Chú giải Pháp Cú · Kệ 6 · Dhp 6

Tích Các Tỳ Khưu Ở Kosambi

Kosambakavatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 6 Kinh Pháp Cú, phẩm Song Yếu, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 06)

“Pare ca na vijānanti,
Mayam'ettha yamāmase;
Ye ca tattha vijānanti,
Tato sammanti medhagā”

“Nhóm kia không hiểu biết,
Nơi đây ta tự diệt.
Người am hiểu lẽ nầy,
Từ nay thôi biện thuyết”

Kệ Pháp Cú số 6 nầy, Đức Bổn Sư thuyết ra khi Ngài ngự tại Jetavana, đề cập đến các Tỳ khưu ở thành Kosambi.

Thời ấy, gần thành Kosambi có hai vị Tỳ khưu cùng an cư trong ngôi chùa Ghosita (Lôi Âm), một vị chuyên thuyết pháp, một vị thông suốt Tạng Luật. Vị nào cũng có năm trăm đệ tử túc trực bên mình.

Một hôm vị Pháp sư đi đại tiện trong cầu xí, rửa ráy xong đi ra, còn chừa nước dư trong cái gáo mà không úp xuống.

Kế đó vị Luật sư đi cầu vô thấy nước dư trong cái gáo, đến khi trở ra gặp vị Pháp sư bèn hỏi:

- Nầy đạo hữu, phải đạo hữu đi cầu còn chừa nước dư trong cái gáo không?

- Dạ phải! Thưa đạo hữu.

- Đạo hữu không biết làm vậy là phạm giới (Tác ác) sao?

- Dạ! Thật tôi không biết.

- Làm vậy là phạm giới đó thưa đạo hữu.

- Thế thì để cho tôi xin sám hối tội ấy.

- Nhưng nếu đạo hữu không cố ý, không niệm tưởng trong khi làm thì không phạm.

Nghe vậy vị Pháp sư phạm giới cho là mình không có lỗi, nên bỏ qua không sám hối.

Vị Luật sư không kín miệng, đem nói với nhóm đệ tử của mình: “Vị Pháp sư nầy phạm giới mà không biết”.

Những vị nầy, khi gặp mặt những vị đệ tử của vị Pháp sư, bèn chê trách: “Thầy Tế độ của mấy đạo hữu đã phạm giới mà cũng không nhận biết là mình có lỗi”.

Đệ tử của vị Pháp sư đem chuyện nầy bạch với thầy mình. Vị Pháp sư nói rằng: “Cái ông Luật sư nầy, lúc trước đã bảo là ta không phạm, bây giờ lại nói là ta phạm. Vậy ông ta là người vọng ngữ”.

Thế rồi, hai bên sanh sự cãi nhau, trước nhỏ sau to, lần lần gây ra lớn chuyện. Kế đó vị Luật sư nắm được cơ hội, nhóm hết chư Tăng, đọc tuyên ngôn trục xuất vị Pháp sư. Viện cớ rằng vị nầy phạm giới mà không chịu nhận lỗi.

Từ đó, những thí chủ thường dâng cúng vật thực vật dụng và những người hộ độ chư Tăng trong chùa bắt đầu chia ra làm hai phe.

Cho đến chư Tỳ khưu Ni thỉnh Tăng dạy đạo, chư Thiên hộ pháp cùng các bạn mới bạn cũ, chư Thiên trên hư không như chư Phạm Thiên, tất cả những vị còn phàm tâm thảy đều chia ra làm hai phe đối lập, tranh luận nhau, tiếng xôn xao thấu đến cõi trời Sắc Cứu Cánh Thiên (Kaniṭṭhabhavana).

Lúc ấy, một vị Tỳ khưu đem chuyện tranh chấp giữa hai nhóm Tăng về bạch lên Đức Thế Tôn, nói rằng: “Nhóm Tăng đọc tuyên ngôn trục xuất vị Pháp sư cho rằng mình hành đúng pháp luật, nhưng nhóm binh vực vị nầy phản ứng bản trục xuất, cho là không đúng pháp luật, nên vẫn giao thiệp thân cận vị Pháp sư”.

Đức Thế Tôn hai lần nhắn lời khuyên bảo: “Hãy nên hòa hiệp”, nhưng Ngài được tin trả lời: “Bạch Ngài, họ vẫn không chịu hòa nhau”.

Lần thứ ba được tin cho hay Tăng chúng đã phân ly, Đức Thế Tôn phải thân hành ngự đi đến tận nơi tranh chấp giải bày chỗ bất lợi trong hành vi thái độ của cả hai bên, bên Luật sư đọc tuyên ngôn trục xuất và bên Pháp sư phạm giới mà không chịu sám hối.

Rồi Ngài phán dạy chư Tăng hãy làm lễ Phát lồ chung nhau ngay lúc đó và hành Tăng sự chung trong một chỗ có Kiết giới (Sīmā). Ngài ban hành điều lệ, cho phép các Tỳ khưu đã tranh chấp nhau nơi Trai Tăng đường hay bất luận nơi nào, hãy nên ngồi xen kẽ nhau (āsanatarikāya) trong Trai Tăng đường.

Dàn xếp xong xuôi, Đức Thế Tôn trở về chùa Jetavana.

Kế đó, lại có tin cho hay: Chư Tỳ khưu ở Kosambi lại cạnh tranh với nhau nữa. Đức Thế Tôn lại thân hành ngự đến tận chùa Ghosita để hòa giải. Ngài mở lời cản ngăn rằng: “Thôi đi, các Tỳ khưu đừng chia rẽ, tranh chấp nữa”.

Đoạn Ngài dạy tiếp rằng:

- Nầy các Tỳ khưu, những sự chia rẽ tranh chấp, cãi lẫy, kình chống nhau, đều chẳng lợi ích chi, cũng vì tranh chấp nhau mà con chim cút Ấn Độ (Lututika) bé tí hon đã làm thiệt mạng một thớt tượng chúa (Hatthināga).

Sau khi kể tích Bổn Sanh (Jātaka) về con chim cút, Đức Thế Tôn khuyên nhủ rằng: “Nầy các Tỳ khưu, các ông hãy nên hòa hợp nhau, đừng kình chống nhau nữa. Vì kình chống nhau mà cả trăm ngàn con chim cút thường (vattatā) phải bỏ mạng”.

Và Đức Bổn Sư kể thêm về tiền tích con chim cút.

Nhưng chư Tăng vẫn giữ lập luận của mình, bất chấp những huấn từ của Đức Thế Tôn.

Một vị Pháp sư háo thắng, muốn cho Đức Thế Tôn khỏi phải cực lòng nói mãi vô ích, lên tiếng can rằng: “Bạch Thế Tôn là Đức Pháp Chủ, xin Ngài hãy về ngơi nghỉ dưỡng nhàn và hưởng thụ sự an vui nhãn tiền hiện hữu. Để cho chúng Tăng nhờ sự chia rẽ, tranh chấp, cãi lẫy, kình chống nầy mà danh tiếng được lẫy lừng”.

Nghe vậy, Đức Thế Tôn lại phán: “Nầy các Tỳ khưu, xưa kia tại thành Bārāṇasī, có vị Quốc vương tên là Brahmadatta (Phạm Thí) là vua xứ Kāsi.

