Tích Thiên Nữ Cốm Rang
Lājadevadhītāvatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 118 Kinh Pháp Cú, phẩm Ác, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 118) “Puññañce puriso kayirā, “Nếu người làm điều thiện, Kayirāthenaṃ punappunaṃ; Nên tiếp tục làm thêm, Tamhi chandaṃ kayirātha, Hãy ước muốn điều thiện,
Sukho puññassa uccayo.”
Chứa thiện, được an lạc.”
(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Thế Tôn đã thuyết, khi Ngài ngự tại Jetavana Vihāra (Kỳ Viên Tự), đề cập đến nàng Thiên nữ Lājā (Cốm Rang).
Tích truyện nầy phát khởi trong thành Sāvatthī (Vương Xá). Thật vậy, Trưởng lão Mahākassapa (Ma Ha Ca Diếp) ngụ trong động Pipphali (Bíp Phá Lí), nhập vào Đại Định hưởng vị Thiền Diệt, đến ngày thứ bảy, xuất Thiền định, dùng Thiên nhãn quán xét lối đi khất thực, trông thấy một phụ nữ giữ ruộng lúa nếp Sāli (Xa li) đang rang những hột lúa của mình.
“Cô nầy có đức tin hay không?”.
Khi quán thêm, biết rõ phụ nữ ấy có đức tin, Trưởng lão quán tiếp: “Cô có tiếp độ cho ta chăng?” Thì được biết rằng: “Cô gái nầy thuộc gia đình lễ giáo, có đức tin vững chắc, sẽ tiếp độ ta và hưởng quả phước lớn”. 1) Bắp khô (lúa mạch), ngũ cốc khô. Đây là lúa Sāli (Xa li) khô rang nổ làm cốm.
Thế rồi, Trưởng lão đắp y, mang bát đến đứng gần ruộng lúa Sāli. Thấy Trưởng lão, cô gái con nhà lễ giáo, phát Tâm tịnh tín, phỉ lạc ngũ sắc tràn ngập cả thân thể.
- Bạch Ngài, hãy chờ một chút.
Nói rồi, cô gái lật đật lấy cốm rang đến sớt vào bát của Trưởng lão, gieo năm vóc xuống đảnh lễ rồi phát nguyện:
- Bạch Ngài, xin cho con sẽ đắc pháp của Ngài đắc trong lúc hiện tại đây.
Trưởng lão chúc: “Mong cho cô được như ý nguyện.”.
Phụ nữ ấy đảnh lễ cáo từ Trưởng lão, rồi quay đi, vừa suy tư đến việc cúng dường của mình vừa làm.
Lúc bấy giờ, có một con rắn độc nằm trong cái hang trên đường đi giáp ranh bờ ruộng lúa. Nó không cắn được bắp chân Trưởng lão vì có y che phủ.
Cô gái vừa đi vừa suy tư đến việc cúng dường, đến ngay chỗ hang rắn, con rắn bò ra khỏi hang, mổ trúng chân cô và cô ngã xuống tại chỗ đó. Nhờ chết khi tâm đang trong sạch, y như người ngủ thức dậy, cô được sanh lên cung trời Đao Lợi, ở trong một ngôi đền vàng cao ba mươi do tuần, khắp mình đeo đủ thứ nữ trang. Cô Thiên nữ vận lá y trời dài mười hai hắc tay, trên khoác một lá nữa, chung quanh có hàng ngàn Thiên nữ theo hầu. Cô đứng tại cửa tòa Kim ốc có trang trí những chung rượu bằng vàng, những tua bông lúa vàng rũ lòng thòng sáng ngời, tự quán xét phước báu của mình và tự hỏi: “Ta đã làm gì mà được quả phước như vầy đây?”. Nhờ Thiên nhãn cô quán thấy: “Nhờ ta đã để bát cốm rang đến Trưởng lão Ca Diếp mới được phước nầy.”. Cô suy nghĩ: “Chỉ làm phước nhỏ như vậy mà được quả lớn thế này, bây giờ ta không nên dể duôi, ta sẽ làm công quả giúp đỡ Trưởng lão để duy trì phước báu nầy cho được lâu dài bền vững.”.
Thế rồi, từ sáng sớm, nàng Thiên nữ xách theo cây chổi vàng và cái rổ dùng để hốt rác, xuống quét dọn chung quanh cốc của Trưởng lão. Quét xong, cô xách nước uống, nước xài châm đầy sẵn cho Trưởng lão dùng.
