃ. Tesu kāḷo cintesi – “aho rājakulassa parihāni, ekadivaseneva cuddasakoṭidhanaṃ khayaṃ gacchati, ime imaṃ dānaṃ bhuñjitvā gantvā nipannā niddāyissanti, aho naṭṭhaṃ rājakula”nti. Juṇho cintesi – “aho rañño dānaṃ sudinnaṃ. Na hi sakkā rājabhāve aṭṭhitena evarūpaṃ dānaṃ dātuṃ, sabbasattānaṃ pattiṃ adento nāma natthi, ahaṃ panidaṃ dānaṃ anumodāmī”ti.
Satthu bhattakiccāvasāne rājā anumodanatthāya pattaṃ gaṇhi. Satthā cintesi – “raññā mahoghaṃ pavattentena viya mahādānaṃ dinnaṃ, asakkhi nu kho mahājano cittaṃ pasādetuṃ, udāhu no”ti. So tesaṃ amaccānaṃ cittācāraṃ ñatvā “sace rañño dānānucchavikaṃ anumodanaṃ karissāmi, kāḷassa muddhā sattadhā phalissati, juṇho sotāpattiphale patiṭṭhahissatī”ti ñatvā kāḷe anukampaṃ paṭicca evarūpaṃ dānaṃ datvā ṭhitassa rañño catuppadikaṃ gāthameva vatvā uṭṭhāyāsanā vihāraṃ gato. Bhikkhū aṅgulimālaṃ pucchiṃsu – “na kiṃ nu kho, āvuso, duṭṭhahatthiṃ chattaṃ dhāretvā ṭhitaṃ disvā bhāyī”ti? “Na bhāyiṃ, āvuso”ti. Te satthāraṃ upasaṅkamitvā āhaṃsu – “aṅgulimālo, bhante, aññaṃ byākarosī”ti. Satthā “na, bhikkhave, aṅgulimālo bhāyati. Khīṇāsavausabhānañhi antare jeṭṭhakausabhā mama puttasadisā bhikkhū na bhāyantī”ti vatvā brāhmaṇavagge imaṃ gāthamāha –
“Usabhaṃ pavaraṃ vīraṃ, mahesiṃ vijitāvinaṃ;
Anejaṃ nhātakaṃ buddhaṃ, tamahaṃ brūmi brāhmaṇa”nti. (dha. pa. 422; su. ni. 651);
Rājāpi domanassappatto “evarūpāya nāma parisāya dānaṃ datvā ṭhitassa mayhaṃ anucchavikaṃ anumodanaṃ akatvā gāthameva vatvā satthā uṭṭhāyāsanā gato. Mayā satthu anucchavikaṃ dānaṃ akatvā ananucchavikaṃ kataṃ bhavissati, kappiyabhaṇḍaṃ adatvā akappiyabhaṇḍaṃ vā dinnaṃ bhavissati, satthārā me kupitena bhavitabbaṃ. Evañhi asadisadānaṃ nāma, dānānurūpaṃ anumodanaṃ kātuṃ vaṭṭatī”ti vihāraṃ gantvā satthāraṃ vanditvā etadavoca – “kiṃ nu kho me, bhante, dātabbayuttakaṃ dānaṃ na dinnaṃ, udāhu dānānurūpaṃ kappiyabhaṇḍaṃ adatvā akappiyabhaṇḍameva dinna”nti. “Kimetaṃ, mahārājā”ti? “Na me tumhehi dānānucchavikā anumodanā katā”ti? “Mahārāja, anucchavikameva te dānaṃ dinnaṃ. Etañhi asadisadānaṃ nāma, ekassa buddhassa ekavārameva sakkā dātuṃ, puna evarūpaṃ nāma dānaṃ duddada”nti. “Atha kasmā, bhante, me dānānurūpaṃ anumodanaṃ na karitthā”ti? “Parisāya asuddhattā, mahārājā”ti. “Ko nu kho, bhante, parisāya doso”ti? Athassa satthā dvinnampi amaccānaṃ cittācāraṃ ārocetvā kāḷe anukampaṃ paṭicca anumodanāya akatabhāvaṃ ācikkhi. Rājā “saccaṃ kira te, kāḷa, evaṃ cintita”nti pucchitvā “sacca”nti vutte “tava santakaṃ aggahetvā mama puttadārehi saddhiṃ mayi attano santakaṃ dente tuyhaṃ kā pīḷā. Gaccha, bho, yaṃ te mayā dinnaṃ, taṃ dinnameva hotu, raṭṭhato pana me nikkhamā”ti taṃ raṭṭhā nīharitvā juṇhaṃ pakkosāpetvā “saccaṃ kira te evaṃ cintita”nti pucchitvā “sacca”nti vutte, “sādhu, mātula, pasannosmi, tvaṃ mama parijanaṃ gahetvā mayā dinnaniyāmeneva satta divasāni dānaṃ dehī”ti sattāhaṃ rajjaṃ niyyādetvā satthāraṃ āha – “passatha, bhante, bālassa karaṇaṃ, mayā evaṃ dinnadāne pahāramadāsī”ti. Satthā “āma, mahārāja, bālā nāma parassa dānaṃ anabhinanditvā duggatiparāyaṇā honti, dhīrā pana paresampi dānaṃ anumoditvā saggaparāyaṇā eva hontī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –
“Na ve kadariyā devalokaṃ vajanti, bālā have nappasaṃsanti dānaṃ;
Dhīro ca dānaṃ anumodamāno, teneva so hoti sukhī paratthā”ti.