Vua Brahmadatta xâm chiếm nước Kosala của vua Dīghīti (Trường Thọ), bắt hành quyết vị Vương tẩu quốc, sau được Thái tử Dīghāyu (Trường Sanh) dung tha mạng sống, không báo thù, từ đó hai họ giao hòa, đồng vinh cộng lạc”.

Kể tích nầy, Đức Bổn Sư kết luận: “Nầy các Tỳ khưu, rất đỗi là các bậc vua chúa anh hùng mã thượng, từng trải việc kiếm cung chinh chiến mà còn nhẫn nại giao hòa được như thế thay, hà huống là chư Tăng đã xuất gia Sa môn, dự hàng Thinh Văn đệ tử của Như Lai mà không làm sao sáng tỏ đức nhẫn nhục hiền hòa, cho mọi người trông thấy được sao?”.

Mặc dầu đã tận tình khuyến giới, Đức Bổn Sư cũng không hòa giải được nhóm đệ tử của Ngài.

Thấy Tăng chúng phân ly, Đức Thế Tôn chẳng được hài lòng. Ngài tự nghĩ: “Các Tỳ khưu không vâng lời ta giáo hóa, tình trạng chia rẽ nầy chỉ làm Ta bận rộn hay là Ta lánh xa nơi đô hội, một mình ra đi tìm chỗ tịnh cư”.

Nghĩ rồi, Đức Thế Tôn vào thành Kosambi khất thực, sau đó không từ giã chư Tăng, Ngài mang y bát đơn thân độc hành, ngự ngay đến làng Balaka của người làm muối (Lonakaranaṃ). Nơi đó Ngài thuyết cho Đại đức Bhagutthera về hạnh độc hành (Ekacarikavatta). Rồi Ngài ngự đến rừng Pācinavamasamigadāya (Trúc Lộc Viên), thuyết về phước báu hương vị của pháp hòa hợp cho ba mươi vị thiếu niên công tử nghe.

Đoạn Ngài trực chỉ vô miền Pālileyyaka.
Nghe rằng Đức Thế Tôn đã nhập một hạ an vui nơi

đó, dưới gốc cây Tāla xinh đẹp trong khu rừng Rakkhitavana (Vệ Lâm) gần vùng Pālileyyaka có con Tượng chúa Pālileyyaka hộ độ.

Ở Kosambi, những thiện nam tử đi chùa không thấy Đức Bổn Sư, bèn hỏi chư Tăng:

- Bạch các Ngài! Đức Bổn Sư ngự tại đâu?

- Ngài đi vào rừng Pālileyyaka rồi.

- Bạch Ngài vì lý do nào?

- Vì Ngài đã cố gắng hết sức giảng hòa mà chư Tăng chúng tôi không chịu đoàn kết với nhau.

- Bạch các Ngài! Các Ngài đã xuất gia làm đệ tử của Đức Bổn Sư, mà Đức Bổn Sư dạy các Ngài hòa hợp đoàn kết, các Ngài không chịu đoàn kết với nhau hay sao?

- Quả thật như thế đó, nầy các đạo hữu.

Mọi người nghe vậy, bảo nhau: “Mấy ông nầy là môn đồ của Đức Bổn Sư mà lại cãi lời Thầy, không chịu đoàn kết. Tại mấy ông mà chúng ta không diện kiến Đức Bổn Sư được vậy ta đừng nên thỉnh ngồi, đảnh lễ, chào mừng, kính trọng mấy ông nầy nữa”. Từ đó trở đi, khi gặp chư Tăng ở Kosambi, không ai thèm để ý chào đón chi hết.

Chư Tỳ khưu đi khất thực cũng ít người để bát, phải nhịn đói hết hai ba ngày liền, nhờ đó mới tỉnh ngộ cùng nhau sám hối và tha thứ tội lỗi cho nhau, đoạn báo tin cho thiện tín hay rằng:

- Nầy chư thiện tín, chư Tăng đã hòa hợp, các ông hãy trong sạch như trước.

- Các Ngài có xin sám hối với Đức Bổn Sư chưa?

- Nầy các đạo hữu, chư Tăng chưa sám hối với Ngài.

- Nếu vậy, các Ngài hãy xin sám hối với Đức Bổn Sư đi. Chừng nào các Ngài xin sám hối với Đức Bổn Sư chừng ấy chúng tôi sẽ trong sạch với các Ngài như trước.

Lúc ấy vì chưa mãn hạ, không thể đi sám hối với Đức Bổn Sư nên các Tỳ khưu phải ráng sống lây lất khổ cực lắm.

Trái lại, Đức Bổn Sư nhập hạ một mình trong rừng được an vui nhờ có Tượng chúa Pālileyyaka hộ độ.

Tượng chúa này cũng lìa đàn, đi vô rừng sâu một mình để được an tịnh.

Tượng chúa tự nghĩ: “Ở trong đàn chung chạ bực bội quá! Nào là voi đực voi cái voi lứa voi con… bao nhiêu đầu ngọn cỏ của ta đều bị chúng gặm trước, bao nhiêu nhánh cây ta bẻ sẵn xuống đều bị chúng dành nhau ăn, chỗ ta uống nước đều bị chúng quậy cho nổi bùn. Ta xuống ngâm mình dưới ao hồ nào cũng bị con voi cái đeo theo kỳ cọ trên mình ta. Hay là ta hãy lánh đi, tìm chỗ sống riêng biệt một mình”. Nghĩ rồi Tượng chúa quyết định lìa đàn, đi ngay vô khu rừng Rakkhitavana trong vùng Pālileyyaka, đến dưới gốc cây Tāla xinh đẹp, chỗ Đức Thế Tôn đang ngự, đảnh lễ Ngài xong, Tượng chúa nhìn quanh không thấy có vật chi khác hết, Tượng chúa bèn lấy chân đạp mạnh vào gốc cây Tāla xinh đẹp làm cho cây ngã xuống, đoạn dùng vòi tét một nhánh cây, lấy làm chổi quét sân.

Kế đó, Tượng chúa dùng vòi lấy vỏ cây đi múc nước để sẵn.

Khi nhớ nước nóng cần phải có, tượng nghĩ lập cách nấu nước, làm sao đây? Tượng dùng vòi kéo cây cứng cọ nhau cho nháng lửa, đoạn nó chất thêm củi khô cho cháy lên có ngọn, lượm đá nhỏ bỏ vô đống lửa, nướng cho nóng, rồi dùng vòi cầm gậy khều đá ra, lăn đùa đi cho đá rớt xuống các hồ nước thiên nhiên trên một hốc đá (sondi).

Thỉnh thoảng Tượng lấy vòi thăm chừng, khi độ biết nước vừa đủ ấm, nó đến đảnh lễ Đức Bổn Sư.

Đức Ngài hỏi nó: “Ngươi nấu nước nóng rồi phải không Pālileyyaka?”. Đoạn Đức Thầy đến chỗ tắm.

Kế đó, Tượng chúa mang nhiều thứ trái cây dâng lên Đức Bổn Sư. Tới giờ Đức Bổn Sư vào làng khất thực, Tượng chúa lấy y bát đội lên đầu đi theo hầu Ngài.

Khi tới cận xóm, Đức Bổn Sư dừng lại, bảo tượng rằng: “Nầy Pālileyyaka, kể từ đây ngươi không thể theo ta được nữa, hãy trao y bát lại cho ta”.

