Chú giải Pháp Cú · Kệ 119–120 · Dhp 119–120

Tích Ông Cấp Cô Độc Đuổi Thiên Nữ

Anāthapiṇḍikaseṭṭhivatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 119–120 Kinh Pháp Cú, phẩm Ác, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 119-120)

119. “Pāpopi passati bhadraṃ,
Yāva pāpaṃ na paccati;
Yadā ca paccati pāpaṃ,
Atha (pāpo) pāpāni passati.”
“Người ác thấy là hiền,
Khi ác chưa chín muồi,
Khi ác nghiệp chín muồi,
Người ác mới thấy ác.”
120. “Bhadropi passati pāpaṃ,
Yva bhadraṃ na paccati;
Yadā ca paccati bhadraṃ,
Atha (bhadro) bhadrāni passati.”
“Người thiện thấy là ác,
Khi Thiện chưa chín muồi,
Khi thiện được chín muồi,
Người hiền thấy là thiện.”

(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết, khi Ngài ngự tại Jetavana Vihāra (Kỳ Viên Tự), đề cập đến ông Anāthapiṇḍaka (Cấp Cô Độc).

Ông Anāthapiṇḍaka đã tung ra năm trăm bốn chục triệu đồng vàng trong Phật giáo, để xây cất ngôi đại tự Kỳ Viên và thỉnh Đức Bổn Sư ngự yên nơi đó. Hằng ngày ông đi lo ba lần phục vụ lớn, trước khi đi ông tự hỏi: “Ta phải mang theo gì khi đi chùa? Các Sa di và Tỳ khưu trẻ sẽ nhìn vào tay ta!” Vì thế, ông không bao giờ đi tay không. Đi buổi sáng ông cho người nhà mang theo cháo, đi sau buổi điểm tâm thì ông cho mang theo các thứ thuốc nước (Bhesajjāni) như sữa chua (thục tô), sữa lỏng (sanh tô).v..v…Đi vào buổi chiều thì ông cho mang theo tràng hoa, hương, vật thoa, vải v.v…

Mỗi ngày ông vẫn thường xuyên giữ Giới và cúng dường như thế.

Một thời gian sau, gia tài của ông bị khánh tận. Những người sống bằng nghề buôn, tự tay vay một trăm tám mươi triệu đồng mà chưa trả nợ cho ông, còn gia sản một trăm tám mươi triệu đồng vàng thô chôn ở bờ sông bị nước phá vỡ đê, cuốn vào lòng biển cả. Thế là từ từ tài sản của ông bị khánh kiệt.

Mặc dầu sa sút, ông vẫn đặt bát Trai Tăng, nhưng không thể cúng dường vật ngon quí như xưa.

Một hôm, Đức Bổn Sư hỏi ông:

- Nầy gia chủ, ông đã cúng dường Tăng chúng chưa?

- Bạch Ngài, con đã cúng dường đến Tăng rồi, nhưng vật thực chỉ có cháo tấm và cải chua1 mà thôi.

- Đức Bổn Sư bèn an ủi ông rằng: 1)

Bilaṅgadutiyaṃ: HT. TMC dịch là bột chua để từ đêm qua.

- Nầy gia chủ, ông đừng lo buồn rằng: “Ta cúng dường vật thực thô kệch quá.” Miễn là tâm ông nghĩ là cúng dường vật thực cao quí đến các bậc Thánh nhân, nhất là Đức Phật thì sự cúng dường của ông không bao giờ thô kệch đâu! Vả lại, này gia chủ, ông đã được cúng dường đến tám bậc Thánh nhân. Chính Ta trong kiếp sanh làm Vua Velāma (Quê La Má) Ta đã cho dân chúng trong toàn cõi Diêm Phù Đề nghỉ cả cày bừa2 trong ngày đại thí của Ta, nhưng Ta không có được chút Tam qui nào cả. Sự cúng dường đến các bậc đáng cúng dường thật khó làm được như thế, cho nên ông đừng buồn rằng: “Ta cúng dường vật thực thô kệch quá.”.

