Tích Phạm Hạnh Của Thí Chủ Quyết Định Phước Báu Cúng Dường
Devahitabrāhmaṇavatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 423 Kinh Pháp Cú, phẩm Bà-la-môn, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Thiền viện Viên Chiếu dịch.
Bản Việt · Thiền viện Viên Chiếu dịch
Ai biết được đời trước ...
Đức Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến câu hỏi của ông Bà-la-môn Devahita.
Một hôm, đức Thế Tôn bị chứng khó chịu trong người, liền bảo Tôn giả Upavàna đến nhà người Bà-la-môn tên Devahita xin nước nóng. Tôn giả đến, nói rõ chứng bệnh của đức Phật và xin ông Bà-la-môn nước nóng. Ông nghe vậy vô cùng hoan hỉ:
- Thật may mắn cho tôi quá, được dịp cúng nước nóng cho bậc Giác ngộ Vô thượng.
Ông lấy nước nóng và một bình mật mía đưa Tôn giả, ra lệnh cho một gia nhân mang phụ nước nóng đi.
Tôn giả thỉnh Phật tắm nước nóng, và pha mật bằng nước ấm cho Ngài dùng. Ngay sau đó cơn đau của Ngài dịu xuống.
Ông Bà-la-môn thầm nghĩ: "Người ta nên cúng dường ai để được phước lớn? Ta sẽ hỏi đức Thế Tôn".
Ông đến gặp Phật và đọc một bài kệ:
Bố thí ai phước lớn?
Ai nên được cúng dường?
Thí chủ phải thế nào?
Mới được phước vô lượng?
Đức Phật dạy:
- Một người Bà-la-môn như sau, cúng dường sẽ được phước báo rất lớn.
Ngài nói kệ:
423Ai biết được đời trước,
Thấy thiên giới, đọa xứ,
Đạt được sanh diệt tận,
Thắng trí, tự viên thành,
Bậc mâu-ni đạo sĩ,
Viên mãn mọi thành tựu,
Ta gọi Bà-la-môn.
--ooOoo--
Phần Kết
Đấng Pháp Vương Vô Thượng chánh đẳng chánh giác đã đạt đến Niết-bàn tối thượng. Những bài kệ Pháp Cú này được thốt ra từ kim khẩu của bậc Thánh Trí Đại hùng Đại lực ấy.
Ngài đã dạy Tứ Đế bằng 423 bài kệ. Và có đến 299 câu chuyện ra đời.
Được sống trong ngôi tu viện do triều đình xây cất tại khuôn viên hoàng cung đức vua Sirikùta, lòng tôi tràn ngập sự biết ơn.
Tôi biên soạn nên tập chú giải đúng đắn này về các bài kệ ấy, gồm 72 phần, để dễ bề đọc tụng, hoặc kể.
Phù hợp với ý và lời của các bài kệ, đặt cơ sở trên chánh pháp độ sanh của bậc Đạo sư trời và người.
Với công đức cúng dường này, xin nguyện cho tất cả ước vọng chính đáng của hết thảy chúng sanh được thành tựu, đơm kết thành hoa ngọt trái lành.
Xin chúc chư vị được thịnh vượng, an lạc và thân thể khang kiện!
- Hết -
Đầu trang | Mục lục | 01a | 01b | 01c | 01d | 02a | 02b | 03 | 04a | 04b | 05a | 05b | 06 | 07 | 08 | 09 |
10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | 25 | 26a | 26b | 26c
[Trở về trang Thư Mục]
updated: 12-03-2002
Devahitabrāhmaṇavatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Pubbenivāsanti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto devahitabrāhmaṇassa pañhaṃ ārabbha kathesi.