Lấy y bát rồi, Đức Bổn Sư ngự đi một mình vào làng khất thực.

Con Tượng chúa đứng mãi nơi bìa rừng, chờ cho tới khi Đức Bổn Sư đi bát về, chạy ra rước lấy y bát, đội lên đầu và lục thục theo Ngài trở về chỗ ngự.

Về đến nơi, nó để y bát xuống đàng hoàng, lại tiếp tục làm lại những công việc hàng ngày nó vẫn làm để phục dịch Đức Bổn Sư, khi rảnh việc nó cầm cây làm quạt để quạt hầu Ngài.

Ban đêm, Tượng cầm một khúc cây to, thức để canh phòng thú dữ, nó nói thầm: “Ta sẽ hộ vệ Đức Bổn Sư”, rồi nó đi tới đi lui, tuần hành theo các khoảng trống trong rừng cho tới khi mặt trời mọc.

Theo tục truyền, khu rừng được mệnh danh kể từ đó.

Khi mặt trời mọc lên, Tượng chúa dâng nước rửa mặt, cây đánh răng… đến Đức Bổn Sư xong, nó lo làm những phận sự hằng ngày đã kể ở trước.

Gần nơi đó, có con khỉ chúa, ngày ngày trông thấy Tượng chúa dậy sớm, hầu hạ phục dịch Đức Như Lai, khỉ chúa tự nghĩ: “Ta cũng sẽ làm việc chút ít chứ”.

Trong khi nhảy nhót la cà nhiều chỗ, một hôm khỉ ta gặp được một ổ mật ong, đóng trên một nhánh cây, thấy ong đã bỏ đi hết, nó bèn bẻ nhánh cây ấy, cầm đi đem về gần tới Đức Bổn Sư nó bứt lá chuối lót dưới ổ mật ong, rồi dâng lên cho Ngài dùng.

Ngài chỉ tiếp nhận và làm thinḥ

Khỉ chúa đứng chờ coi Đức Bổn Sư có thọ dụng ổ mật đó không. Nhưng nó chỉ thấy Ngài cầm lên và để xuống chứ không dùng. Khỉ ta tự hỏi: “Có cái gì đây?” nó bèn cầm lấy nhánh cây có ổ ong lên, lật qua lật lại xem thật kỹ, thì thấy còn sót trứng ong trong ổ, nó bèn cẩn thận gạt bỏ hết trứng ong, rồi dâng ổ mật lại Đức Bổn Sư.

Lần nầy Ngài thọ lãnh và thọ dụng.

Thấy vậy, khỉ chúa mừng quýnh, tung tăng nhảy nhót chuyền hết cành nầy tới cành kia.

Đang lúc cao hứng, không cẩn thận đề phòng, khỉ chúa với tay chụp phải một nhánh cây dòn yếu, nhánh nắm trong tay gãy, nhánh đạp dưới chân cũng gãy luôn, khỉ ta rơi từ trên cao xuống, trúng nhằm một gốc cây bén nhọn, chết liền tại chỗ.

Nhờ tâm trong sạch đối với Đức Bổn Sư, khỉ được siêu sanh lên cõi Tam thập tam thiên (Tāvatiṃsa) ở trong một tòa đền bằng vàng rộng ba mươi do tuần, có hàng ngàn thiên nữ theo hầu. Khắp cõi Diêm Phù Đề đều hay biết tin Đức Bổn Sư kiết hạ an cư trong rừng Rakkhitavana, có Tượng chúa hộ độ.

Từ thành Sāvatthī Trưởng giả Anāthapiṇḍika và bà Visākhā cùng nhiều đại gia tộc khác gởi thơ yêu cầu Đại đức Ānanda:

“Bạch Ngài, xin cho chúng tôi được yết kiến với Đức Tôn Sư”.

Năm trăm vị Tỳ khưu nhập hạ ở tha phương, khi mãn hạ về gặp Đại đức Ānanda, cũng yêu cầu:

- Nầy đạo hữu Ānanda! Từ khi chúng tôi hội kiến với Đức Tôn Sư, được nghe pháp thoại của Ngài đến nay cũng đã quá lâu, xin đạo hữu hoan hỷ giúp chúng tôi được yết kiến Ngài để được nghe những lời vàng ngọc do Ngài ban bố.

Đại đức Ānanda bèn hướng dẫn chư khách Tăng đi tìm Đức Bổn Sư.

Khi gần đến nơi, Đại đức nghĩ thầm: “Đức Như Lai đã sống biệt cư trong ba tháng qua, ta chẳng nên đưa khách Tăng cùng vào một lượt mà làm mất sự yên tịnh của Ngài”.

Để chư Tăng ở lại bên ngoài, Đại đức đi một mình vào rừng Rakkhitavana.

Tượng chúa Pālileyyaka vừa thấy dáng người lạ đã cầm gậy chạy xông tới.

Đức Bổn Sư nhìn tượng chúa và kêu: “Pālileyyaka hãy dang ra, hãy dang ra đừng đứng cản đường. Đó là vị thị giả của Như Lai”.

Tượng chúa lập tức bỏ gậy xuống, đến xin rước bát của Đại đức, nhưng Đại đức không đưa. Tượng chúa nghĩ thầm: “Nếu vị nầy thông hiểu Giới Luật thì không dám để đồ đạc của mình lên thạch bàn chỗ Đức Bổn Sư an tọa”.

Đại đức đặt y bát xuống đất (những vị Tỳ khưu hiểu Luật không bao giờ để đồ đạc của mình lên chỗ ngồi, chỗ nằm của các bậc Thầy Tổ).

Tượng chúa thấy vậy, phát tâm trong sạch đối với Đại đức.

Sau khi đảnh lễ Đức Tôn Sư, Đại đức ngồi xuống một bên. Đức Bổn Sư bèn nói:

- Nầy Ānanda! Ông lại đây có một mình ông sao?

Khi nghe Đại đức Ānanda cho Ngài biết có năm trăm vị Tỳ khưu cùng đi với Đại đức, Ngài lại nói:

- Chư Tăng ấy hiện giờ ở đâu?

- Vì không biết được tôn ý, nên con vào đây có một mình, chư Tăng còn ở lại phía ngoài.

- Hãy gọi chư Tăng ấy vào đây.

Đại đức vâng lời dạy; chư Tăng vào đến nơi, đảnh lễ Đức Thầy xong, ngồi nép qua một bên.

Đức Bổn Sư thân mật hỏi han chư Tăng về việc tự túc và hành đạo rồi, chư Tăng bạch rằng:

- Bạch Thế Tôn! Ngài là một vị Phật Chí Tôn, một vị Vương tối thượng, lá ngọc cành vàng mà ở rừng suốt ba tháng hạ, không người hộ độ, dâng nước hầu cơm khi ngồi, khi đứng, khuya sớm một mình chắc là cực khổ lắm!

Nghe vậy, Đức Bổn Sư đáp:

- Nầy các Tỳ khưu! Đã có tượng chúa Pālileyyaka làm hết mọi việc cần thiết giúp Ta, nếu ai có được bạn đồng cư như Tượng chúa nầy, người ấy có thể vui sống chung, bằng không được vậy thì sống lẻ loi cô độc còn hơn.

