Tích Thợ Săn Kê Hữu
Kukkuṭamittanesādavatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 124 Kinh Pháp Cú, phẩm Ác, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 124)
“Pāṇimhi ce vaṇo nāssa,
Hareyya pāṇinā visaṃ;
Nābbaṇaṃ visamanveti,
Natthi pāpaṃ akubbato.”
“Bàn tay không thương tích,
Có thể cầm thuốc độc,
Không thương tích, tránh độc,
Không làm, không có ác.”
(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết khi Ngài ngự tại Veḷuvana (Trúc Lâm), đề cập đến người thợ săn Kê Hữu (Kukkuṭamitta).
Tương truyền rằng: Trong thành Sāvatthī (Vương Xá) có một tiểu thư con nhà triệu phú, khi nàng đến tuổi cập kê, cha mẹ cho ở riêng trong một gian phòng trên chót tòa lầu bảy từng, và cấp cho một cô nữ tỳ để chăm sóc, gìn giữ tiểu thư.
Trong khi còn ở chung với cha mẹ như thế, tiểu thư không đi ra khỏi nhà, nhưng một hôm, vào lúc xế chiều, tiểu thư ngó qua cửa sổ nhìn xuống đường, trông thấy chàng thợ săn tên Kê Hữu, hằng ngày mang theo năm trăm cái bẫy, năm trăm mũi tên vào rừng để săn dã thú nuôi mạng sống. Hôm nay anh ta bắn được năm trăm con thú rừng, chất đầy thịt thú lên một cỗ xe bò lớn, ngồi lên gọng xe mang vào thành bán thịt. Vừa thấy mặt anh thợ săn, tiểu thư sanh lòng ái luyến, trao thơ cho nữ tỳ cầm đi và dặn:
- Hãy đi trao thơ nầy cho anh ấy, hãy điều tra biết được chừng nào anh ấy sẽ đi, rồi trở về đây nhé.
Nữ tỳ đem thơ trao cho anh thợ săn, rồi hỏi:
- Chừng nào anh sẽ đi?
- Hôm nay bán hết thịt rồi, sáng mai tôi sẽ ra cửa thành nọ mà đi.
Nghe nói vậy, con nữ tỳ về học với tiểu thư. Tiểu thư tự mình sắp đặt đồ tế nhuyễn để đem theo phòng thân, rồi sáng hôm sau mặc quần áo dơ, mang vò đi chung với các nữ tỳ ra bến nước xách nước, tiểu thư ra khỏi nhà, đến chỗ cửa thành đứng đón anh thợ săn đi ra. Quả nhiên, anh Kê Hữu từ sáng sớm đã đánh xe ra khỏi cổng làng, tiểu thư chạy theo sau anh ta. Thấy vậy, thợ săn hỏi:
- Cô là con gái nhà ai, tôi chưa từng quen biết cô? Xin cô vui lòng đừng bám sát theo tôi!
- Không phải anh quyến rũ tôi đi, mà chính tôi tự theo anh. Anh cứ làm thinh đánh xe bò của mình đi là đủ!
Anh thợ săn ngăn cản nhiều lượt, tiểu thư bèn nói:
- Khi hạnh phúc đến gần thì không nên ngăn cản.
Được biết tiểu thư tự ý muốn về sống chung với mình, anh thợ săn để tiểu thư lên xe và tiếp tục đi.
Ông bà Bá hộ cho tìm kiếm tiểu thư khắp nơi không thấy, nghĩ rằng con mình đã chết, nên bày nghi lễ cúng tế vong hồn con mình.
Còn tiểu thư chung sống với thợ săn Kê Hữu, lần hồi có được bảy người con trai. Khi con trai khôn lớn, tiểu thư lo bề gia thất cho chúng để cầm chân chúng lại.
Một hôm, vào lúc gần sáng, Đức Bổn Sư xả Thiền rồi, quan sát thế gian, nhìn thấy anh Kê Hữu cùng với các con và dâu lọt vào Võng trí của Ngài. Quán thêm nữa, Ngài thấy tất cả những chúng sanh nầy có căn đắc Tu Đà Hườn, cho nên sáng sớm hôm sau, Ngài đắp y và mang bát đi ngay đến khu gần bẫy sập của anh Kê Hữu.
Ngày ấy, không có con thú rừng nào mắc bẫy cả. Đức Bổn Sư lưu lại một dấu chân tại chỗ gài bẫy rồi đi thẳng tới ngồi dưới bóng mát của một chòm cây.
Sáng sớm hôm ấy, Kê Hữu xách cung tên đi đến nơi gài bẫy, trước hết thăm các bẫy không thấy có con thú nào mắc cả mà lại thấy dấu chân của Đức Bổn Sư lưu lại đó. Anh ta nghĩ thầm: “Ai đã đến đây thả hết những con thú mắc bẫy như vậy cà?”. Lần theo, anh ta thấy Đức Bổn Sư đang ngồi dưới gốc cây, anh liền cột oan trái với Đức Bổn Sư. Anh ta nghĩ thầm: “Tên nầy đã thả hết thú của ta, ta sẽ giết chết nó.”, rồi giương cung lên. Đức Bổn Sư để yên cho anh thợ săn giương cung, nhưng không cho anh ta buông tên đi. Anh ta buông tên không được mà bỏ tay không xuống cũng không được, nghe hai bên cạnh sườn như nứt bể ra, từ miệng, nước miếng chảy xuống ròng ròng, cứ đứng trân trân mà chịu khổ như vậy.