Ekasmiñhi samaye bhagavā vātarogena ābādhiko hutvā upavāṇattheraṃ uṇhodakatthāya devahitabrāhmaṇassa santikaṃ pahiṇi. So gantvā satthu ābādhikabhāvaṃ ācikkhitvā uṇhodakaṃ yāci, taṃ sutvā brāhmaṇo tuṭṭhamānaso hutvā “lābhā vata me, yaṃ mama santikaṃ sammāsambuddho uṇhodakassatthāya sāvakaṃ pahiṇī”ti uṇhodakassa kājaṃ purisena gāhāpetvā phāṇitassa ca puṭaṃ upavāṇattherassa pādāsi. Thero taṃ gāhāpetvā vihāraṃ gantvā satthāraṃ uṇhodakena nhāpetvā uṇhodakena phāṇitaṃ āloḷetvā bhagavato pādāsi, tassa taṅkhaṇeyeva so ābādho paṭipassambhi. Brāhmaṇo cintesi – “kassa nu kho deyyadhammo dinno mahapphalo hoti, satthāraṃ pucchissāmī”ti so satthu santikaṃ gantvā tamatthaṃ pucchanto imaṃ gāthamāha –
“Kattha dajjā deyyadhammaṃ, kattha dinnaṃ mahapphalaṃ;
Kathañhi yajamānassa, kathaṃ ijjhati dakkhiṇā”ti. (saṃ. ni. 1.199);
Athassa satthā “evarūpassa brāhmaṇassa dinnaṃ mahapphalaṃ hotī”ti vatvā brāhmaṇaṃ pakāsento imaṃ gāthamāha –
“Pubbenivāsaṃ yo vedi, saggāpāyañca passati;
Atho jātikkhayaṃ patto, abhiññāvosito muni; (Saṃ. ni. 1.199);
Sabbavositavosānaṃ, tamahaṃ brūmi brāhmaṇa”nti.
Tassattho – yo pubbenivāsaṃ pākaṭaṃ katvā jānāti, chabbīsatidevalokabhedaṃ saggañca catubbidhaṃ apāyañca dibbacakkhunā passati, atho jātikkhayasaṅkhātaṃ arahattaṃ patto, abhiññeyyaṃ dhammaṃ abhijānitvā pariññeyyaṃ parijānitvā pahātabbaṃ pahāya sacchikātabbaṃ sacchikatvā vosiko niṭṭhānaṃ patto, vusitavosānaṃ vā patto, āsavakkhayapaññāya monabhāvaṃ pattattā muni, tamahaṃ sabbesaṃ kilesānaṃ vosānaṃ arahattamaggañāṇaṃ brahmacariyavāsaṃ vutthabhāvena sabbavositavosānaṃ brāhmaṇaṃ vadāmīti.
Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsu. Brāhmaṇopi pasannamānaso saraṇesu patiṭṭhāya upāsakattaṃ pavedesīti.
Devahitabrāhmaṇavatthu cattālīsaṃ.
Brāhmaṇavaggavaṇṇanā niṭṭhitā.
Chabbīsatimo vaggo.
XXVI. 40. It is the Giver that makes the Gift
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
423. He that knows his former abodes...
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to a question asked by Brahman Devahita.
For once upon a time the Exalted One suffered from disorder of the humors and sent Elder Upavāṇa to Brahman Devahita for hot water. The Elder went to the Brahman, told him the Teacher was suffering from disorder of the humors, and asked him for hot water. When the Brahman heard the Teacher’s request, his heart was filled with joy. “How fortunate for me,” he exclaimed, “that the Supreme Buddha should send to me for hot water!” The Brahman gave the Elder hot water and a jar of molasses, ordering one of his men to carry the hot water on a pingo. The Elder caused the Teacher to bathe himself in hot water, and then, mixing the molasses with hot water, gave it to the Exalted One to drink. The Teacher’s ailment immediately abated.
The Brahman thought to himself, “To whom should one give alms to obtain a great reward? I will ask the Teacher.” So he went to the Teacher and asked him about the matter, pronouncing the following Stanza,
To whom shall one give alms? To whom must alms be given to get a great reward?
How, for the giver, does the reward become a great one?
Said the Teacher to the Brahman, “The alms of such a Brahman as this yield abundant fruit.” And proclaiming his conception of the true Brahman, he pronounced the following Stanza,
423. He that knows his former abodes, he that beholds heaven and hell,
He that has reached the end of birth and rebirth, the sage in whom Higher Knowledge has been perfected,
That man in whom all the Perfections have been perfected, such a man I call a Brahman.
- This story is an abbreviated version of Saṁyutta, vii. 2. 3: i. 174-175. Text: N iv. 232-234.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Thiền viện Viên Chiếu dịch, Tích Truyện Pháp Cú (1995), dịch từ bản Anh Buddhist Legends của E. W. Burlingame; bản số hoá trên BuddhaSasana. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.