Nói rồi, tiếp đọc ba câu kệ dưới đây về sau được ghi chép lại trong phẩm Voi (Nāga vagga) của kinh Pháp Cú.

“Sace labhetha nipakaṃ sahāyaṃ,
Saddhiṃ caraṃ sādhuvihāri-dhīraṃ;
Abhibhuyya sabbāni parissayāni,
Careyya ten‘attamano satīmā.
No ce labhetha nipakaṃ sahāyaṃ,
Saddhiṃ caraṃ sādhuvihāridhīraṃ;
Rājāva raṭṭhaṃ vijitaṃ pahāya,
Eko care mātaṅgaraññeva nāgo.
Ekassa caritaṃ seyyo,
Natthi bāle sahāyatā;
Eko care na ca pāpāni kayirā,
Appossukko mātaṅgaraññeva nāgoti”.
“Nếu may gặp bạn đồng hành,
Hiền minh chơn chánh hiểu rành lối đi.
Tinh tường thắng phục gian nguy,
Hãy nên hoan hỷ, nhớ ghi kết tình.
Nếu không gặp bạn đồng hành,
Hiền minh chơn chánh, hiểu rành lối đi.
Như vua bỏ nước vong suy,
Như voi rừng thẳm thà đi một mình.
Thà rằng chiếc bóng độc hành,

Không cùng đứa dại kết tình thâm giao.
Độc cư chẳng phạm lỗi nào,
Thanh nhàn như tượng ra vào rừng sâu”.

Kệ ngôn vừa dứt, năm trăm vị Tỳ khưu đều đắc quả A La Hán. Kế đó Đại đức Ānanda chuyển lời thỉnh cầu của ông Anāthapiṇḍika và các thiện tín khác, Đại đức nói:

- Bạch Ngài! Năm mươi triệu Thánh Thinh Văn có ông Anāthapiṇḍika là người lãnh đạo, kính gởi lời xin cung thỉnh Đức Tôn Sư trở về Jetavana.

Đức Thế Tôn phán:

- Thế thì nầy Ānanda, ông hãy mang bát của Ta đi.

Đại đức Ānanda vừa lấy y bát của Đức Bổn Sư bước đi, thì Tượng chúa đứng đường cản lại. Chư Tăng thấy Tượng làm vậy bèn hỏi Đức Thế Tôn:

- Bạch Ngài! Tượng chúa làm cái gì đây?

- Nầy các Tỳ khưu! Tượng chúa tỏ ý muốn cúng dường thực phẩm đó. Tượng nầy có công hộ độ Như Lai Lai lâu ngày, chớ nên làm buồn lòng nó. Chư Tăng hãy ở nán lại.

Đức Bổn Sư dẫn chư Tăng quay trở lại chờ.

Tượng chúa đi sâu vô rừng, kiếm chuối và nhiều thứ trái cây khác, chất lên trên đầu, đội về để dành qua ngày sau dâng cúng đến chư Tăng, năm trăm vị Tỳ khưu độ cũng không hết.

Khi chư Tăng thọ thực xong, Đức Bổn Sư lấy y bát ra đi.

Tượng chúa rẽ lối đi chen vào chư Tăng, đến đứng ngay trước mặt Đức Bổn Sư. Chư Tăng lại bạch hỏi:

- Bạch Ngài! Tượng chúa định làm gì vậy?

- Nầy các Tỳ khưu! Tượng chúa muốn tiễn đưa các ông về cho sớm và giữ ta ở lại.

Đức Bổn Sư quay qua bảo Tượng chúa rằng:

- Nầy Pālileyyaka, hôm nay Như Lai ra đi không còn trở lại. Vĩnh biệt nhà ngươi. Trong kiếp hiện tại nầy ngươi chẳng mong gì đắc Thiền định, Minh sát hay chứng được đạo quả chi đâu. Thôi ngươi hãy nán lại ở đây nghe.

Nghe vậy, Tượng chúa đút vòi vào miệng, từ từ thụt lùi lại phía sau vừa đi vừa rống lên những tiếng bi ai sầu thảm (nếu nó cầm được Đức Như Lai ở lại, có lẽ nó sẽ hết lòng phụng dưỡng Ngài mãi mãi cho đến hết đời của nó).

Ra tới bìa rừng, Đức Bổn Sư kêu Tượng chúa và bảo:

- Nầy Palileyyaka! Từ đây trở ra không phải là địa phận của ngươi, nếu ngươi đi xa hơn nữa vào tới nhà cửa xóm làng có người ở, ắt là sẽ nguy hiểm cho ngươi. Thôi ngươi hãy dừng lại!

Tượng chúa bèn dừng lại, rống lên nghe rất thảm thiết. Nó giương đôi mắt nhìn theo Đức Bổn Sư cho đến khi khuất dạng rồi bị nứt tim, nó chết ngay tại chỗ đó, nhờ đang có tâm trong sạch với Đức Như Lai, nó được sanh về cõi Tāvatiṃsa (Đao Lợi) ở trong một tòa lâu đài bằng vàng ba mươi do tuần, có cả ngàn thiên nữ theo hầu và được mệnh danh là Pālileyyaka Thiên tử (Devaputta).

Đức Bổn Sư ngự hành lần hồi về tới Jetavana. Các Tỳ khưu ở Kosambi hay tin Đức Bổn Sư đã trở về thành Sāvatthī, bèn kéo nhau đến để xin sám hối.

Quốc vương xứ Kosala nghe tin chư Tăng tranh chấp ở Kosambi đi vào thành Kosala, bèn ngự đến đảnh lễ Đức Thế Tôn và bạch:

- Bạch Ngài! Quả nhân cấm không cho các Tỳ khưu ngỗ nghịch ấy vào nước của quả nhân.

- Tâu Đại Vương! Tất cả những Tỳ khưu ấy đều là hạng người có giới đức thanh cao, chẳng qua vì tranh giành, kình chống lẫn nhau mà không vâng lời Như Lai đó thôi. Nay họ đã biết ăn năn đến để xin sám hối Như Lai. Đại vương hãy để cho họ đến.

Ông Anāthapiṇḍīka cũng đến bạch với Đức Thế Tôn:

- Bạch Ngài! Con không cho mấy ông đó vào chùa.

Đức Bổn Sư lại giải thích cho ông nghe, như Ngài giải thích với đức vua, nên ông lẳng lặng đi ra.

Khi các Tỳ khưu ở Kosambi đến, Đức Bổn Sư ra lệnh sắp đặt chỗ ở riêng biệt một phía cho họ ở chung, ngoài ra các Tỳ khưu khác không được ngồi chung, đứng chung hay tiếp xúc chuyện trò của họ.

Nhiều người nghe tiếng đồn, kéo nhau đến chùa hỏi thăm Đức Bổn Sư: “Bạch Ngài! Các vị nào là những vị Tỳ khưu tranh chấp ở Kosambi đâu?”.

Đức Bổn Sư chỉ ngay họ cho thiện tín thấy. Rồi hết người nọ đến người kia, họ lấy tay chỉ truyền nhau: “Nghe nói là mấy ông Sư đó đó”.

Thế rồi, chư Tỳ khưu ấy hổ thẹn chẳng dám ngước mặt ngó lên đến quỳ mọp dưới chân Đức Bổn Sư và xin sám hối với Ngài.