Trưởng lão thấy lạ, tự hỏi: “Chắc có lẽ ông Sa di hoặc vị Sa môn trẻ nào làm công quả đây!”
Ngày hôm sau, cô Thiên nữ cũng xuống làm công quả như cũ và Trưởng lão cũng nghĩ là các vị sư trẻ làm. Đến ngày thứ ba Trưởng lão nghe tiếng quét của nàng Thiên nữ và nhìn thấy hào quang của thân cô lọt qua kẻ vách, liên mở cửa ra hỏi:
- Ai quét đó?
- Bạch Ngài, con! Con là Thiên nữ Lājā (Cốm Rang), là người hộ độ của Ngài.
- Bần Tăng không có người hộ độ nào tên như thế cả!
- Bạch Ngài, trong khi giữ ruộng lúa Sāli (Xa Li), con đã cúng dường cốm rang đến Ngài với tâm tịnh tín, khi con quay về bị con rắn độc cắn chết, sanh lên cung trời Đao Lợi. Nhờ Ngài con có được quả phước như thế, nên bây giờ con đến làm công quả với Ngài để duy trì phước báu cho lâu dài đó Ngài!
- Hôm qua và hôm kia cũng chính cô đã đến đây quét dọn và múc nước uống, nước xài, châm sẵn để dành cho bần tăng phải không?
- Dạ phải, bạch Ngài.
- Thôi được rồi, này Thiên nữ, hãy lãng xa đi lo việc của cô đi! Từ rày về sau cô đừng đến nơi này nữa!
- Bạch Ngài, xin Ngài đừng để con thiệt thòi, hãy để cho con hộ độ đến Ngài, để bảo trì phước báu của con.
- Hãy biến mất đi, cô Thiên nữ! Đừng để từ đây về sau, các vị Pháp Sư cầm quạt ngồi lên Pháp tọa thuyết rằng: Nghe nói có một cô Thiên nữ hằng đến làm công quả múc nước uống, nước xài hộ độ Trưởng lão Mahākassapa. Cô hãy đi, từ rày về sau đừng đến đây nữa!
Cô Thiên nữ van lơn nhiều lượt:
- Bạch Ngài, xin Ngài đừng để cho con chịu thiệt thòi.
Trưởng lão tự nghĩ: “Cô nầy không chịu vâng lời ta!” Trưởng lão vỗ tay quở rằng: “Cô không biết độ lượng!”.
Cô Thiên nữ không thể đứng yên tại chỗ, phải bay lên hư không, chắp tay đứng nửa lừng mà khóc than rằng:
- Bạch Ngài, xin Ngài đừng làm con mất phước. Xin Ngài ban ân cho con giữ phước được lâu dài!
Đức Bổn Sư ngồi bên trong hương thất, nghe tiếng khóc của Thiên nữ, bèn phóng hào quang tỏa ra, thị hiện như đang ngồi trước mặt cô mà thuyết giảng rằng: “Nầy Thiên nữ, con trai Ta là Kassapa (Ca Diếp), là người nghiêm trì Giới Luật, thu thúc Lục căn, đã xét kỹ không cần đến những người muốn làm phước, đảm đang gánh nặng của mình. Tuy nhiên sự làm phước là một gánh nặng mà đưa con người đến chỗ an vui ngay trong kiếp nầy và trong những kiếp vị lai nữa.”.
Nói rồi, Đức Bổn Sư thuyết pháp và ngâm kệ rằng:
“Puññañce puriso kayirā,
Kayirāth’enaṃ punappunaṃ;
Tamhi chandaṃ kayirātha,
Sukho puññassa uccayoti.”
Nếu đã làm việc lành,
Hãy nên thường làm mãi,
Nên vui làm việc lành,
Hhễ chứa lành nhất định thọ lạc.
(Bản dịch của Ngài T.K. Trí Đức)
CHÚ GIẢI:
Puññaṃ: nếu một người làm phước tự nhủ: “Ta đã làm phước được một lần rồi, thì không nên lấy đó làm tự mãn mà hãy rán làm phước nhiều lần nữa. Ngay trong lúc làm phước hãy siêng năng, sốt sắng thỏa thích trong việc phước của mình làm. Tại sao?”.
Sukho puññassa uccayo: quả nhiên người tích trữ phước, phước càng tăng trưởng, đưa người đến nơi an vui, hạnh phúc ngay trong đời này và những đời sau.
Cuối thời Pháp, cô Thiên nữ đứng cách xa độ bốn mươi lăm do tuần liền chứng đắc Tu Đà Hườn quả.