Khi ấy, các con trai của Kê Hữu ở nhà, thấy cha đi lâu về, hỏi mẹ thì bà mẹ cũng chẳng biết nguyên do, bèn bảo:
- Các con hãy đi tìm cha con đi!
Bảy người con trai mang cung tên ra đi, thấy cha còn đứng nguyên một chỗ. Nghĩ Đức Bổn Sư là kẻ nghịch với cha mình, cả bảy người con đều giương cung lên và cũng đứng trân như cha của họ, do oai lực Thần thông của Đức Phật.
Bà mẹ ở nhà trông ngóng “Không biết cha con ông nầy đi sao mà lâu về vậy?”. Bà với bảy nàng dâu cùng đi vào rừng, thấy dạng người thợ săn và bảy người con trai, bà tự hỏi: “Mấy cha con giương cung nhắm bắn ai đây vậy?”. Khi nhìn thấy Đức Bổn Sư bà chấp hai tay la lớn lên:
- Mấy người đừng giết cha tôi! Mấy người đừng giết cha tôi!
Thợ săn Kê Hữu nghe la, tự nghĩ: “Ác hại thay! Té ra ông nầy là cha vợ của ta mà ta không biết. Nếu vợ ta không nói thì nghiệp của ta tạo ra nặng nề không biết nầy?”.
Các con của Kê Hữu cũng nghĩ rằng: “Nghe nói ông nầy là ông ngoại của ta! Ôi! Nếu ta giết hại ông thì nghiệp của ta nặng lắm vậy!”.
Khi Kê Hữu nhìn nhận: “Ông nầy là nhạc phụ của ta” thì tâm Từ phát khởi. Các con của anh ta cũng phát khởi Từ tâm khi nghĩ rằng: “Đây là ông ngoại của ta.”.
Khi ấy, mẹ của chúng là tiểu thư con ông Bá hộ bảo:
- Hãy vứt bỏ hết cung tên xin sám hối với cha ta!
Đức Bổn Sư biết tâm của cha con thợ săn đã mềm dịu, liền cho phép họ hạ cung xuống. Tất cả đều đến đảnh lễ Đức Thế Tôn và bạch:
- Xin Ngài tha thứ tội lỗi cho chúng con!
Rồi họ ngồi xuống một bên, khi ấy Đức Bổn Sư liền thuyết lên Tuần tự pháp (Anupubbīkathaṃ) cho họ nghe. Cuối thời Pháp, thợ săn Kê Hữu cùng các con và dâu, tất cả mười lăm người đều đắc quả Tu Đà Hườn.
Kế đó, Đức Bổn Sư đi khất thực và sau bữa ngọ trai, Ngài trở về chùa. Khi ấy, Trưởng lão Ānanda hỏi:
- Bạch Ngài, hôm nay Ngài đi đâu?
- Nầy Ānanda! Ta đến viếng thợ săn Kê Hữu.
- Bạch Ngài, Ngài có tế độ cho anh ta bỏ nghiệp sát sanh chăng?
- Có, Ānanda ạ! Cả cha, con và dâu, mười lăm người sau khi có đức tin bất động, không còn hoài nghi Tam Bảo rồi, đều ngưng hẳn nghiệp sát sanh.
Các Tỳ khưu hỏi:
- Bạch Ngài, thế còn vợ anh ta có đắc quả Thánh
không?
- Nầy các Tỳ khưu! Vợ anh ấy khi còn là con gái ở nhà với cha mẹ đã đắc Tu Đà Hườn rồi!
Các Tỳ khưu ráp nhau lại đề khởi câu chuyện nầy: “Nghe nói vợ của Kê Hữu khi còn là con gái đã chứng đắc Tu Đà Hườn rồi mới về làm vợ của Kê Hữu có được bảy người con trai. Bấy lâu nay, mỗi lần chồng bảo: “Đem cung, đem tên, đem dao găm, đem lao, đem lưới lại đây!”, thì chị ta đem những thứ khí giới ấy trao cho chồng, để chồng mang đi mà giết thịt. Thử hỏi một vị Thánh nhân Tu Đà Hườn cũng còn sát sanh hay sao?”.
Đức Bổn Sư đến hỏi: “Nầy các Tỳ khưu, hôm nay các thầy ngồi đây thảo luận chuyện gì?”.
- Bạch Ngài, chuyện nầy…
- Nghe vậy Đức Bổn Sư giải thích:
- Nầy các Tỳ khưu, vị Nữ Thánh Dự Lưu không tạo tội sát sanh. Nàng chỉ nghĩ: “Ta phải vâng lời chồng mà làm việc”, chớ không có tâm xúi dục chồng: “Hãy cầm lấy cái nầy, đi đến đó và giết hại chúng sanh đi!”. Quả thật, nếu trong lòng bàn tay không có thương tích, ta lấy tay cầm nắm thuốc độc, thuốc độc không thể đốt lòng bàn tay như thế nào, thì cũng thế ấy, người không làm tội ác do không có tác ý bất thiện, dầu có cầm cung tên, khí giới mà trao ra cũng không bị tội.
Nói rồi, Đức Bổn Sư thuyết pháp và ngâm kệ rằng:
“Pāṇimhi ce vaṇo nāssa,
Hareyya pāṇinā visaṃ;
Nābbaṇaṃ visamanveti,
Natthi pāpaṃ akubbato.”