Đức Bổn Sư quở rằng:

- Nầy các Tỳ khưu! Việc làm của các ông thật là đáng tội, các ông được xuất gia tu hành với một vị Phật như Ta, mà các ông bất chấp lời khuyên dạy, chẳng khứng hiệp hòa. Bậc hiền trí thuở xưa lãnh lời di chúc của song thân sắp thọ tử hình, dầu cho song thân có bị thảm sát chết đi rồi, cũng không dám vi phạm lời di chúc ấy. Về sau được thống lãnh cả hai quốc gia.

Nói rồi, Đức Bổn Sư nhắc lại tích đức vua xứ Kosala một lần nữa và Ngài kết luận rằng:

“Nầy các Tỳ khưu, dầu cho Phụ vương và Mẫu hậu đã bị hành quyết rồi, Thái tử Trường sanh cũng không trái lời di chúc của Tiên vương. Về sau được vua Brahmadatta phong làm phò mã và nhường cả ngai vàng, thành ra một mình thống lãnh cả hai lãnh thổ là xứ Kāsi và Kosala. Còn các ông bây giờ cãi, không nghe lời Ta. Tội lỗi của các ông nặng nề biết mấy”.

Đến đây Đức Bổn Sư đọc lên bài kệ rằng:
“Pare ca na vijānanti,
Mayam'ettha yamāmase;
Ye ca tattha vijānanti,
Tato sammanti medhagāti”
“Nhóm kia tranh luận đảo điên,
Không ngờ: Mình tự tìm niềm diệt vong.
Nhóm nầy lý nọ hiểu thông,
Ta đây dứt sự lòng vòng hơn thua”

CHÚ GIẢI:

Pare ca: Theo nghĩa thông thường là “những người khác” nhưng ở đây không có nghĩa là người ngoài cuộc, mà ám chỉ những người đang tranh chấp. Gây sự xáo trộn trong đoàn thể, là những người thiếu sự hiểu biết, tương đối với nhóm này là nhóm hiểu biết, không tranh chấp. Hoặc giả chỉ nhóm Tăng mà Như Lai đã khuyến giới: “Nầy các Tỳ khưu, đừng nên chia rẽ nhau”… mà chẳng chịu nghe lời, lại còn đáp rằng: “Vì chúng tôi còn tham sân…”

Na vijānanti: Nghĩa là không hiểu biết, tức là không hiểu biết rằng: Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết. Hoặc giả là dốt nát đảo điên, chấp theo tà kiến, gắng làm tăng trưởng mầm sống chia rẽ tranh chấp với hy vọng rằng: “Làm vậy chúng tôi sẽ được danh tiếng”.

Mayam’ ettha: Nghĩa là chúng ta nơi đây, ý nói trong việc tranh chấp, chia rẽ nầy, hoặc là ở nơi có sự chia rẽ nầy.

Yamāmase: Sự tiêu diệt, chư Tăng đang hòa hợp sống chung, bỗng nhiên sanh ra tranh giành, cãi vã, bất hòa, ấy là tự mình chận đứng bước tiến của mình, tự mình tiêu diệt mình, tự mình đưa nhau đến chỗ suy vong mà không tự biết.

Ye ca tattha: Nghĩa là những người ở tại đây, chỉ nhóm người không tranh chấp, đối lại với nhóm kia ở câu kệ trên.

Hoặc giả chỉ những Tỳ khưu tranh chấp, nhưng sớm biết ăn năn tự hối, nhờ có sự lưu tâm, suy xét, cân phân lợi hại.

Vijānanti: Nghĩa là hiểu biết, tức là hiểu biết sự tai hại của sự chia rẽ và sức mạnh của sự đoàn kết to lớn dường nào.

Tato: Từ đây, hay là do đây, từ đây là kể từ lúc người hiền trí nhờ lưu tâm quán xét thống thấu được rằng: Sự tranh chấp chia rẽ là con đường đưa đến chỗ diệt vong.

Còn nói do đây, là do những người sớm biết lưu tâm quán xét tự nhận tội lỗi để cùng nhau hợp hòa trở lại, do người như vậy làm gương cho người khác noi theo.

Samanti medhagāti: Các sự tranh chấp, cãi lẫy hiện thuyết hơn thua, phải quấy thảy đều yên lặng chấm dứt, không còn kéo dài lòng thòng nữa.

Đến cuối câu kệ, chư Tỳ khưu đều đắc quả nhất là quả Tu Đà Hườn.

Hai nhóm Tỳ khưu Kiều Thưởng Di,
Nghịch nhau bởi cớ chẳng ra gì.
Nước thừa, lại phá Tăng hòa hiệp,
Giới nhỏ sao làm chúng đoạn ly.
Phật dạy không nghe lời quí ích,
Thầy chung sẽ được tiếng cao kỳ.
Từ Tôn vắng bóng còn ai hộ,
Bụng đói thì thôi hết thị phi.

DỨT CHUYỆN CÁC TỲ KHƯU Ở KOSAMBI

Kosambakavatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Pare ca na vijānantīti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto kosambake bhikkhū ārabbha kathesi.

Kosambiyañhi ghositārāme pañcasatapañcasataparivārā dve bhikkhū vihariṃsu vinayadharo ca dhammakathiko ca. Tesu dhammakathiko ekadivasaṃ sarīravalañjaṃ katvā udakakoṭṭhake ācamanaudakāvasesaṃ bhājane ṭhapetvāva nikkhami. Pacchā vinayadharo tattha paviṭṭho taṃ udakaṃ disvā nikkhamitvā itaraṃ pucchi, “āvuso, tayā udakaṃ ṭhapita”nti? “Āma, āvuso”ti. “Kiṃ panettha āpattibhāvaṃ na jānāsī”ti? “Āma, na jānāmī”ti. “Hoti, āvuso, ettha āpattī”ti. “Tena hi paṭikarissāmi na”nti. “Sace pana te, āvuso, asañcicca assatiyā kataṃ, natthi āpattī”ti. So tassā āpattiyā anāpattidiṭṭhi ahosi. Vinayadharopi attano nissitakānaṃ “ayaṃ dhammakathiko āpattiṃ āpajjamānopi na jānātī”ti ārocesi. Te tassa nissitake disvā “tumhākaṃ upajjhāyo āpattiṃ āpajjitvāpi āpattibhāvaṃ na jānātī”ti āhaṃsu. Te gantvā attano upajjhāyassa ārocesuṃ. So evamāha – “ayaṃ vinayadharo pubbe anāpattīti vatvā idāni āpattīti vadati, musāvādī eso”ti. Te gantvā “tumhākaṃ upajjhāyo musāvādī”ti āhaṃsu. Te evaṃ aññamaññaṃ kalahaṃ vaḍḍhayiṃsu. Kato vinayadharo okāsaṃ labhitvā dhammakathikassa āpattiyā adassane ukkhepanīyakammamakāsi. Tato paṭṭhāya tesaṃ paccayadāyakā upaṭṭhākāpi dve koṭṭhāsā ahesuṃ, ovādapaṭiggāhakā bhikkhuniyopi ārakkhadevatāpi tāsaṃ sandiṭṭhasambhattā ākāsaṭṭhadevatāpīti yāva brahmalokā sabbepi puthujjanā dve pakkhā ahesuṃ. Cātumahārājikaṃ ādiṃ katvā yāva akaniṭṭhabhāvanā pana ekaninnādaṃ kolāhalaṃ agamāsi.