Nói rồi, Đức Thế Tôn thuyết kinh Velāma cho ông Anāthapiṇḍaka nghe.

Khi ấy, có một Thiên nữ ở trong phòng bên cửa gác, không thể ở lại trong phòng khi Đức Bổn Sư và chư Thinh Văn vào trong nhà, vì oai lực của các Ngài rất lớn. Thiên nữ ấy nghĩ thầm: “Ta phải làm sao ly gián gia chủ với mấy vị nầy để họ khỏi vào nhà nầy nữa. Lúc gia chủ còn quyền thế, ta không thể nói lời chi được cả. Bây giờ ông ta sa sút, nghèo khó rồi, ông sẽ nghe theo lời ta.”.

Thế rồi, ban đêm Thiên nữ vào tư phòng của phú Bá hộ, đứng trên hư không. Bá hộ thấy Thiên nữ bèn hỏi:

- Ai đứng đó?

- Nầy Đại Bá hộ, ta là Thiên nữ ngự ở phòng gác cửa cổng thứ tư, đến để ban huấn từ cho ông!

- Thiên nữ cứ nói đi!

Nầy Đại Bá hộ, vì ông không thể nhìn xa đến lúc chung cuộc, cho nên ông đã phung phí của cải rất nhiều 2)

Unnagalaṃ kattā: HT. TMC dịch là làm náo động. trong Giáo Pháp của Sa môn Gotama (Cồ Đàm). Bây giờ đã sa sút rồi mà ông còn chưa tỉnh ngộ, dứt bỏ. Nếu ông cứ làm như thế mãi thì chỉ vài ba hôm nữa là ông sẽ không có cơm ăn áo mặc. Hãy từ biệt hẳn Sa môn Gotama để bắt tay vào công việc xây dựng lại sản nghiệp của gia đình.

- Đó là huấn từ của Thiên nữ ban cho ta đó hả?

- Phải đó, này Đại Bá hộ!

- Hãy đi đi, dầu cho một trăm, một ngàn hoặc một trăm ngàn người như cô cũng không lay chuyển lòng ta được. Lời cô nói không thích hợp, sao cô còn cư ngụ trong nhà của ta? Cô hãy đi ra khỏi nhà của ta lập tức.

Nghe lời quyết định của Thánh Thinh Văn Tu Đà Hườn, cô Thiên nữ không thể đứng yên, phải dắt các con đi ra, nhưng đi kiếm chỗ ở khác không được, cô tự nghĩ: “Ta phải đi sám hối với Bá hộ và xin lại chỗ cũ.”. Thế rồi cô đến yết kiến vị Chư Thiên trấn giữ châu thành, cô không thú nhận việc mình đã làm, mà chỉ yêu cầu: “Xin Thiên tử (Devaputtaṃ) đưa dùm tôi đến yết kiến ông Bá hộ, xin Bá hộ miễn thứ và xin cho tôi được ở lại chỗ cũ”.

Vị Chư Thiên từ chối: “Lời cô phân nghe không thích hợp, ta không mắc gì phải đi đến nhà ông Bá hộ!”.

Cô Thiên nữ lại cầu viện đến bốn vị Đại Thiên Vương, nhưng cũng bị các Ngài từ chối.

Sau cùng cô đến đảnh lễ Thiên Vương Đế Thích, thú nhận lỗi lầm của mình đã phạm và thiết yếu van rằng: “Tâu Đại vương, hiện giờ tôi không có nơi cư ngụ, mẹ con dắt nhau đi lang thang như vầy thật khổ quá. Xin Thiên Vương nói dùm cho tôi có được chỗ ngụ.”.

Khi ấy, Thiên Vương Đế Thích đáp rằng: “Ta không thể nói lời gì với ông Bá hộ mà binh vực, bào chữa cho ngươi được. Tuy nhiên ta sẽ dạy cho ngươi một phương kế!”.

- Lành thay! Xin Thiên Vương dạy đi!