Với bàn tay không thương tích, có thể nắm
thuốc độc mà không bị nhiễm độc, với người không làm ác thì không bao giờ bị ác.
(Bản dịch của T.K. Trí Đức)
CHÚ GIẢI:
Nāssa: không có.
Hareyya: có thể cầm lấy.
Vì sao? Vì không có thương tích thì thuốc độc không thể ngấm vào cơ thể tác hại được. Quả thật, bàn tay không bị thương, thuốc độc không thể ngấm, cũng vậy, người không có Tác ý bất thiện tính làm việc ác, thì dầu có cầm cung tên, khí giới trao ra cũng không bị quả báo ác hại. Cũng như bàn tay không vết tích, không bị nhiễm độc, tâm không có ý ác không bị ác theo dõi.
Cuối thời Pháp, nhiều vị Tỳ khưu chứng đạt Thánh quả, nhất là Tu Đà Hườn.
Một thời gian sau, các Tỳ khưu lại đề khởi lên câu chuyện nầy: “Do nhân duyên nào mà Kê Hữu với các con trai và con dâu lại chứng đắc Tu Đà Hườn đạo? Tại lý do nào mà họ lại tái sanh vào gia đình thợ săn?”.
Đức Bổn Sư ngự đến hỏi:
- Nầy các Tỳ khưu, hôm nay các thầy ngồi đây, thảo luận về chuyện gì?
- Bạch Ngài, chuyện nầy…
Nghe vậy, Đức Bổn Sư giải thích:
- Nầy các Tỳ khưu, thuở xa xưa, các Phật giáo đồ cùng nhau hội họp bàn tính việc xây cất Thánh tháp để tôn trí Xá lợi Phật Ca Diếp. Họ hỏi nhau: “Lấy thứ đất gì, lấy nước gì để xây Thánh tháp nầy?”. Rồi họ đi đến quyết định lấy hùng hoàng vàng và thạch tín đỏ làm đất, lấy dầu mè làm nước. Họ bèn lấy hai thứ đá nghiền nát như bột, trộn với dầu mè thành hồ để gắn gạch, cẩn vàng lót bên trong tháp. Ngoài mặt, ngay cửa lót toàn loại gạch đặc bằng vàng khối, mỗi cục gạch trị giá cả trăm ngàn đồng. Khi đã hoàn thành Thánh tháp, sắp tôn trí Xá lợi Phật, các Thiện tín nghĩ rằng: “Cuộc lễ tôn trí Xá lợi sẽ rất cần nhiều tiền của. Vậy ta nên bầu ai làm chủ tịch đảm trách việc nầy đây?”.
Khi ấy, ông Bá hộ cư ngụ tại làng lên tiếng: “Tôi sẽ làm chủ lễ.”, rồi ông xuất ra mười triệu đồng để lo tổ chức lễ tôn trí Xá lợi. Thấy vậy, dân làng trong nước phàn nàn rằng: “Bá hộ trong thành nầy tích chứa nhiều tiền của mà không thể làm chủ cuộc lễ Thánh tháp như vậy, lại để cho ông Bá hộ ở làng bên bỏ ra mười triệu đồng mà làm chủ lễ.”.
Câu chuyện bàn tán nầy lọt vào tai ông Bá hộ trong thành, ông bèn bỏ ra hai mươi triệu đồng và nói:
- Tôi xin chịu xuất ra hai mươi triệu đồng để làm chủ lễ nầy.
Ông Bá hộ làng nói:
- Tôi xin bỏ ra ba mươi triệu đồng sẽ làm chủ lễ.
Ông Bá hộ thành cũng không chịu thua, tăng số tiền xuất ra để làm chủ lễ là tám mươi triệu đồng.
Gia sản của Bá hộ trong làng chỉ có tất cả chín mươi triệu đồng, còn gia sản của Bá hộ thành giàu có đến bốn trăm triệu, nên ông ở làng suy nghĩ: “Nếu ta nói: “Tôi chịu bỏ ra chín mươi triệu đồng.”, thì ông nầy sẽ nói: “Tôi sẽ bỏ ra một trăm triệu.”, chừng ấy mọi người sẽ biết là ta hết của rồi.”. Ông liền tuyên bố:
- Tôi cũng xin bỏ ra bấy nhiêu tiền để làm phước, và hơn nữa, tôi sẽ đem cả vợ con ra làm công quả. – Nói rồi, ông dắt cả bảy đứa con trai, bảy nàng dâu cùng với vợ đến làm công quả cho Thánh tháp.
Ông Bá hộ thành có thể tăng thêm số tiền làm phước nhưng phải nhường cho đối phương phần công quả của tự mình lẫn con và dâu cho Bá hộ làng, nên tuyên bố rằng: “Xin hãy để cho ông nầy làm chủ lễ.”, và tất cả Thiện tín bầu ông ở làng làm chủ lễ ngay. Như thế là cả mười sáu người đều làm công quả nơi bảo tháp Xá lợi, còn Bá hộ thành người ta cho rảnh rang tự do.
Nhờ suốt đời chăm sóc Thánh tháp như thế, sau khi chết, cả mười sáu người được sanh lên Thiên giới. Họ ở đó hưởng phước của trời suốt một thời gian không có Phật. Đến thời Đức Phật hiện tại ra đời, người vợ hạ sanh vào làm tiểu thư con ông Bá hộ trong thành Vương Xá. Lúc còn con gái, tiểu thư đã đắc quả Tu Đà Hườn.
