Tích Sức Mạnh Tập Khí
Pilindavacchattheravatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 408 Kinh Pháp Cú, phẩm Bà-la-môn, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Thiền viện Viên Chiếu dịch.
Bản Việt · Thiền viện Viên Chiếu dịch
Nói lên lời ôn hòa ...
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Trúc Lâm, liên quan đến Tôn giả Pilindavaccha.
Thượng tọa Pilindavaccha dường như có thói quen nói năng với cư sĩ và Sa-môn bằng những lời lẽ chỉ dùng để gọi những kẻ lang thang cầu bơ cầu bất.
- Này đến đây, cha nội!
Hoặc:
- Thôi đi đi, lão đê tiện.
Một hôm, nhiều thầy Tỳ-kheo đến phàn nàn với đức Phật về hành vi của Tôn giả. Các thầy nói:
- Bạch Thế Tôn, Thượng tọa Pilindavaccha gọi các thầy Tỳ-kheo bằng những từ chỉ dùng cho hạng đầu đường xó chợ.
Đức Phật cho gọi Tôn giả đến, hỏi:
- Có người nói lỗi ông là đã gọi các Tỳ-kheo bằng những cử chỉ dùng cho hạng đầu đường xó chợ. Có không, Vaccha?
- Bạch Thế Tôn, có ạ! Con có lỗi ấy.
Đức Phật nhớ lại xem các kiếp trước vị Thượng tọa đó đã ở đâu, rồi Ngài bảo các Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, các ông đừng giận Tỳ-kheo Vaccha. Chẳng phải ông Vaccha còn nuôi lòng hận ghét bên trong mà nói năng với Tỳ-kheo huynh đệ như thế đâu. Thực tế là ông ấy đã qua năm trăm kiếp tái sanh vào nhà một người Bà-la-môn, và ông ấy đã sử dụng loại ngôn từ này quen thuộc trong suốt một thời gian lâu dài đến nỗi giờ đây nói với ai cũng thế, chỉ do sức mạnh của tập khí thôi. Người đã trừ được lậu hoặc chẳng bao giờ dùng lời lẽ thô bỉ, độc ác, chẳng bao giờ nói những lời khiến người vừa nghe liền thấy tổn thương. Chi do sức mạnh tập khí mà người đệ tử ấy của Ta nói năng kiểu ấy.
Ngài nói kệ:
408Nói lên lời ôn hòa,
Lợi ích và chân thật,
Không mất lòng một ai,
Ta gọi Bà-la-môn.
Pilindavacchattheravatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Akakkasanti imaṃ dhammadesanaṃ satthā veḷuvane viharanto pilindavacchattheraṃ ārabbha kathesi.
So kirāyasmā “ehi, vasali, yāhi, vasalī”tiādīni vadanto gihīpi pabbajitepi vasalivādeneva samudācarati. Athekadivasaṃ sambahulā bhikkhū satthu ārocesuṃ – “āyasmā, bhante, pilindavaccho bhikkhū vasalivādena samudācaratī”ti. Satthā taṃ pakkosāpetvā “saccaṃ kira tvaṃ pilindavaccha bhikkhū vasalivādena samudācarasī”ti pucchitvā “evaṃ, bhante”ti vutte tassāyasmato pubbenivāsaṃ manasikaritvā “mā kho tumhe, bhikkhave, vacchassa bhikkhuno ujjhāyittha, na, bhikkhave, vaccho dosantaro bhikkhū vasalivādena samudācarati, vacchassa, bhikkhave, bhikkhuno pañca jātisatāni abbokiṇṇāni sabbāni tāni brāhmaṇakule paccājātāni, so tassa dīgharattaṃ vasalivādo samudāciṇṇo, khīṇāsavassa nāma kakkasaṃ pharusaṃ paresaṃ mammaghaṭṭanavacanameva natthi. Āciṇṇavasena hi mama putto evaṃ kathetī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –
“Akakkasaṃ viññāpaniṃ, giraṃ saccamudīraye;
Yāya nābhisaje kañci, tamahaṃ brūmi brāhmaṇa”nti.
Tattha akakkasanti apharusaṃ. Viññāpaninti atthaviññāpaniṃ. Saccanti bhūtatthaṃ. Nābhisajeti yāya girāya aññaṃ kujjhāpanavasena na laggāpeyya, khīṇāsavo nāma evarūpameva giraṃ bhāseyya, tasmā tamahaṃ brāhmaṇaṃ vadāmīti attho.
Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.
Pilindavacchattheravatthu pañcavīsatimaṃ.
XXVI. 25. The Force of Habit
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
408. Free from harshness...
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Veḷuvana with reference to Elder Pilindavaccha.
It seems that this Venerable Elder was in the habit of accosting both laymen and monks with the epithet commonly applied only to outcasts. “Come, vile fellow! Go, vile fellow,” he would say to everyone he met. One day several monks complained about his conduct to the Teacher, saying, “Reverend Sir, Venerable Pilindavaccha accosts the monks with an epithet applicable only to outcasts.” The Teacher caused him to be summoned before him. “Is the charge true, Vaccha,” said the Teacher, “that you accost the monks with an epithet applicable only to outcasts?” “Yes, Reverend Sir,” replied Pilindavaccha, “the charge is true.”
The Teacher called before his mind the previous abodes of that Venerable Elder and said to the monks, “Monks, be not offended with the monk Vaccha. Monks, it is not because Vaccha entertains feelings of hatred within him, that he accosts his brother monks with an epithet applicable only to outcasts. The fact is, the monk Vaccha has passed through five hundred states of existence, and in everyone of these states of existence he was reborn in the family of a Brahman. The use of this epithet has been habitual with him for such a long time that he now applies it to everyone he meets simply from the force of habit. He that has rid himself of the evil passions never makes use of words that are harsh and cruel, never makes use of words that cut hearers to the quick. It is solely from the force of habit that my son speaks thus.” So saying, he expounded the Law, pronouncing the following Stanza,
408. Free from harshness, instructing the hearer, truthful: such are the words a man should utter;
Thereby he will offend none. Whoso thus speaks, him I call a Brahman.
- Cf. Udāna, iii. 6: 28-29; Aṅguttara Commentary on Etadagga Vagga, Story of Pilindavaccha; also Story xviii. 9. Text: N iv. 181-182.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Thiền viện Viên Chiếu dịch, Tích Truyện Pháp Cú (1995), dịch từ bản Anh Buddhist Legends của E. W. Burlingame; bản số hoá trên BuddhaSasana. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.