- Ngươi hãy đi! Trước hết hãy hóa thân làm người quản gia của ông Bá hộ, cầm những giấy nợ của những người sống bằng nghề buôn, đã vay tiền ông Bá hộ, đòi cho đủ số một trăm tám mươi triệu đồng vàng, dùng Thần thông quét sạch kho bạc trống không, đổ đầy tiền vào đó. Còn một số tài sản một trăm tám mươi triệu tiền vàng đã chìm sâu dưới biển lớn. Ở một chỗ khác nữa, có một của chôn vô chủ một trăm tám mươi triệu đồng. Hãy gom tất cả về đổ đầy cái kho trống. Sau khi đoái công chuộc tội như thế rồi, hãy đến xin sám hối gia chủ mới được!

Cô Thiên nữ đáp: “Lành thay, tâu Thiên Vương.”.

Cô làm đúng theo lời Đức Đế Thích chỉ dạy, rồi đến phòng riêng của ông Bá hộ Anāthapiṇḍaka, đứng trên không tỏa hào quang sáng khắp căn phòng. Ông Bá hộ hỏi:

- Ai đó?

Nghe vậy, Thiên nữ đáp: “Thưa tôi là Thiên nữ cư ngụ tại cửa gác thứ tư, vì mù quáng si mê mà đã nói xúc phạm đến ông, xin ông miễn thứ cho tôi. Tôi đã nghe lời chỉ dạy của Đức Đế Thích, gom góp năm trăm bốn mươi triệu đồng vàng, chất đầy kho bạc trống không để chuộc lỗi. Xin ông hãy xét công mà cho tôi ở lại, không có chỗ trú ngụ tôi khổ lắm, ông ơi!”.

Ông Anāthapiṇḍaka nghĩ thầm: “Cô Thiên nữ nầy nói mình đã lấy công đền tội rồi, tức là cô đã biết tự hối ăn năn. Ta hãy đưa cô đến bái yết Đức Chánh Biến Tri”.

Thế rồi, ông Anāthapiṇḍaka đưa cô Thiên nữ đến yết kiến Đức Bổn Sư và thuật lại hết câu chuyện của cô đã làm cho Ngài nghe. Cô Thiên nữ quì mọp đầu dưới chân Đức Bổn Sư:

- Bạch Ngài, con vì mù quáng si mê, không biết được ân đức của Ngài, có lỡ lời quấy ác xúc phạm đến Ngài, xin Ngài hãy tha thứ cho con!

Sau khi sám hối với Đức Bổn Sư, cô Thiên nữ lại xin sám hối với ông Đại Bá hộ.

Nhân dịp đó, Đức Bổn Sư ban huấn từ dạy cả Bá hộ và cô Thiên nữ về quả báu dị thục của những hành động thiện ác.

- Nầy gia chủ, trong đời này lúc mà quả của nghiệp ác chưa muồi, thì kẻ ác thấy là vui đẹp lắm. Nhưng đến khi quả ác đã trổ, lúc bấy giờ kẻ ác mới thấy là ác. Lúc mà thiện quả chưa muồi, kẻ thiện còn thấy là ác, nhưng khi quả thiện đã chín muồi thì chừng ấy kẻ thiện mới thấy là thiện.

Nói rồi Đức Bổn Sư thuyết pháp và kết luận bằng hai bài kệ sau đây:

119. “Pāpo’pi passati bhadraṃ,
Yāva pāpaṃ na paccati;
Yadā ca paccati pāpaṃ,
Atha pāpo pāpāni passati.”
Khi nghiệp ác chưa thành thục,
Kẻ ác cho là vui,
Đến khi nghiệp ác thành thục,
Kẻ ác mới hay là ác.
120. “Bhadro’pi passati pāpaṃ,
Yāva bhadraṃ na paccati;
Yadā ca paccati bhadraṃ,

Atha bhadro bhadrāni passati.”
Khi nghiệp lành chưa thành thục,
Người lành cho là khổ,
Đến khi nghiệp lành thành thục,
Người lành mới biết là lành.
(Bản dịch của T.K. Trí Đức)

CHÚ GIẢI:

Pāpo: kẻ nào liên can với nghiệp ác, nhất là thân ác hạnh… Kẻ ấy từ trước do các thiện hạnh mà được quả an vui, bắt đầu làm ác thì vẫn còn thấy vui.