Để bát vừa xong, kế chết liền,
Lên trời, hưởng phước lộc Chư Thiên,
Biết mình được phước do làm phước,
Thiếu nữ càng ham hưởng phước điền!
Nhưng Ngài Ca Diếp chẳng ưng cho,
Thiên Nữ hộ Ngài việc nhỏ to,
Lại đuổi cô đi, cô phát khóc,
Phật nghe, bèn dạy: Chớ buồn lo!
Điều lành, nên gắng lập thêm hoài,
Phước báu về sau hưởng mới dai!
Nếu cả một đời tu phước nghiệp,
Lâm chung nào sợ khổ lâu dài!
DỨT TÍCH THIÊN NỮ CỐM RANG
Lājadevadhītāvatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Puññañceti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto lājadevadhītaraṃ ārabbha kathesi. Vatthu rājagahe samuṭṭhitaṃ.
Āyasmā hi mahākassapo pippaliguhāyaṃ viharanto jhānaṃ samāpajjitvā sattame divase vuṭṭhāya dibbena cakkhunā bhikkhācāraṭṭhānaṃ olokento ekaṃ sālikhettapālikaṃ itthiṃ sālisīsāni gahetvā lāje kurumānaṃ disvā “saddhā nu kho, assaddhā”ti vīmaṃsitvā “saddhā”ti ñatvā “sakkhissati nu kho me saṅgahaṃ kātuṃ, no”ti upadhārento “visāradā kuladhītā mama saṅgahaṃ karissati, katvā ca pana mahāsampattiṃ labhissatī”ti ñatvā cīvaraṃ pārupitvā pattamādāya sālikhettasamīpeyeva aṭṭhāsi. Kuladhītā theraṃ disvāva pasannacittā pañcavaṇṇāya pītiyā phuṭṭhasarīrā “tiṭṭhatha, bhante”ti vatvā lāje ādāya vegena gantvā therassa patte ākiritvā pañcapatiṭṭhitena vanditvā, “bhante, tumhehi diṭṭhadhammassa bhāginī assa”nti patthanaṃ akāsi. Thero “evaṃ hotū”ti anumodanamakāsi. Sāpi theraṃ vanditvā attanā dinnadānaṃ āvajjamānā nivatti. Tāya ca pana kedāramariyādāya gamanamagge ekasmiṃ bile ghoraviso sappo nipajji. So therassa kāsāyapaṭicchannaṃ jaṅghaṃ ḍaṃsituṃ nāsakkhi. Itarā dānaṃ āvajjamānā nivattantī taṃ padesaṃ pāpuṇi. Sappo bilā nikkhamitvā taṃ ḍaṃsitvā tattheva pātesi. Sā pasannacittena kālaṃ katvā tāvatiṃsabhavane tiṃsayojanike kanakavimāne suttappabuddhā viya sabbālaṅkārapaṭimaṇḍitena tigāvutena attabhāvena nibbatti. Sā dvādasayojanikaṃ ekaṃ dibbavatthaṃ nivāsetvā ekaṃ pārupitvā accharāsahassaparivutā pubbakammapakāsanatthāya suvaṇṇalājabharitena olambakena suvaṇṇasarakena paṭimaṇḍite vimānadvāre ṭhitā attano sampattiṃ oloketvā “kiṃ nu kho me katvā ayaṃ sampatti laddhā”ti dibbena cakkhunā upadhārentī “ayyassa me mahākassapattherassa dinnalājanissandena sā laddhā”ti aññāsi.