Tattha kadariyāti thaddhamaccharino. Bālāti idhalokaparalokaṃ ajānanakā. Dhīroti paṇḍito. Sukhī paratthāti teneva so dānānumodanapuññena paraloke dibbasampattiṃ anubhavamāno sukhī hotīti.
Desanāvasāne juṇho sotāpattiphale patiṭṭhahi, sampattaparisāyapi sātthikā dhammadesanā ahosi, juṇhopi sotāpanno hutvā sattāhaṃ raññā dinnaniyāmeneva dānaṃ adāsīti.
Asadisadānavatthu dasamaṃ.
XIII. 10. Gifts beyond Compare
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
177. The niggardly go not to the World of the Gods; simpletons applaud not almsgiving;
But the wise man applauds almsgiving, and therefore wins happiness in the world beyond.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Gifts beyond Compare.
For once upon a time the Teacher returned from an alms-pilgrimage with his retinue of five hundred monks and entered the Jetavana. Thereupon the king went to the monastery and invited the Teacher to be his guest. On the following day he caused rich gifts to be prepared for the visiting monks and then summoned the citizens, saying, “Let them come hither and behold the gifts which I have prepared.” The citizens went thither and beheld the gifts which the king had prepared. On the following day the citizens invited the Teacher to be their guest, and having prepared offerings, sent word to the king, saying, “Let the king come hither and behold the offerings which we also have prepared.”
When the king saw the offerings which the citizens had prepared, he thought to himself, “These citizens have given more abundant offerings than I; I will therefore present offerings a second time.” Accordingly he prepared offerings on the following day; when the citizens saw the offerings which the king had prepared, they also prepared offerings on the next day. Thus it happened that neither the king was able to outdo the citizens, nor the citizens the king. Six times in succession the citizens increased the amount a hundredfold and a thousandfold, preparing offerings on such a scale that no one might be able to say, “This or that is lacking in their offerings.” When the king realized what they were doing, he thought to himself, “If I cannot provide offerings more abundant than these citizens, what is the use of my living any longer?” And he lay down, thinking over ways and means.
As he lay there. Queen Mallikā approached him and asked him, “Your majesty, why do you lie here thus? What makes you look so worn and weary?” Said the king, “My lady, do you not know?” Said the queen, “My lord, I do not know.” So the king told her all about it. Then said Queen Mallikā to him, “My lord, be not disturbed; have you ever seen or heard of a king, a lord of the land, who has been outdone by his subjects? I will manage the offerings.”
Thus spoke Queen Mallikā, and she spoke thus because she desired to provide Gifts beyond Compare. Then she said to the king,
“Great king, give orders for the erection of a pavilion inclosing a circular space wherein monks shall sit to the number of five hundred, and let this pavilion be constructed out of the choicest wood of the Sāl-tree; let the rest of the monks sit outside of this inclosed space. Order five hundred white parasols to be made, and let five hundred elephants take these parasols in their trunks and stand and hold them over the heads of the five hundred monks. Have eight or ten boats made of ruddy gold, and let them be placed in the center of the pavilion. Between every two monks let a young woman of the Warrior caste sit and crush perfumes. Let certain young women of the Warrior caste take fans in their hands, and let each young woman stand and fan two monks. Let other young women of the Warrior caste bring crushed perfumes in their hands and cast them into the golden boats. Let other young women of the Warrior caste bring clusters of blue water-lilies, mingle them with the perfumes cast into the golden boats, and present the monks with scents. Now the citizens have neither daughters belonging to the Warrior caste, nor white parasols, nor elephants, so that by these means the citizens will be outdone by you. This is what you must do, great king.” The king replied, “Good, my lady! Your plan is a most excellent one.” And forthwith he gave orders that everything should be done just as the queen suggested.
It happened, however, that one monk lacked an elephant. When the king observed this, he said to Mallikā, “Dear wife, a single monk lacks a single elephant. What shall I do?” “What say you, my lord? Are there not five hundred elephants?” “Yes, my lady, there are. But the rest are rogue elephants, and when they see the monks, they are wont to become as wrathful as the monsoon winds.” “My lord, I know where a certain young rogue elephant might stand, holding a parasol with his trunk.” “Where shall we place him?” “Beside Venerable Elder Aṅgulimāla.” The king did so. Thereupon the young elephant thrust his tail between his legs, dropped both his ears, closed his eyes, and stood motionless. The multitude gazed at the elephant in wonderment, thinking to themselves, “What a way for so vicious an elephant to behave!”
The king waited upon the Congregation of Monks presided over by the Buddha. Having so done, he saluted the Teacher, and said to him, “Reverend Sir, whatsoever goods are in this refectory, whether they be worthy or unworthy, I present them all to you.”