Người chồng vì nghiệp còn nặng, không thấy chân lý nên sau khi chết đi, chuyển kiếp đầu thai vào gia đình thợ săn. Tiểu thư con ông Bá hộ sở dĩ vừa thấy mặt người thợ săn là phát tâm ái luyến vì họ đã từng là vợ chồng với nhau, nay chỉ nối lại mối tình xưa, như Phật ngôn có bài kệ rằng:
“Pubbe va sannivāsena,
Paccuppannahitena vā;
Evantaṃ jāyate pemaṃ,
Uppalaṃ va yathodaketi.”
“Xưa từng chung chạ ra vào,
Giờ may tái ngộ, lòng nào chẳng lay.
Men tình vừa nhấp đã say,
Bèo kia gặp nước càng ngày càng tăng.”
Tiểu thư con Bá hộ theo về với thợ săn Kê Hữu là vì mối tình tiền kiếp. Các con trai, từ Thiên giới đầu thai vào lòng người mẹ cũ. Còn các nàng Thiên nữ là con dâu cũng tái sanh vào chỗ nầy, chỗ nọ, nhưng đến tuổi cập kê đều quần tụ về một nhà với cha mẹ chồng cũ. Tất cả gia đình đã nhờ công quả chăm sóc Thánh tháp thờ Xá lợi mà kiếp nầy được chứng quả Tu Đà Hườn.
Sơ quả lấy chồng gã thợ săn,
Bởi duyên chung sống ở tiền căn,
Hằng ngày phụ tiếp chồng hành ác,
Tăng hỏi: “Như nàng có tội chăng?”
Phật dạy: Nàng không có ác tâm,
Thì không thể tạo nghiệp si lầm!
Thuốc kia dầu độc, không phương hại,
Người có bàn tay chẳng vết cầm.
DỨT TÍCH THỢ SĂN KÊ HỮU
Kukkuṭamittanesādavatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Pāṇimhi ceti imaṃ dhammadesanaṃ satthā veḷuvane viharanto kukkuṭamittaṃ nāma nesādaṃ ārabbha kathesi.
Rājagahe kira ekā seṭṭhidhītā vayappattā sattabhūmikapāsādassa upari sirigabbhe ārakkhaṇatthāya ekaṃ paricārikaṃ datvā mātāpitūhi vāsiyamānā ekadivasaṃ sāyanhasamaye vātapānena antaravīthiṃ olokentī pañca pāsasatāni pañca sūlasatāni ādāya mige vadhitvā jīvamānaṃ ekaṃ kukkuṭamittaṃ nāma nesādaṃ pañca migasatāni vadhitvā tesaṃ maṃsena mahāsakaṭaṃ pūretvā sakaṭadhure nisīditvā maṃsavikkiṇanatthāya nagaraṃ pavisantaṃ disvā tasmiṃ paṭibaddhacittā paricārikāya hatthe paṇṇākāraṃ datvā “gaccha, etassa paṇṇākāraṃ datvā gamanakālaṃ ñatvā ehī”ti pesesi. Sā gantvā tassa paṇṇākāraṃ datvā pucchi – “kadā gamissasī”ti? So “ajja maṃsaṃ vikkiṇitvā pātova asukadvārena nāma nikkhamitvā gamissāmī”ti āha. Sā tena kathitakathaṃ sutvā āgantvā tassā ārocesi. Seṭṭhidhītā attanā gahetabbayuttakaṃ vatthābharaṇajātaṃ saṃvidahitvā pātova malinavatthaṃ nivāsetvā kuṭaṃ ādāya dāsīhi saddhiṃ udakatitthaṃ gacchantī viya nikkhamitvā taṃ ṭhānaṃ gantvā tassāgamanaṃ olokentī aṭṭhāsi. Sopi pātova sakaṭaṃ pājento nikkhami. Sā tassa pacchato pacchato pāyāsi. So taṃ disvā “ahaṃ taṃ ‘asukassa nāma dhītā’ti na jānāmi, mā maṃ anubandhi, ammā”ti āha. Na maṃ tvaṃ pakkosasi, ahaṃ attano dhammatāya āgacchāmi, tvaṃ tuṇhī hutvā attano sakaṭaṃ pājehīti. So punappunaṃ taṃ nivāretiyeva. Atha naṃ sā āha – “sāmi, sirī nāma attano santikaṃ āgacchantī nivāretuṃ na vaṭṭatī”ti. So tassā nissaṃsayena āgamanakāraṇaṃ ñatvā taṃ sakaṭaṃ āropetvā agamāsi. Tassā mātāpitaro ito cito ca pariyesāpetvā apassantā “matā bhavissatī”ti matakabhattaṃ kariṃsu. Sāpi tena saddhiṃ saṃvāsamanvāya paṭipāṭiyā satta putte vijāyitvā te vayappatte gharabandhanena bandhi.