Sā evaṃ parittakena kammena evarūpaṃ sampattiṃ labhitvā “na dāni mayā pamajjituṃ vaṭṭati, ayyassa vattapaṭivattaṃ katvā imaṃ sampattiṃ thāvaraṃ karissāmī”ti cintetvā pātova kanakamayaṃ sammajjaniñceva kacavarachaḍḍanakañca pacchiṃ ādāya gantvā therassa pariveṇaṃ sammajjitvā pānīyaparibhojanīyaṃ upaṭṭhāpesi. Thero taṃ disvā “kenaci daharena vā sāmaṇerena vā vattaṃ kataṃ bhavissatī”ti sallakkhesi. Sā dutiyadivasepi tatheva akāsi, theropi tatheva sallakkhesi. Tatiyadivase pana thero tassā sammajjanisaddaṃ sutvā tālacchiddādīhi ca paviṭṭhaṃ sarīrobhāsaṃ disvā dvāraṃ vivaritvā “ko esa sammajjatī”ti pucchi. “Ahaṃ, bhante, tumhākaṃ upaṭṭhāyikā lājadevadhītā”ti. “Nanu mayhaṃ evaṃnāmikā upaṭṭhāyikā nāma natthī”ti. “Ahaṃ, bhante, sālikhettaṃ rakkhamānā lāje datvā pasannacittā nivattantī sappena daṭṭhā kālaṃ katvā tāvatiṃsadevaloke uppannā, mayā ayyaṃ nissāya ayaṃ sampatti laddhā, idānipi tumhākaṃ vattapaṭivattaṃ katvā ‘sampattiṃ thāvaraṃ karissāmī’ti āgatāmhi, bhante”ti. “Hiyyopi parepi tayāvetaṃ ṭhānaṃ sammajjitaṃ, tayāva pānīyabhojanīyaṃ upaṭṭhāpita”nti. “Āma, bhante”ti. “Apehi devadhīte, tayā kataṃ vattaṃ kataṃva hotu, ito paṭṭhāya imaṃ ṭhānaṃ mā āgamī”ti. “Bhante, mā maṃ nāsetha, tumhākaṃ vattaṃ katvā sampattiṃ me thiraṃ kātuṃ dethā”ti. “Apehi devadhīte, mā maṃ anāgate cittabījaniṃ gahetvā nisinnehi dhammakathikehi ‘mahākassapattherassa kira ekā devadhītā āgantvā vattapaṭivattaṃ katvā pānīyaparibhojanīyaṃ upaṭṭhāpesī’ti vattabbataṃ kari, ito paṭṭhāya idha mā āgami, paṭikkamā”ti. Sā “mā maṃ, bhante, nāsethā”ti punappunaṃ yāciyeva. Thero “nāyaṃ mama vacanaṃ suṇātī”ti cintetvā “tuvaṃ pamāṇaṃ na jānāsī”ti accharaṃ pahari. Sā tattha saṇṭhātuṃ asakkontī ākāse uppatitvā añjaliṃ paggayha, “bhante, mayā laddhasampattiṃ mā nāsetha, thāvaraṃ kātuṃ dethā”ti rodantī ākāse aṭṭhāsi.
Satthā jetavane gandhakuṭiyaṃ nisinnova tassā roditasaddaṃ sutvā obhāsaṃ pharitvā devadhītāya sammukhe nisīditvā kathento viya “devadhīte mama puttassa kassapassa saṃvarakaraṇameva bhāro, puññatthikānaṃ pana ‘ayaṃ no attho’ti sallakkhetvā puññakaraṇameva bhāro. Puññakaraṇañhi idha ceva samparāye ca sukhamevā”ti vatvā anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –
“Puññañce puriso kayirā, kayirā naṃ punappunaṃ;
Tamhi chandaṃ kayirātha, sukho puññassa uccayo”ti.
Tassattho – sace puriso puññaṃ kareyya, “ekavāraṃ me puññaṃ kataṃ, alaṃ ettāvatā”ti anoramitvā punappunaṃ karotheva. Tassa akaraṇakkhaṇepi tamhi puññe chandaṃ ruciṃ ussāhaṃ karotheva. Kiṃ kāraṇā? Sukho puññassa uccayo. Puññassa hi uccayo vuḍḍhi idhalokaparalokasukhāvahanato sukhoti.
Desanāvasāne devadhītā pañcacattālīsayojanamatthake ṭhitāva sotāpattiphalaṃ pāpuṇīti.
Lājadevadhītāvatthu tatiyaṃ.
IX. 3. Goddess and Monk
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
118. If a man do works of merit, he should do them again and again;
He should long to do works of merit; happy is the outcome of works of merit.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to the goddess Lājā. The story begins at Rājagaha.
For while Venerable Kassapa the Great was in residence at Pipphali Cave, he entered into a state of trance, remaining therein for seven days. Arising from trance on the seventh day, he surveyed with Supernatural Vision the places where he was wont to go his rounds for alms. As he looked abroad, he beheld a certain woman, the keeper of a field of rice-paddy, parching heads of rice which she had gathered. Thereupon he considered within himself, “Is she endowed with faith or is she not endowed with faith?” Straightway becoming aware that she was endowed with faith, he reflected, “Will she be able to render me assistance?” Straightway he became aware of the following, “This noble young woman is wise and resourceful; she will render me assistance, and as the result of so doing will receive a rich reward.” So he put on his robe, took bowl in hand, and went and stood near the rice-field.