Atheko aññataro bhikkhu tathāgatamupasaṅkamitvā ukkhepakānaṃ vinayadharaantevāsikānaṃ “dhammikenevāyaṃ vinayakammena ukkhitto”ti laddhiñca, ukkhittānuvattakānaṃ dhammakathikaantevāsikānaṃ pana “adhammikeneva kammena ukkhitto”ti laddhiñca, ukkhepakehi vāriyamānānampi ca tesaṃ taṃ anuparivāretvā vicaraṇabhāvañca ārocesi bhagavā “samaggā kira hontū”ti dve vāre pesetvā “na icchanti, bhante, samaggā bhavitu”nti sutvā tatiyavāre “bhinno bhikkhusaṅgho, bhinno bhikkhusaṅgho”ti tesaṃ santikaṃ gantvā ukkhepakānaṃ ukkhepane, itaresañca āpattiyā adassane ādīnavaṃ kathetvā puna tesaṃ tattheva ekasīmāyaṃ uposathādīni anujānitvā bhattaggādīsu bhaṇḍanajātānaṃ “āsanantarikāya nisīditabba”nti (mahāva. 456) bhattagge vattaṃ paññāpetvā “idānipi bhaṇḍanajātāva viharantī”ti sutvā tattha gantvā “alaṃ, bhikkhave, mā bhaṇḍana”ntiādīni vatvā, “bhikkhave, bhaṇḍanakalahaviggahavivādā nāmete anatthakārakā. Kalahaṃ nissāya hi laṭukikāpi sakuṇikā hatthināgaṃ jīvitakkhayaṃ pāpesī”ti laṭukikajātakaṃ (jā. 1.5.39 ādayo) kathetvā, “bhikkhave, samaggā hotha, mā vivadatha. Vivādaṃ nissāya hi anekasatasahassā vaṭṭakāpi jīvitakkhayaṃ pattā”ti vaṭṭakajātakaṃ (jā. 1.1.118) kathesi. Evampi tesu bhagavato vacanaṃ anādiyantesu aññatarena dhammavādinā tathāgatassa vihesaṃ anicchantena “āgametu, bhante bhagavā, dhammasāmi, appossukko, bhante bhagavā, diṭṭhadhammasukhavihāramanuyutto viharatu, mayameva tena bhaṇḍanena kalahena viggahena vivādena paññāyissāmā”ti (mahāva. 457; ma. ni. 3.236) vutte atītaṃ āhari –

Bhūtapubbaṃ, bhikkhave, bārāṇasiyaṃ brahmadatto nāma kāsirājā ahosi. Brahmadattena dīghītissa kosalarañño rajjaṃ acchinditvā aññātakavesena vasantassa pituno māritabhāvañceva dīghāvukumārena attano jīvite dinne tato paṭṭhāya tesaṃ samaggabhāvañca kathetvā “tesañhi nāma, bhikkhave, rājūnaṃ ādinnadaṇḍānaṃ ādinnasatthānaṃ evarūpaṃ khantisoraccaṃ bhavissati. Idha kho taṃ, bhikkhave, sobhetha, yaṃ tumhe evaṃ svākhāte dhammavinaye pabbajitā samānā khamā ca bhaveyyātha soratā cā”ti ovaditvāpi neva te samagge kātuṃ asakkhi. So tāya ākiṇṇavihāratāya ukkaṇṭhito “ahaṃ kho idāni ākiṇṇo dukkhaṃ viharāmi, ime ca bhikkhū mama vacanaṃ na karonti. Yaṃnūnāhaṃ ekakova gaṇamhā vūpakaṭṭho vihareyya”nti cintetvā kosambiyaṃ piṇḍāya caritvā anapaloketvā bhikkhusaṅghaṃ ekakova attano pattacīvaramādāya bālakaloṇakagāmaṃ gantvā tattha bhaguttherassa ekacārikavattaṃ kathetvā pācinavaṃsamigadāye tiṇṇaṃ kulaputtānaṃ sāmaggiyānisaṃsaṃ kathetvā yena pālileyyakaṃ atthi, tadavasari. Tatra sudaṃ bhagavā pālileyyakaṃ upanissāya rakkhitavanasaṇḍe bhaddasālamūle pālileyyakena hatthinā upaṭṭhiyamāno phāsukaṃ vassāvāsaṃ vasi.

Kosambivāsinopi kho upāsakā vihāraṃ gantvā satthāraṃ apassantā “kuhiṃ, bhante, satthā”ti pucchitvā “pālileyyakavanasaṇḍaṃ gato”ti. “Kiṃ kāraṇā”ti? “Amhe samagge kātuṃ vāyami, mayaṃ pana na samaggā ahumhā”ti. “Kiṃ, bhante, tumhe satthu santike pabbajitvā tasmiṃ sāmaggiṃ karonte samaggā nāhuvatthā”ti? “Evamāvuso”ti. “Manussā ime satthu santike pabbajitvā tasmiṃ sāmaggiṃ karontepi samaggā na jātā, mayaṃ ime nissāya satthāraṃ daṭṭhuṃ na labhimhā, imesaṃ neva āsanaṃ dassāma, na abhivādanādīni karissāmā”ti tato paṭṭhāya tesaṃ sāmīcimattampi na kariṃsu. Te appāhāratāya sussamānā katipāheneva ujukā hutvā aññamaññaṃ accayaṃ desetvā khamāpetvā “upāsakā mayaṃ samaggā jātā, tumhepi no purimasadisā hothā”ti āhaṃsu. “Khamāpito pana vo, bhante, satthā”ti. “Na khamāpito, āvuso”ti. “Tena hi satthāraṃ khamāpetha, satthu khamāpitakāle mayampi tumhākaṃ purimasadisā bhavissāmā”ti. Te antovassabhāvena satthu santikaṃ gantuṃ avisahantā dukkhena taṃ antovassaṃ vītināmesuṃ. Satthā pana tena hatthinā upaṭṭhiyamāno sukhaṃ vasi. Sopi hi hatthināgo gaṇaṃ pahāya phāsuvihāratthāyeva taṃ vanasaṇḍaṃ pāvisi.