Yāva pāpaṃ na paccati: khi mà ác nghiệp chưa trổ quả Dị thục (Vipāka) trong hiện kiếp hoặc trong kiếp vị lai, kẻ ác còn thấy vui. Đến chừng ác nghiệp trổ quả, chừng ấy trong hiện kiếp thì phải chịu nhiều hình phạt khổ sai. Còn trong kiếp vị lai thì thọ khổ trong bốn ác đạo, lúc bấy giờ kẻ ác mới thấy là ác.

Bài kệ thứ hai: kẻ nào liên can với nghiệp thiện, nhất là thân thiện hạnh… Kẻ ấy từ trước do các ác hạnh mà tái sanh thọ khổ, khi bắt đầu làm việc thiện vẫn còn thấy ác. Khi mà thiện nghiệp chưa chín muồi, thì nó chưa trổ quả thiện trong hiện kiếp hoặc trong kiếp vị lai. Đến khi nghiệp lành trổ quả, chừng ấy trong hiện kiếp kẻ làm thiện được sự an vui, nhất là được nhiều lợi lộc và trong kiếp vị lai được hưởng phước báu an vui của cõi trời. Lúc bấy giờ kẻ làm thiện mới thấy là thiện. 1) Xem Bổn sanh Khadiraṅgāra (Jātaka 226) nhân câu chuyện ông Cấp Cô Độc có đức tin kiên cố, Đức Bổn Sư đã kể lại sự tích của Bồ Tát đã vượt qua hầm lửa của Ma vương mà để bát cho vị Phật Độc Giác (Kinh Bổn sanh tập I, số 40 trang 147).

Cuối thời Pháp, cô Thiên nữ đắc quả Tu Đà Hườn, kỳ dư tứ chúng cũng đều được hưởng sự lợi ích do nghe pháp của Đức Bổn Sư.

Bá hộ khi nghèo vẫn cúng Tăng,
Khiến cô Thiên nữ đến khuyên xằng:
Không nghe, còn đuổi cô đi lẹ,
Bế cả con thơ, hết nói năng!
Đế Thích khuyên cô lập đại công,
Qui hoàn tài sản chủ nhân ông,
Rồi xin sám hối, về ngôi cũ.
Thiên nữ vâng lời, mọi việc xong.
Ông dắt cô đi lễ Phật Đà,
Phật khuyên: Người Trí lánh điều tà,
Ác lai, ác báo, nhiều khi chậm,
Hậu quả bao giờ cũng xấu xa.
Người Trí cần nên hiểu chánh chơn,
Việc lành tuy thấy khó làm hơn,
Nhưng mà hậu quả là vui thú,
Dầu hiện thời đây gặp tủi hờn.

DỨT TÍCH ÔNG CẤP CÔ ĐỘC ĐUỔI THIÊN NỮ

Anāthapiṇḍikaseṭṭhivatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Pāpopi passatī bhadranti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto anāthapiṇḍikaṃ ārabbha kathesi.

Anāthapiṇḍiko hi vihārameva uddissa catupaṇṇāsakoṭidhanaṃ buddhasāsane vikiritvā satthari jetavane viharante devasikaṃ tīṇi mahāupaṭṭhānāni gacchati, gacchanto ca “kiṃ nu kho ādāya āgatoti sāmaṇerā vā daharā vā hatthampi me olokeyyu”nti tucchahattho nāma na gatapubbo. Pātova gacchanto yāguṃ gāhāpetvāva gacchati, katapātarāso sappinavanītādīni bhesajjāni. Sāyanhasamaye mālāgandhavilepanavatthādīni gāhāpetvā gacchati. Evaṃ niccakālameva divase divase dānaṃ datvā sīlaṃ rakkhati. Aparabhāge dhanaṃ parikkhayaṃ gacchati. Vohārūpajīvinopissa hatthato aṭṭhārasakoṭidhanaṃ iṇaṃ gaṇhiṃsu, kulasantakāpissa aṭṭhārasahiraññakoṭiyo, nadītīre nidahitvā ṭhapitā udakena kūle bhinne mahāsamuddaṃ pavisiṃsu. Evamassa anupubbena dhanaṃ parikkhayaṃ agamāsi. So evaṃbhūtopi saṅghassa dānaṃ detiyeva, paṇītaṃ pana katvā dātuṃ na sakkoti.