Athekadivasaṃ satthā paccūsasamaye lokaṃ volokento kukkuṭamittaṃ saputtaṃ sasuṇisaṃ attano ñāṇajālassa anto paviṭṭhaṃ disvā, “kiṃ nu kho eta”nti upadhārento tesaṃ pannarasannampi sotāpattimaggassa upanissayaṃ disvā pātova pattacīvaraṃ ādāya tassa pāsaṭṭhānaṃ agamāsi. Taṃ divasaṃ pāse baddho ekamigopi nāhosi. Satthā tassa pāsamūle padavalañjaṃ dassetvā purato ekassa gumbassa heṭṭhā chāyāyaṃ nisīdi. Kukkuṭamitto pātova dhanuṃ ādāya pāsaṭṭhānaṃ gantvā ādito paṭṭhāya pāse olokayamāno pāse baddhaṃ ekampi migaṃ adisvā satthu padavalañjaṃ addasa. Athassa etadahosi – “ko mayhaṃ baddhamige mocento vicaratī”ti. So satthari āghātaṃ bandhitvā gacchanto gumbamūle nisinnaṃ satthāraṃ disvā, “iminā mama migā mocitā bhavissanti, māressāmi na”nti dhanuṃ ākaḍḍhi. Satthā dhanuṃ ākaḍḍhituṃ datvā vissajjetuṃ nādāsi. So saraṃ vissajjetumpi oropetumpi asakkonto phāsukāhi bhijjantīhi viya mukhato kheḷena paggharantena kilantarūpo aṭṭhāsi. Athassa puttā gehaṃ gantvā “pitā no cirāyati, kiṃ nu kho eta”nti vatvā “gacchatha, tātā, pitu santika”nti mātarā pesitā dhanūni ādāya gantvā pitaraṃ tathāṭhitaṃ disvā “ayaṃ no pitu paccāmitto bhavissatī”ti sattapi janā dhanūni ākaḍḍhitvā buddhānubhāvena yathā nesaṃ pitā ṭhito, tatheva aṭṭhaṃsu. Atha nesaṃ mātā “kiṃ nu kho me puttāpi cirāyantī”ti vatvā sattahi suṇisāhi saddhiṃ gantvā te tathāṭhite disvā “kassa nu kho ime dhanūni ākaḍḍhitvā ṭhitā”ti olokentī satthāraṃ disvā bāhā paggayha – “mā me pitaraṃ nāsetha, mā me pitaraṃ nāsethā”ti mahāsaddamakāsi. Kukkuṭamitto taṃ saddaṃ sutvā cintesi – “naṭṭho vatamhi, sasuro kira me esa, aho mayā bhāriyaṃ kammaṃ kata”nti. Puttāvissa “ayyako kira no esa, aho bhāriyaṃ kammaṃ kata”nti cintayiṃsu. Kukkuṭamitto “ayaṃ sasuro me”ti mettacittaṃ upaṭṭhapesi, puttāpissa “ayyako no”ti mettacittaṃ upaṭṭhapesuṃ. Atha te nesaṃ mātā seṭṭhidhītā “khippaṃ dhanūni chaḍḍetvā pitaraṃ me khamāpethā”ti āha.
Satthā tesaṃ muducittataṃ ñatvā dhanuṃ otāretuṃ adāsi. Te sabbe satthāraṃ vanditvā “khamatha no, bhante”ti khamāpetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. Atha nesaṃ satthā anupubbiṃ kathaṃ kathesi. Desanāvasāne kukkuṭamitto saddhiṃ puttehi ceva suṇisāhi ca attapañcadasamo sotāpattiphale patiṭṭhahi. Satthā piṇḍāya caritvā pacchābhattaṃ vihāraṃ agamāsi. Atha naṃ ānandatthero pucchi – “bhante, kahaṃ gamitthā”ti. Kukkuṭamittassa santikaṃ, ānandāti. Pāṇātipātakammassa vo, bhante, akārako katoti. Āmānanda, so attapañcadasamo acalasaddhāya patiṭṭhāya tīsu ratanesu nikkaṅkho hutvā pāṇātipātakammassa akārako jātoti. Bhikkhū āhaṃsu – “nanu, bhante, bhariyāpissa atthī”ti. Āma, bhikkhave, sā kulagehe kumārikā hutvā sotāpattiphalaṃ pattāti. Bhikkhū kathaṃ samuṭṭhāpesuṃ “kukkuṭamittassa kira bhariyā kumārikakāle eva sotāpattiphalaṃ patvā tassa gehaṃ gantvā satta putte labhi, sā ettakaṃ kālaṃ sāmikena ‘dhanuṃ āhara, sare āhara, sattiṃ āhara, sūlaṃ āhara, jālaṃ āharā’ti vuccamānā tāni adāsi. Sopi tāya dinnāni ādāya gantvā pāṇātipātaṃ karoti, kiṃ nu kho sotāpannāpi pāṇātipātaṃ karontī”ti. Satthā āgantvā “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā”ti pucchitvā “imāya nāmā”ti vutte, “na, bhikkhave, sotāpannā pāṇātipātaṃ karonti, sā pana ‘sāmikassa vacanaṃ karomī’ti tathā akāsi. ‘Idaṃ gahetvā esa gantvā pāṇātipātaṃ karotū’ti tassā cittaṃ natthi. Pāṇitalasmiñhi vaṇe asati visaṃ gaṇhantassa taṃ visaṃ anuḍahituṃ na sakkoti, evamevaṃ akusalacetanāya abhāvena pāpaṃ akarontassa dhanuādīni nīharitvā dadatopi pāpaṃ nāma na hotī”ti vatvā anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –
“Pāṇimhi ce vaṇo nāssa, hareyya pāṇinā visaṃ;
Nābbaṇaṃ visamanveti, natthi pāpaṃ akubbato”ti.