Now in this act of almsgiving fourteen crores of treasure were given away in one single day. Four objects of priceless value were placed at the disposal of the Teacher: a white parasol, a couch whereon to rest, a stand, and a footstool. No one who gave gifts to the Buddhas thereafter was able to equal the gifts which were then presented by the king, wherefore those gifts came to be known as Gifts beyond Compare. It seems that this happens once to all the Buddhas, and that a woman always manages this for all.
Now the king had two ministers named Kāla and Juṇha. Kāla thought to himself, “How the king’s fortune has diminished! In one single day fourteen crores of treasure have been spent! And these monks, after feasting upon these alms, will go away, lie down, and sleep! How the king’s fortune has been wasted!” But Juṇha thought to himself, “Oh, what splendid gifts the king has presented! No one who does not occupy a king’s station could make such a gift! Moreover, none make over the merit of their gifts to all living beings! As for me, I am thankful for these gifts which the king has presented!”
When the Teacher had finished his meal, the king took his bowl, that he might pronounce the words of thanksgiving. The Teacher thought to himself, “The king has given mighty gifts, like as when one sets in motion a mighty flood. Will the hearts of the populace be filled with faith, or will they not?” Perceiving the disposition of mind of those ministers, he became aware of the following, “If I pronounce words of thanksgiving appropriate to the gifts which the king has given, Kāla’s head will split into seven pieces, and Juṇha will be established in the Fruit of Conversion.” Therefore, out of pity for Kāla, he recited but a single Stanza consisting of four verses in honor of the king, who stood before him after giving gifts so splendid. Having so done, he arose from his seat and returned to the monastery.
The monks asked Aṅgulimāla, “Brother, were you not afraid when you saw the rogue elephant standing before you, holding a white parasol?” “No, brethren, I was not afraid.” The monks said to the Teacher, “Reverend Sir, Aṅgulimāla utters falsehood.” The Teacher replied, “Monks, Aṅgulimāla has no fear. For monks like my son are of all the Noble who have rid themselves of the Depravities the noblest and have no fear.” So saying, he pronounced the following Stanza in the Brāhmaṇa Vagga,
422. The noble, the eminent, the manly, the wise, the conqueror,
The pure, the sinless, the enlightened, him I call a Brahman.
The king was bitterly disappointed. Thought he, “After I had given gifts to so numerous a company, and had taken my stand before the Teacher, the Teacher omitted to pronounce words of thanksgiving commensurate with my gifts, uttered but a single Stanza, and then arose from his seat and departed. It must be that instead of presenting gifts appropriate to the Teacher, I presented gifts that were inappropriate; it must be that instead of giving such things as were suitable for gifts, I gave such things as were unsuitable for gifts. It must be that the Teacher is angry with me, for it is his invariable practice to return thanks to anyone soever in terms commensurate with gifts presented.”
With this thought in mind, he went to the monastery, saluted the Teacher, and said this to him, “Reverend Sir, did I fail to give gifts such as I should have given, or err by giving, instead of such things as were suitable for gifts, things that were unsuitable for gifts?” “Why do you ask, great king?” “You did not thank me in terms commensurate with the gifts which I had presented.” “Great king, the gifts you presented were indeed suitable; Gifts beyond Compare such as you presented can be presented but once to a single Buddha; gifts such as these are hardly to be presented a second time.” “But, Reverend Sir, why did you not thank me in terms commensurate with the gifts which I had presented?” “Because the assembled company was contaminated, great king.” “Reverend Sir, what fault was there in the company?” The Teacher then told him of the disposition of mind of the two ministers, and informed him that it was out of pity for Kāla that he refrained from returning thanks.
The king asked Kāla, “Is it true, Kāla, that you entertained these thoughts?” “It is true,” replied Kāla. Then said the king, “I never took what belonged to you, but with the assistance of son and wife, gave only what belonged to me. Wherein have I done you wrong? Begone! What I have given, I have given. But as for you, depart out of my kingdom.” Having thus banished Kāla from his kingdom, he summoned Juṇha and asked him, “Is the report true that you thought thus and so?” “It is true,” replied Juṇha. “You have done well, uncle,” replied the king. “I am content. Take my retinue, and bestow alms for seven days precisely as I have done.” Having yielded the kingdom to him for seven days, the king said to the Teacher, “Reverend Sir, behold what manner of thing this simpleton has done. After I had bestowed thus alms, he delivered this blow at me.” The Teacher replied, “Yes, great king; simpletons take no delight in alms presented by others and are therefore destined to future punishment. But wise men take delight in alms presented by others and therefore go to heaven.” So saying, he pronounced the following Stanza,
177. The niggardly go not to the World of the Gods; simpletons applaud not almsgiving;
But the wise man applauds almsgiving, and therefore wins happiness in the world beyond.
At the conclusion of the lesson Juṇha was established in the Fruit of Conversion; the assembled multitude also profited by the lesson. Juṇha, having attained the Fruit of Conversion, bestowed alms for a period of seven days precisely as the king had done.
- Cf. Commentary on Dīgha, 19; also Hardy, Manual of Buddhism, pp. 297-298. Text: N iii. 183-189.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.