So ekadivasaṃ satthārā “dīyati pana te, gahapati, kule dāna”nti vutte “dīyati, bhante, tañca kho kaṇājakaṃ bilaṅgadutiya”nti āha. Atha naṃ satthā, “gahapati, ‘lūkhaṃ dānaṃ demī’ti mā cintayi. Cittasmiñhi paṇīte buddhādīnaṃ dinnadānaṃ lūkhaṃ nāma natthi, apica tvaṃ aṭṭhannaṃ ariyapuggalānaṃ dānaṃ desi, ahaṃ pana velāmakāle sakalajambudīpaṃ unnaṅgalaṃ katvā mahādānaṃ pavattayamānopi tisaraṇagatampi kañci nālatthaṃ, dakkhiṇeyyā nāma evaṃ dullabhā. Tasmā ‘lūkhaṃ me dāna’nti mā cintayī”ti vatvā velāmasuttamassa (a. ni. 9.20) kathesi. Athassa dvārakoṭṭhake adhivatthā devatā satthari ceva satthusāvakesu ca gehaṃ pavisantesu tesaṃ tejena saṇṭhātuṃ asakkontī, “yathā ime imaṃ gehaṃ na pavisanti, tathā gahapatiṃ paribhindissāmī”ti taṃ vattukāmāpi issarakāle kiñci vattuṃ nāsakkhi, idāni “panāyaṃ duggato gaṇhissati me vacana”nti rattibhāge seṭṭhissa sirigabbhaṃ pavisitvā ākāse aṭṭhāsi. Atha seṭṭhi naṃ disvā “ko eso”ti āha. Ahaṃ te mahāseṭṭhi catutthadvārakoṭṭhake adhivatthā devatā, tuyhaṃ ovādadānatthāya āgatāti. Tena hi ovadehīti. Mahāseṭṭhi tayā pacchimakālaṃ anoloketvāva samaṇassa gotamassa sāsane bahuṃ dhanaṃ vippakiṇṇaṃ, idāni duggato hutvāpi taṃ na muñcasiyeva, evaṃ vattamāno katipāheneva ghāsacchādanamattampi na labhissasi, kiṃ te samaṇena gotamena, atipariccāgato oramitvā kammante payojento kuṭumbaṃ saṇṭhāpehīti. Ayaṃ me tayā dinnaovādoti. Āma, seṭṭhīti. Gaccha, nāhaṃ tādisīnaṃ satenapi sahassenapi satasahassenapi sakkā kampetuṃ, ayuttaṃ te vuttaṃ, kaṃ tayā mama gehe vasamānāya, sīghaṃ sīghaṃ me gharā nikkhamāhīti. Sā sotāpannassa ariyasāvakassa vacanaṃ sutvā ṭhātuṃ asakkontī dārake ādāya nikkhami, nikkhamitvā ca pana aññattha vasanaṭṭhānaṃ alabhamānā “seṭṭhiṃ khamāpetvā tattheva vasissāmī”ti nagarapariggāhakaṃ devaputtaṃ upasaṅkamitvā attanā katāparādhaṃ ācikkhitvā “ehi, maṃ seṭṭhissa santikaṃ netvā khamāpetvā vasanaṭṭhānaṃ dāpehī”ti āha. So “ayuttaṃ tayā vuttaṃ, nāhaṃ tassa santikaṃ gantuṃ ussahāmī”ti taṃ paṭikkhipi. Sā catunnaṃ mahārājānaṃ santikaṃ gantvā tehipi paṭikkhittā sakkaṃ devarājānaṃ upasaṅkamitvā taṃ pavattiṃ ācikkhitvā, “ahaṃ, deva, vasanaṭṭhānaṃ alabhamānā dārake hatthena gahetvā anāthā vicarāmi, vasanaṭṭhānaṃ me dāpehī”ti suṭṭhutaraṃ yāci.