Tattha nāssāti na bhaveyya. Hareyyāti harituṃ sakkuṇeyya. Kiṃ kāraṇā? Yasmā nābbaṇaṃ visamanveti avaṇañhi pāṇiṃ visaṃ anvetuṃ na sakkoti, evameva dhanuādīni nīharitvā dentassāpi akusalacetanāya abhāvena pāpaṃ akubbato pāpaṃ nāma natthi, avaṇaṃ pāṇiṃ visaṃ viya nāssa cittaṃ pāpaṃ anugacchatīti.
Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.
Aparena samayena bhikkhū kathaṃ samuṭṭhāpesuṃ – “ko nu kho kukkuṭamittassa saputtassa sasuṇisassa sotāpattimaggassūpanissayo, kena kāraṇena nesādakule nibbatto”ti. Satthā āgantvā “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā”ti pucchitvā “imāya nāmā”ti vutte, bhikkhave, atīte kassapadasabalassa dhātucetiyaṃ saṃvidahantā evamāhaṃsu – “kiṃ nu kho imassa cetiyassa mattikā bhavissati, kiṃ udaka”nti. Atha nesaṃ etadahosi – “haritālamanosilā mattikā bhavissati, tilatelaṃ udaka”nti. Te haritālamanosilā koṭṭetvā tilatelena saṃsanditvā iṭṭhakāya ghaṭetvā suvaṇṇena khacitvā anto ciniṃsu, bahimukhe pana ekagghanasuvaṇṇaiṭṭhakāva ahesuṃ. Ekekā satasahassagghanikā ahosi. Te yāva dhātunidhānā cetiye niṭṭhite cintayiṃsu – “dhātunidhānakāle bahunā dhanena attho, kaṃ nu kho jeṭṭhakaṃ karomā”ti.
Atheko gāmavāsiko seṭṭhi “ahaṃ jeṭṭhako bhavissāmī”ti dhātunidhāne ekaṃ hiraññakoṭiṃ pakkhipi. Taṃ disvā raṭṭhavāsino “ayaṃ nagaraseṭṭhi dhanameva saṃharati, evarūpe cetiye jeṭṭhako bhavituṃ na sakkoti, gāmavāsī pana koṭidhanaṃ pakkhipitvā jeṭṭhako jāto”ti ujjhāyiṃsu. So tesaṃ kathaṃ sutvā “ahaṃ dve koṭiyo datvā jeṭṭhako bhavissāmī”ti dve koṭiyo adāsi. Itaro “ahameva jeṭṭhako bhavissāmī”ti tisso koṭiyo adāsi. Evaṃ vaḍḍhetvā vaḍḍhetvā nagaravāsī aṭṭha koṭiyo adāsi. Gāmavāsino pana gehe navakoṭidhanameva atthi, nagaravāsino cattālīsakoṭidhanaṃ. Tasmā gāmavāsī cintesi – “sacāhaṃ nava koṭiyo dassāmi, ayaṃ ‘dasa koṭiyo dassāmī’ti vakkhati, atha me niddhanabhāvo paññāyissatī”ti. So evamāha – “ahaṃ ettakañca dhanaṃ dassāmi, saputtadāro ca cetiyassa dāso bhavissāmī”ti satta putte satta suṇisāyo bhariyañca gahetvā attanā saddhiṃ cetiyassa niyyādesi. Raṭṭhavāsino “dhanaṃ nāma sakkā uppādetuṃ, ayaṃ pana saputtadāro attānaṃ niyyādesi, ayameva jeṭṭhako hotū”ti taṃ jeṭṭhakaṃ kariṃsu. Iti te soḷasapi janā cetiyassa dāsā ahesuṃ. Raṭṭhavāsino pana te bhujisse akaṃsu. Evaṃ santepi cetiyameva paṭijaggitvā yāvatāyukaṃ ṭhatvā tato cutā devaloke nibbattiṃsu. Tesu ekaṃ buddhantaraṃ devaloke vasantesu imasmiṃ buddhuppāde bhariyā tato cavitvā rājagahe seṭṭhino dhītā hutvā nibbatti. Sā kumārikāva hutvā sotāpattiphalaṃ pāpuṇi. Adiṭṭhasaccassa pana paṭisandhi nāma bhāriyāti tassā sāmiko samparivattamāno gantvā nesādakule nibbatti. Tassa saha dassaneneva seṭṭhidhītaraṃ pubbasineho ajjhotthari. Vuttampi cetaṃ –
“Pubbeva sannivāsena, paccuppannahitena vā;
Evaṃ taṃ jāyate pemaṃ, uppalaṃva yathodake”ti. (jā. 1.2.174);
Sā pubbasineheneva nesādakulaṃ agamāsi. Puttāpissā devalokā cavitvā tassā eva kucchismiṃ paṭisandhiṃ gaṇhiṃsu, suṇisāyopissā tattha tattha nibbattitvā vayappattā tesaṃyeva gehaṃ agamaṃsu. Evaṃ te sabbepi tadā cetiyaṃ paṭijaggitvā tassa kammassānubhāvena sotāpattiphalaṃ pattāti.
Kukkuṭamittanesādavatthu aṭṭhamaṃ.
IX. 8. The Enchanted Hunters
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
124. If in his hand there be no wound,
A man may carry poison in his hand.
Poison cannot harm him who is free from wounds.
No evil befalls him who does no evil.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Veḷuvana with reference to the hunter Kukkuṭamitta.