Yathāha – “ahaṃ kho ākiṇṇo viharāmi hatthīhi hatthīnīhi hatthikalabhehi hatthicchāpehi, chinnaggāni ceva tiṇāni khādāmi, obhaggobhaggañca me sākhābhaṅgaṃ khādanti, āvilāni ca pānīyāni pivāmi, ogāhā cassa me uttiṇṇassa hatthiniyo kāyaṃ upanighaṃsantiyo gacchanti, yaṃnūnāhaṃ ekova gaṇamhā vūpakaṭṭho vihareyya”nti (mahāva. 467; udā. 35). Atha kho so hatthināgo yūthā apakkamma yena pālileyyakaṃ rakkhitavanasaṇḍaṃ bhaddasālamūlaṃ, yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā pana bhagavantaṃ vanditvā olokento aññaṃ kiñci adisvā bhaddasālamūlaṃ pādeneva paharanto tacchetvā soṇḍāya sākhaṃ gahetvā sammajji. Tato paṭṭhāya soṇḍāya ghaṭaṃ gahetvā pānīyaṃ paribhojanīyaṃ upaṭṭhāpeti, uṇhodakena atthe sati uṇhodakaṃ paṭiyādeti. Kathaṃ? Hatthena kaṭṭhāni ghaṃsitvā aggiṃ sampādeti, tattha dārūni pakkhipanto aggiṃ jāletvā tattha pāsāṇe pakkhipitvā pacitvā dārudaṇḍakena pavaṭṭetvā paricchinnāya khuddakasoṇḍikāya khipati, tato hatthaṃ otāretvā udakassa tattabhāvaṃ jānitvā gantvā satthāraṃ vandati. Satthā “udakaṃ te tāpitaṃ pālileyyakā”ti vatvā tattha gantvā nhāyati. Athassa nānāvidhāni phalāni āharitvā deti. Yadā pana satthā gāmaṃ piṇḍāya pavisati, tadā satthu pattacīvaramādāya kumbhe patiṭṭhapetvā satthārā saddhiṃyeva gacchati. Satthā gāmūpacāraṃ patvā “pālileyyaka ito paṭṭhāya tayā gantuṃ na sakkā, āhāra me pattacīvara”nti āharāpetvā gāmaṃ piṇḍāya pāvisi. Sopi yāva satthu nikkhamanā tattheva ṭhatvā āgamanakāle paccuggamanaṃ katvā purimanayeneva pattacīvaraṃ gahetvā vasanaṭṭhāne otāretvā vattaṃ dassetvā sākhāya bījati, rattiṃ vāḷamigaparipanthanivāraṇatthaṃ mahantaṃ daṇḍaṃ soṇḍāya gahetvā “satthāraṃ rakkhissāmī”ti yāva aruṇuggamanā vanasaṇḍassa antarantarena vicarati, tato paṭṭhāyayeva kira so vanasaṇḍo pālileyyakarakkhitavanasaṇḍo nāma jāto. Aruṇe uggate mukhodakadānaṃ ādiṃ katvā tenevūpāyena sabbavattāni karoti.

Atheko makkaṭo taṃ hatthiṃ uṭṭhāya samuṭṭhāya divase divase tathāgatassa ābhisamācārikaṃ karontaṃ disvā “ahampi kiñcideva karissāmī”ti vicaranto ekadivasaṃ nimmakkhikaṃ daṇḍakamadhuṃ disvā daṇḍakaṃ bhañjitvā daṇḍakeneva saddhiṃ madhupaṭalaṃ satthu santikaṃ āharitvā kadalipattaṃ chinditvā tattha ṭhapetvā adāsi. Satthā gaṇhi. Makkaṭo “karissati nu kho paribhogaṃ na karissatī”ti olokento gahetvā nisinnaṃ disvā “kiṃ nu kho”ti cintetvā daṇḍakoṭiyaṃ gahetvā parivattetvā upadhārento aṇḍakāni disvā tāni saṇikaṃ apanetvā puna adāsi. Satthā paribhogamakāsi. So tuṭṭhamānaso taṃ taṃ sākhaṃ gahetvā naccantova aṭṭhāsi. Athassa gahitasākhāpi akkantasākhāpi bhijjiṃsu. So ekasmiṃ khāṇumatthake patitvā niviṭṭhagatto satthari pasanneneva cittena kālaṃ katvā tāvatiṃsabhavane tiṃsayojanike kanakavimāne nibbatti, accharāsahassaparivāro makkaṭadevaputto nāma ahosi.

Tathāgatassa tattha hatthināgena upaṭṭhiyamānassa vasanabhāvo sakalajambudīpe pākaṭo ahosi. Sāvatthinagarato “anāthapiṇḍiko visākhā ca mahāupāsikā”tievamādīni mahākulāni ānandattherassa sāsanaṃ pahiṇiṃsu “satthāraṃ no, bhante, dassethā”ti. Disāvāsinopi pañcasatā bhikkhū vuṭṭhavassā ānandattheraṃ upasaṅkamitvā “cirassutā no, āvuso ānanda, bhagavato sammukhā dhammī kathā, sādhu mayaṃ, āvuso ānanda, labheyyāma bhagavato sammukhā dhammiṃ kathaṃ savanāyā”ti yāciṃsu. Thero te bhikkhū ādāya tattha gantvā “temāsaṃ ekavihārino tathāgatassa santikaṃ ettakehi bhikkhūhi saddhiṃ upasaṅkamituṃ ayutta”nti cintetvā te bhikkhū bahi ṭhapetvā ekakova satthāraṃ upasaṅkami. Pālileyyako taṃ disvā daṇḍamādāya pakkhandi. Satthā oloketvā apehi “apehi pālileyyaka, mā nivārayi, buddhupaṭṭhāko eso”ti āha. So tattheva daṇḍaṃ chaḍḍetvā pattacīvarapaṭiggahaṇaṃ āpucchi. Thero nādāsi. Nāgo “sace uggahitavatto bhavissati, satthu nisīdanapāsāṇaphalake attano parikkhāraṃ na ṭhapessatī”ti cintesi. Thero pattacīvaraṃ bhūmiyaṃ ṭhapesi. Vattasampannā hi garūnaṃ āsane vā sayane vā attano parikkhāraṃ na ṭhapenti.

Thero satthāraṃ upasaṅkamitvā vanditvā ekamantaṃ nisīdi. Satthā “ānanda, ekova āgatosī”ti pucchitvā pañcasatehi bhikkhūhi saddhiṃ āgatabhāvaṃ sutvā “kahaṃ panete”ti vatvā “tumhākaṃ cittaṃ ajānanto bahi ṭhapetvā āgatomhī”ti vutte “pakkosāhi ne”ti āha. Thero tathā akāsi. Te bhikkhū āgantvā satthāraṃ vanditvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. Satthā tehi saddhiṃ paṭisanthāraṃ katvā tehi bhikkhūhi, “bhante bhagavā, hi buddhasukhumālo ceva khattiyasukhumālo ca, tumhehi temāsaṃ ekakehi tiṭṭhantehi nisīdantehi ca dukkaraṃ kataṃ, vattapaṭivattakārakopi mukhodakādidāyakopi nāhosi maññe”ti vutte, “bhikkhave, pālileyyakahatthinā mama sabbakiccāni katāni. Evarūpañhi sahāyaṃ labhantena ekatova vasituṃ yuttaṃ, alabhantassa ekacārikabhāvova seyyo”ti vatvā imā nāgavagge tisso gāthā abhāsi –

“Sace labhetha nipakaṃ sahāyaṃ,
Saddhiṃcaraṃ sādhuvihāri dhīraṃ;
Abhibhuyya sabbāni parissayāni,
Careyya tenattamano satīmā.

“No ce labhetha nipakaṃ sahāyaṃ,
Saddhiṃcaraṃ sādhuvihāri dhīraṃ;
Rājāva raṭṭhaṃ vijitaṃ pahāya,
Eko care mātaṅgaraññeva nāgo.