Atha naṃ so “ahampi tava kāraṇā seṭṭhiṃ vattuṃ na sakkhissāmi, ekaṃ pana te upāyaṃ kathessāmī”ti āha. Sādhu, deva, kathehīti. Gaccha, seṭṭhino āyuttakavesaṃ gahetvā seṭṭhissa hatthato paṇṇaṃ āropetvā vohārūpajīvīhi gahitaṃ aṭṭhārasakoṭidhanaṃ attano ānubhāvena sodhetvā tucchagabbhe pūretvā mahāsamuddaṃ paviṭṭhaṃ aṭṭhārasakoṭidhanaṃ atthi, aññampi asukaṭṭhāne nāma assāmikaṃ aṭṭhārasakoṭidhanaṃ atthi, taṃ sabbaṃ saṃharitvā tassa tucchagabbhe pūretvā daṇḍakammaṃ katvā khamāpehīti. Sā “sādhu, devā”ti vuttanayeneva taṃ sabbaṃ katvā puna tassa sirigabbhaṃ obhāsayamānā ākāse ṭhatvā “ko eso”ti vutte ahaṃ te catutthadvārakoṭṭhake adhivatthā andhabāladevatā, mayā andhabālatāya yaṃ tumhākaṃ santike kathitaṃ, taṃ me khamatha. Sakkassa hi me vacanena catupaṇṇāsakoṭidhanaṃ saṃharitvā tucchagabbhapūraṇaṃ daṇḍakammaṃ kataṃ, vasanaṭṭhānaṃ alabhamānā kilamāmīti. Anāthapiṇḍiko cintesi – “ayaṃ devatā ‘daṇḍakammañca me kata’nti vadati, attano ca dosaṃ paṭijānāti, sammāsambuddhassa naṃ dassessāmī”ti. So taṃ satthu santikaṃ netvā tāya katakammaṃ sabbaṃ ārocesi. Devatā satthu pādesu sirasā nipatitvā, “bhante, yaṃ mayā andhabālatāya tumhākaṃ guṇe ajānitvā pāpakaṃ vacanaṃ vuttaṃ, taṃ me khamathā”ti satthāraṃ khamāpetvā mahāseṭṭhiṃ khamāpesi. Satthā kalyāṇapāpakānaṃ kammānaṃ vipākavasena seṭṭhiñceva devatañca ovadanto “idha, gahapati, pāpapuggalopi yāva pāpaṃ na paccati, tāva bhadrampi passati. Yadā panassa pāpaṃ paccati, tadā pāpameva passati. Bhadrapuggalopi yāva bhadraṃ na paccati, tāva pāpāni passati. Yadā panassa bhadraṃ paccati, tadā bhadrameva passatī”ti vatvā anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imā gāthā abhāsi –

“Pāpopi passatī bhadraṃ, yāva pāpaṃ na paccati;
Yadā ca paccatī pāpaṃ, atha pāpo pāpāni passati.

“Bhadropi passatī pāpaṃ, yāva bhadraṃ na paccati;
Yadā ca paccatī bhadraṃ, atha bhadro bhadrāni passatī”ti.

Tattha pāpoti kāyaduccaritādinā pāpakammena yuttapuggalo. Sopi hi purimasucaritānubhāvena nibbattaṃ sukhaṃ anubhavamāno bhadrampi passati. Yāva pāpaṃ na paccatīti yāvassa taṃ pāpakammaṃ diṭṭhadhamme vā samparāye vā vipākaṃ na deti. Yadā panassa taṃ diṭṭhadhamme vā samparāye vā vipākaṃ deti, atha diṭṭhadhamme vividhā kammakāraṇā, samparāye ca apāyadukkhaṃ anubhonto so pāpo pāpāniyeva passati. Dutiyagāthāyapi kāyasucaritādinā bhadrakammena yutto bhadro. Sopi hi purimaduccaritānubhāvena nibbattaṃ dukkhaṃ anubhavamāno pāpaṃ passati. Yāva bhadraṃ na paccatīti yāvassa taṃ bhadraṃ kammaṃ diṭṭhadhamme vā samparāye vā vipākaṃ na deti. Yadā pana taṃ vipākaṃ deti, atha diṭṭhadhamme lābhasakkārādisukhaṃ, samparāye ca dibbasampattisukhaṃ anubhavamāno so bhadro bhadrāniyeva passatīti.