Once upon a time there lived in Rājagaha a certain rich man’s daughter. When she reached marriageable age, her mother and father lodged her in an apartment of royal splendor on the topmost floor of a seven-storied palace, with a female slave to guard her. One day towards evening, as she stood at her window looking down into the street below, she saw Kukkuṭamitta enter the city. Kukkuṭamitta was a hunter who made his living by killing deer; five hundred were the snares, and five hundred the spears, with which he used to catch them. Now the hunter Kukkuṭamitta had killed five hundred deer, had filled his cart with their flesh, and was entering the city sitting on the pole of his cart to market his kill.
When the rich man’s daughter saw him, she immediately fell in love with him. Giving her slave a present, she sent her out, saying, “Go find out when this hunter expects to return, and come back to me.” The slave went out, gave the hunter the present, and asked him the question her mistress had told her to ask. The hunter replied, “Today I shall sell the meat, and to-morrow morning early I shall come out of such and such a gate and set out on my return journey.” The slave listened to the hunter’s reply and went back and told her mistress.
The rich man’s daughter laid out such of her clothes and jewels as she thought proper to take with her, and very early the following morning, having dressed herself in soiled garments, she left the house accompanied by a number of female slaves, carrying a water-pot in her hand, as though it was her intention to go to the landing on the river. Going to the place named by the hunter, she stood and watched for him to come. Very early the following morning the hunter also set out, driving his cart. The rich man’s daughter fell in behind his cart and followed him. When the hunter saw the rich man’s daughter, he said to her, “I do not recognize you as the daughter of anyone with whom I am acquainted; pray cease from following me, young woman.” Said the rich man’s daughter, “You did not summon me; I came of my own accord; be still and drive your cart.” The hunter repeatedly bade her turn back, but to no purpose. Finally she said to him, “When good fortune comes to one, one shouldn’t turn it away.” Then the hunter knew for certain that she was following him, immediately assisted her to mount the cart, and continued his journey. Her mother and father sought everywhere to find her, but finding her nowhere, concluded that she must be dead, and held the funeral feast in honor of the dead. After living with the hunter, she gave birth to seven sons. When her sons reached manhood, she got them married.
Now one day as the Teacher surveyed the world at dawn, he observed that Kukkuṭamitta and his sons and daughters-in-law had entered the Net of his Knowledge. Thereupon he considered within himself, “What will this come to?” Becoming aware that all fifteen possessed the dispositions requisite to conversion, he took bowl and robe and went to the place where Kukkuṭamitta’s nets were spread. Now it so happened that on that day not a single animal had been caught in any of his nets. The Teacher left his footprint on one of the hunter’s nets, went on, and sat down under a bush in the shade. Very early in the morning Kukkuṭamitta took his bow and went to the place where his nets were spread. He inspected all of his nets from first to last, and found that he had caught not a single animal. Finally he saw the Teacher’s footprint, whereupon the thought occurred to him, “Somebody is going about setting free the animals I have caught.” His anger was aroused against the Teacher, and when, as he proceeded on his way, he caught sight of the Teacher sitting under the bush, he immediately drew his bow and said to himself, “That is the man who set free the animals I caught; I will kill him.” The Teacher permitted him to draw his bow, but did not permit him to shoot. So there the hunter stood, unable to shoot the arrow and unable to take it from the string, wearied to exhaustion, with saliva streaming from his mouth, as if his ribs had been shattered.
When his sons returned home, they said, “Our father is a long time returning home; what can be the matter?” So the mother sent them out, saying, “My dear sons, go and seek your father.” Accordingly they took their bows and set out. When they saw their father standing there enchanted, they said to themselves, “That must be some enemy of our father;” and forthwith those seven brothers drew their bows. But through the supernatural power of the Buddha they were all rooted to the spot immovable, even as was their father, and there they stood. Their mother asked herself, “Why are my sons so long in returning home?” So she went to the place where her husband and sons had gone, accompanied by her seven daughters-in-law. When she saw her husband and sons standing there enchanted, she thought to herself, “At whom, pray, are they aiming their bows?” When she looked beyond and saw the Teacher, she stretched forth her hands and cried out with a loud voice, “Do not kill my father; do not kill my father.”
Kukkuṭamitta heard her cry, and thought to himself, “I am indeed lost; so that is my father-in-law; oh, what a wicked deed I have done!” Likewise his sons thought to themselves, “So that is our grandfather; oh, what a wicked deed we have done!” As Kukkuṭamitta thought, “That is my father-in-law,” his disposition became friendly. Likewise, as his sons thought, “That is our grandfather,” their disposition became friendly. Then their mother, the rich man’s daughter, spoke to them and said, “Throw away your bows immediately; ask my father to pardon you.” The Teacher, knowing that their hearts had softened, permitted them to lower their bows. Then all of them bowed low before the Teacher and asked his pardon, saying, “Pardon us, Reverend Sir.” So saying, they sat down respectfully on one side. Thereupon the Teacher preached the Law to them in orderly sequence. At the end of his discourse Kukkuṭamitta and his seven sons and his seven daughters-in-law, making fifteen persons in all, were established in the Fruit of Conversion.