When this noble young woman saw the Elder, her heart believed, and her body was suffused with the five sorts of joy. “Wait a moment, Reverend Sir,” said she. Taking some of the parched rice, she went quickly to him, poured the rice into the Elder’s bowl, and then, saluting him with the Five Rests, she made an Earnest Wish, saying, “Reverend Sir, may I be a partaker of the Truth you have seen.” “So be it,” replied the Elder, pronouncing the words of thanksgiving. Then that noble young woman saluted the Elder and set out to return, reflecting upon the alms she had given to the Elder.
Now in a certain hole by the road skirting the field of growing rice lurked a poisonous snake. He was not able to bite the Elder’s leg, for it was covered with his yellow robe. But as that noble young woman reached that spot on her return, reflecting upon the alms she had given to the Elder, the snake wriggled out of his hole, bit her, and then and there caused her to fall prostrate on the ground. Dying with believing heart, she was reborn in the World of the Thirty-three. Like a sleeper awakened, she awoke in a celestial mansion of gold thirty leagues in extent; her stature was three-quarters of a league. She wore a celestial robe twelve leagues in measure as an undergarment, and another celestial robe twelve leagues long as an upper garment. She had a retinue of a thousand celestial nymphs. The portal of the mansion was richly ornamented, and there hung down therefrom a golden vessel filled with golden grains of rice, to make known her former work of merit.
Standing at the portal of the mansion, she surveyed her glory and considered within herself, “Through what work of merit did I attain this glory?” Straightway she became aware of the following, “This my glory is the result of my gift of parched rice to Elder Kassapa the Great.” Then she thought to herself, “Since I have received this splendor and glory as the result of a trifling work of merit, I ought not henceforth to be heedless. I will therefore perform the major and minor duties for the Elder and so make my salvation sure.” Accordingly early in the morning she took a golden broom and a golden receptacle for sweepings, went to the Elder’s cell, swept it clean, and set out water for drinking.
When the Elder saw what had been done, he concluded, “Some probationer or novice must have rendered me this service.” On the second day the goddess did the same thing again, and the Elder again came to the same conclusion. But on the third day the Elder heard the sound of her sweeping, and looking in through the keyhole, saw the radiant image of her body. And straightway he asked, “Who is it that is sweeping?” “It is I, Reverend Sir, your female disciple the goddess Lājā.” “I have no female disciple by that name.” “Reverend Sir, when I was a young woman tending a rice-field, I gave you parched rice; as I returned on my way, a snake bit me, and I died with believing heart and was reborn in the World of the Thirty-three. Since it was through you that I received this glory, I said to myself, ‘I will perform the major and minor duties for you and so make my salvation sure.’ Therefore came I hither, Reverend Sir.” “Was it you that swept this place for me yesterday and on the preceding days, setting out water for drinking?” “Yes, Reverend Sir.”
“Pray depart hence, goddess. Never mind about the duties you have rendered, but henceforth come no more hither.” “Reverend Sir, do not destroy me. Permit me to perform the major and minor services for you and so make my salvation sure.” “Goddess, depart hence, lest in the future, when expounders of the Law take the variegated fan and sit down, they have reason to say, ‘Report has it that a goddess comes and performs the major and minor duties for Elder Kassapa the Great, setting out water for him to drink.’ Henceforth, therefore, come no more hither, but turn your steps elsewhere.” “Reverend Sir, do not destroy me,” begged the goddess again and again. The Elder thought to himself, “This goddess pays no attention to my command.” Therefore he said to her, “You do not know your place.” So saying, he snapped his fingers in contempt. The goddess, not daring to remain where she was, flew up into the air, and extending her clasped hands in an attitude of reverence, cried out, “Reverend Sir, do not nullify the attainment I have attained. Let me make my salvation sure.” Thereupon the goddess wept and wailed and lamented, standing poised in the air.
As the Teacher sat in his Perfumed Chamber at Jetavana, he heard the sound of her lamentation. Therefore he sent forth a luminous image of himself, and sitting down face to face as it were with the goddess, he opened his lips and said, “Goddess, it was indeed the duty of my son Kassapa the Great to restrain himself. But they who desire to perform works of merit conclude, ‘This one thing alone is needful,’ and recognize the doing of works of merit as their sole duty. Indeed, both in this world and the world to come, it is the doing of good works alone that brings happiness.” Then he joined the connection, and preaching the Law, pronounced the following Stanza,
118. If a man do works of merit, he should do them again and again;
He should long to do works of merit; happy is the outcome of works of merit.
- Text: N iii. 6-9.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.