Desanāvasāne sā devatā sotāpattiphale patiṭṭhahi, sampattaparisāyapi sātthikā dhammadesanā ahosīti.

Anāthapiṇḍikaseṭṭhivatthu catutthaṃ.

IX. 4. Anāthapiṇḍika and the Goddess

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

119. Even an evildoer sees happiness, so long as his evil deed has not yet ripened;
But so soon as his evil deed has ripened, then the evildoer sees evil things.

120. Even a good man sees evil, so long as his good deeds have not yet ripened;
But so soon as his good deeds have ripened, then the good man sees happiness.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Anāthapiṇḍika.

For Anāthapiṇḍika, who spent fifty-four crores of treasure in the Religion of the Buddha on Jetavana monastery alone, proceeded in state three times a day to wait upon the Teacher during the Teacher’s residence at Jetavana. Whenever he set out to go thither, he thought, “The probationers and novices will look at my hands and ask the question, ‘What has he brought with him as offerings?’ ” and therefore never went empty-handed. When he went thither early in the morning he carried rice-porridge with him; after breakfast he carried ghee, fresh butter, and the other medicaments; in the evening he carried with him perfumes, garlands, unguents, and garments. Now those who lived by trade had borrowed from him eighteen crores of treasure. Moreover eighteen crores of treasure belonging to his family, secretly buried at the bank of the river, had been swept into the great ocean at the time when the river burst its banks. The result was that he was gradually being reduced to a state of poverty. But in spite of this, he just gave alms to the Congregation of Monks as before, although he was unable to give choice food such as he had before.

One day the Teacher asked him, “Are alms provided for us in the house of our householder?” Anāthapiṇḍika replied, “Yes, Reverend Sir, but the food is naught but bird-feed and sour gruel.” Then said the Teacher to him, “Householder, do not allow yourself to think, ‘It is naught but coarse food that I give to the Teacher,’ and be not disturbed thereat. If the intention be pure, it is impossible to give the Buddhas and others food that is really coarse. You have given food to the Eight Holy Personages. I, however, in the time of Velāma stirred up all India by setting rich offerings agoing, but yet I failed to win a single man to betake himself to the Three Refuges. It is a hard thing to find those on whom it is proper to bestow offerings. Therefore be not disturbed at the thought, ‘My offerings are coarse food.’ ” So saying, the Teacher recited in full the Velāma Sutta.

When the Teacher and the Teacher’s disciples entered the house of Anāthapiṇḍika, the goddess who dwelt over the gate, unable to remain by reason of the intensity of their goodness, thought to herself, “I will detach the householder from his allegiance, that they may no more enter this house.” Now although the goddess had longed to address the householder, she could say not a word to him in the heyday of his wealth and power. At this time, however, she thought to herself, “The householder is now a poor man, and will therefore be disposed to give heed to my words.” Accordingly she went by night, entered the treasurer’s chamber of state, and stood poised in the air. When the treasurer saw her, he said, “Who is that?” “It is I, great treasurer, the goddess that resides over your fourth gate. I am come to give you admonition.” “Well then, say what you have to say.”

“Great treasurer, without considering the future, you have dissipated your great wealth in the religion of the monk Gotama. Now, although you have reduced yourself to poverty, you still continue to give of your wealth. If you continue this course, in a few days you will not have enough left to provide you with clothing and food. Of what use to you is the monk Gotama? Abandon your lavish giving, devote your attention to business, and make a fortune.” “Is this the advice you came to give me?” “Yes, treasurer.” “Then begone. Though a hundred thousand like you should try, you would not be able to move me from my course. You have said to me what you had no right to say; what business have you to dwell in my house? Leave my house instantly.” The goddess, unable to withstand the words of a Noble Disciple who had attained the Fruit of Conversion, left his house, taking her children with her.