The Teacher made his round for alms, and after breakfast returned to the monastery. On his return the Elder Ānanda asked him, “Reverend Sir, where have you been?” “I have been with Kukkuṭamitta, Ānanda.” “Did you prevail upon him to abandon the taking of life, Reverend Sir?” “Yes, Ānanda. Kukkuṭamitta, together with his seven sons and his seven daughters-in-law, has become rooted and grounded in immovable faith, has professed faith in the Three Jewels, and has abandoned the taking of life.” Said the monks,” Reverend Sir, has he not a wife?” “Yes, monks, he has a wife; and when she was a mere girl, living with her family, she obtained the Fruit of Conversion.”
The monks began to discuss the matter, saying, “So Kukkuṭamitta has a wife, and when she was a mere girl she obtained the Fruit of Conversion; yet she married this hunter and by him had seven sons. Furthermore, during all this time, whenever her husband said to her, ‘Bring me my bow, bring me my arrows, bring me my hunting-knife, bring me my net,’ she obeyed him and gave him what he asked for. And her husband, taking what she had given him, went and took life. Is it possible that those who have obtained the Fruit of Conversion take life?” Just then the Teacher approached and asked, “Monks, what is it that you are sitting here now talking about?” When they told him, he said, “Monks, of course those that have obtained the Fruit of Conversion do not take life. Kukkuṭamitta’s wife did what she did because she was actuated by the thought, ‘I will obey the commands of my husband.’ It never occurred to her to think, ‘He will take what I give him and go hence and take life.’ If a man’s hand be free from wounds, even though he take poison into his hand, yet the poison will not harm him. Precisely so, a man who harbors no thoughts of wrong and who commits no evil, may take down bows and other similar objects and present them to another, and yet be guiltless of sin.” So saying, he joined the connection, and preaching the Law, pronounced the following Stanza,
124. If in his hand there be no wound,
A man may carry poison in his hand.
Poison cannot harm him who is free from wounds.
No evil befalls him who does no evil.
On a subsequent occasion the monks began the following discussion, “On what basis did Kukkuṭamitta, together with his sons and his daughters-in-law, attain the Path of Conversion? And why was he reborn as a hunter?” At that moment the Teacher drew near and asked, “Monks, what is it that you are sitting here now talking about?” When they told him, he said,
8 a. Story of the Past: The city treasurer and the country treasurer
Monks, in times past men planned a shrine for the relics of the Buddha Kassapa. And they said, “What shall be the mortar for this shrine, and what shall be the water?” And this was their decision, “Yellow orpiment and red arsenic shall be the mortar and sesame oil shall be the water.” Accordingly they reduced yellow orpiment and red arsenic to a powder and mixed it with sesame oil. Then, cutting bricks in two, and alternating bricks and blocks of gold, they laid up an inner wall. The outer wall consisted of solid blocks of gold, each of which was worth a hundred thousand pieces of money.
When the shrine was completed as far as the receptacle for the relics, they thought, “Now that we have reached the receptacle for the relics, we have need of a large amount of money; whom shall we make our foreman?” A certain village treasurer said, “I will be foreman.” So saying, he contributed a crore of gold towards the reliquary. When the inhabitants of the country saw what he had done, they said, “This city treasurer is just piling up money. But in spite of the fact that a shrine is building so splendid as this, he is not willing to contribute enough money to make himself chief. Therefore the village treasurer, by reason of his contribution of a crore of treasure, will become foreman.” And they were greatly offended. The city treasurer heard their words and said, “I will give two crores and be foreman myself.” So saying, he contributed two crores. Thereupon the village treasurer said, “I will be foreman,” and contributed three crores. Thus did the village treasurer and the city treasurer bid against each other, until finally the city treasurer offered to give eight crores.
Now the village treasurer had only nine crores of treasure in his house, while the city treasurer had forty. Therefore the village treasurer thought to himself, “If I give nine crores, this city treasurer will say, ‘I will give ten crores,’ and I shall be plunged into poverty.” So the village treasurer said, “Not only will I give all this wealth, but I will myself, together with sons and wife, become the slave of this shrine.” And with his seven sons and his seven daughters-in-law and his wife, he surrendered himself to the shrine. The inhabitants of the country said, “It is possible to obtain money, but this man, with sons and wife, has surrendered his very self; let him alone be foreman.” So they made him foreman.
Thus did these sixteen persons become slaves of the shrine. The inhabitants of the country, however, made them freemen. In spite of this they cared for the shrine, and the shrine was their only care. When they finished the term of life allotted to them, they passed from that state of existence and were reborn in the World of the Gods. They remained in the World of the Gods during the interval between two Buddhas. In the dispensation of the present Buddha the wife passed from that state of existence and was reborn as the daughter of a rich man of Sāvatthi. When she was a mere girl, she attained Arahatship. But “Rebirth is a grievous matter for him who has not yet seen the Truth;” and so it was with her husband. After passing from birth to birth in the round of existences, he was at last reborn as a hunter. Thus it happened that no sooner did the rich man’s daughter see her former husband than her former passion for him returned! And it has been said,
Through past association or present advantage,
That love springs up again as the lotus in the water.
So it happened that solely because of her former love for him the rich man’s daughter married the hunter. Likewise, when her sons passed from that state of existence, they were conceived once more in her womb. Likewise her daughters-in-law were conceived once more in the wombs of their respective former mothers, and when they reached marriageable age they married into the same households. And thus all those who at that time cared for the shrine, by the supernatural power of that meritorious work, attained the Fruit of Conversion. End of Story of the Past.
- Text: N iii. 24-31 (Ed. note: correction to printed text).
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.