But after the goddess had left his house, she was unable to find lodging elsewhere. Then she thought to herself, “I will ask the treasurer to pardon me and to allow me to resume my residence in his house.” Accordingly she approached the tutelary deity of the city, told him of her offense, and said to him, “Come now, conduct me to the treasurer, persuade him to pardon me, and persuade him to allow me to resume my residence in his house.” But the tutelary deity of the city replied, “You said something you had no business to say; it will be impossible for me to go with you to the treasurer’s residence.” Thus did the tutelary deity of the city refuse her request. Then she went to the Four Great Kings, but they likewise refused her request. Then she approached Sakka king of gods, told him her story, and entreated him yet more earnestly. Said she, “Sire, I am unable to find a place wherein to lodge myself, but wander about without protection, children in hand. Obtain for me the privilege of returning to my former residence.” Sakka replied, “But neither will it be possible for me to speak to the treasurer in your behalf. However, I will tell you a way.” “Very good, sire; tell me what it is.”

“Go assume the dress of the treasurer’s steward; note on a leaf from the hand of the treasurer a list of the wealth he once possessed; put forth your supernatural power and recover the eighteen crores of wealth borrowed by those who live by trade, and fill therewith the treasurer’s empty storeroom. Besides this wealth, there are eighteen crores of wealth which were swept into the great ocean. Yet again there are eighteen crores of wealth without an owner, to be found in such and such a place. Gather all this together and therewith fill his empty store-room. Having thus atoned for your offense, ask him to grant you pardon.” “Very well,” said the goddess. And straightway she did all, just as Sakka king of gods told her to. Having so done, she went and stood poised in the air, illuminating with supernatural radiance the treasurer’s chamber of state.

“Who is that?” asked the treasurer. “It is I,” replied the goddess, “the blind, stupid goddess that once dwelt over your fourth gate. Pardon me the words I once spoke to you in my blind stupidity. In obedience to the command of Sakka king of gods, I have recovered the fifty-four crores of wealth and filled your empty store-room therewith; thus have I atoned for my offense; I have no place wherein to lodge myself, and therefore am I greatly wearied.” Anāthapiṇḍika thought to himself, “This goddess says to me, ‘I have made atonement for my offense,’ and confesses her fault; I will conduct her to the Supremely Enlightened.” Accordingly he conducted her to the Teacher, saying to her, “Tell the Teacher all you have done.” The goddess fell upon her face before the feet of the Teacher and said, “Reverend Sir, because of my folly I did not recognize your eminent merit and uttered evil words; pardon me for having uttered them.” Thus did the goddess ask pardon both of the Teacher and of the great treasurer.

Then the Teacher admonished both the treasurer and the fairy with reference to the ripening of deeds both good and evil, saying, “Here in this present life, great treasurer, even an evildoer sees happiness, so long as his evil deed has not yet ripened. But so soon as his evil deed has ripened, then he sees only evil. Likewise a good man sees evil things, so long as his good deeds have not yet ripened; but so soon as his good deeds have ripened, then he sees only happiness.” So saying, he joined the connection, and preaching the Law, pronounced the following Stanzas,

119. Even an evildoer sees happiness, so long as his evil deed has not yet ripened;
But so soon as his evil deed has ripened, then the evildoer sees evil things.

120. Even a good man sees evil, so long as his good deeds have not yet ripened;
But so soon as his good deeds have ripened, then the good man sees happiness.

  1. This story is for the most part an abbreviated version of the Introduction to Jātaka 40: i. 226-231. The text is frequently word for word the same as the Jātaka. Dh. cm. 1001-1104 is derived from Aṅguttara, iv. 392-396. Text: N iii. 9-15.
  2. Aṅguttara, iv. 392-396.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp cùng chủ đề

Bài Hỏi đáp có dẫn kệ này