“Ekassa caritaṃ seyyo,
Natthi bāle sahāyatā;
Eko care na ca pāpāni kayirā,
Appossukko mātaṅgaraññeva nāgo”ti. (mahāva. 464; ma. ni. 3.237; dha. pa. 328-330; su. ni. 45-46);

Gāthāpariyosāne pañcasatāpi te bhikkhū arahatte patiṭṭhahiṃsu. Ānandattheropi anāthapiṇḍikādīhi pesitasāsanaṃ ārocetvā, “bhante, anāthapiṇḍikappamukhā te pañca ariyasāvakakoṭiyo tumhākaṃ āgamanaṃ paccāsīsantī”ti āha. Satthā “tena hi gaṇhāhi pattacīvara”nti pattacīvaraṃ gāhāpetvā nikkhami. Nāgo gantvā gatamagge tiriyaṃ aṭṭhāsi. “Kiṃ karoti, bhante, nāgo”ti? “Tumhākaṃ, bhikkhave, bhikkhaṃ dātuṃ paccāsīsati, dīgharattaṃ kho panāyaṃ mayhaṃ upakārako, nāssa cittaṃ kopetuṃ vaṭṭati, nivattatha, bhikkhave”ti satthā bhikkhū gahetvā nivatti. Hatthīpi vanasaṇḍaṃ pavisitvā panasakadaliphalādīni nānāphalāni saṃharitvā rāsiṃ katvā punadivase bhikkhūnaṃ adāsi. Pañcasatā bhikkhū sabbāni khepetuṃ nāsakkhiṃsu. Bhattakiccapariyosāne satthā pattacīvaraṃ gāhetvā nikkhami. Nāgo bhikkhūnaṃ antarantarena gantvā satthu purato tiriyaṃ aṭṭhāsi. “Kiṃ karoti, bhante, nāgo”ti? “Ayañhi bhikkhave, tumhe pesetvā maṃ nivattetukāmo”ti. Atha naṃ satthā “pālileyyaka, idaṃ pana mama anivattagamanaṃ, tava iminā attabhāvena jhānaṃ vā vipassanaṃ vā maggaphalaṃ vā natthi, tiṭṭha tva”nti āha. Taṃ sutvā nāgo mukhe soṇḍaṃ pakkhipitvā rodanto pacchato pacchato agamāsi. So hi satthāraṃ nivattetuṃ labhanto teneva niyāmena yāvajīvaṃ paṭijaggeyya, satthā pana taṃ gāmūpacāraṃ patvā “pālileyyaka ito paṭṭhāya tava abhūmi, manussāvāso saparipantho, tiṭṭha tva”nti āha. So rodamāno tattheva ṭhatvā satthari cakkhupathaṃ vijahante hadayena phalitena kālaṃ katvā satthari pasādena tāvatiṃsabhavane tiṃsayojanike kanakavimāne accharāsahassamajjhe nibbatti, pālileyyakadevaputtoyevassa nāmaṃ ahosi.

Satthāpi anupubbena jetavanaṃ agamāsi. Kosambakā bhikkhū “satthā kira sāvatthiṃ āgato”ti sutvā satthāraṃ khamāpetuṃ tattha agamaṃsu. Kosalarājā “te kira kosambakā bhaṇḍanakārakā bhikkhū āgacchantī”ti sutvā satthāraṃ upasaṅkamitvā “ahaṃ, bhante, tesaṃ mama vijitaṃ pavisituṃ na dassāmī”ti āha. “Mahārāja, sīlavantā ete bhikkhū, kevalaṃ aññamaññaṃ vivādena mama vacanaṃ na gaṇhiṃsu, idāni maṃ khamāpetuṃ āgacchanti, āgacchantu mahārājā”ti. Anāthapiṇḍikopi “ahaṃ, bhante, tesaṃ vihāraṃ pavisituṃ na dassāmī”ti vatvā tatheva bhagavatā paṭikkhitto tuṇhī ahosi. Sāvatthiyaṃ anuppattānaṃ pana tesaṃ bhagavā ekamante vivittaṃ kārāpetvā senāsanaṃ dāpesi. Aññe bhikkhū tehi saddhiṃ neva ekato nisīdanti, na tiṭṭhanti, āgatāgatā satthāraṃ pucchanti – “katamete, bhante, bhaṇḍanakārakā kosambakā bhikkhū”ti? Satthā “ete”ti dasseti. “Ete kira te, ete kira te”ti āgatāgatehi aṅgulikā dassiyamānā lajjāya sīsaṃ ukkhipituṃ asakkontā bhagavato pādamūle nipajjitvā bhagavantaṃ khamāpesuṃ. Satthā “bhāriyaṃ vo, bhikkhave, kataṃ, tumhe hi nāma mādisassa buddhassa santike pabbajitvā mayi sāmaggiṃ karonte mama vacanaṃ na karittha, porāṇakapaṇḍitāpi vajjhappattānaṃ mātāpitūnaṃ ovādaṃ sutvā tesu jīvitā voropiyamānesupi taṃ anatikkamitvā pacchā dvīsu raṭṭhesu rajjaṃ kārayiṃsū”ti vatvā punadeva kosambikajātakaṃ (jā. 1.9.10 ādayo) kathetvā “evaṃ, bhikkhave, dīghāvukumāro mātāpitūsu jīvitā voropiyamānesupi tesaṃ ovādaṃ anatikkamitvā pacchā brahmadattassa dhītaraṃ labhitvā dvīsu kāsikosalaraṭṭhesu rajjaṃ kāresi, tumhehi pana mama vacanaṃ akarontehi bhāriyaṃ kata”nti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Pare ca na vijānanti, mayamettha yamāmase;
Ye ca tattha vijānanti, tato sammanti medhagā”ti.

Tattha pareti paṇḍite ṭhapetvā tato aññe bhaṇḍanakārakā pare nāma. Te tattha saṅghamajjhe kolāhalaṃ karontā “mayaṃ yamāmase uparamāma vinassāma satataṃ samitaṃ maccusantikaṃ gacchāmā”ti na vijānanti. Ye ca tattha vijānantīti ye tattha paṇḍitā “mayaṃ maccusantikaṃ gacchāmā”ti vijānanti. Tato sammanti medhagāti evañhi te jānantā yonisomanasikāraṃ uppādetvā medhagānaṃ kalahānaṃ vūpasamāya paṭipajjanti. Atha nesaṃ tāya paṭipattiyā te medhagā sammantīti. Atha vā pare cāti pubbe mayā “mā, bhikkhave, bhaṇḍana”ntiādīni vatvā ovadiyamānāpi mama ovādassa apaṭiggahaṇena atikkamanena amāmakā pare nāma. “Mayaṃ chandādivasena micchāgāhaṃ gahetvā ettha saṅghamajjhe yamāmase bhaṇḍanādīnaṃ vuddhiyā vāyamāmā”ti na vijānanti. Idāni pana yoniso paccavekkhamānā tattha tumhākaṃ antare ye ca paṇḍitapurisā “pubbe mayaṃ chandādivasena vāyamantā ayoniso paṭipannā”ti vijānanti, tato tesaṃ santikā te paṇḍitapurise nissāya ime dāni kalahasaṅkhātā medhagā sammantīti ayamettha atthoti.

Gāthāpariyosāne sampattabhikkhū sotāpattiphalādīsu patiṭṭhahiṃsūti.

Kosambakavatthu pañcamaṃ.

I. 5. The Quarrelsome Monks of Kosambi

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

6. But others do not understand that we must here control ourselves;
Yet let them understand this, and straight dissensions cease.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to the monks of Kosambi.

5 a. Quarrel among the monks

For at Kosambi, in Ghosita monastery, resided two monks, each with a retinue of five hundred monks. Of the two monks, one was a student of the Discipline, the other a preacher of the Law. One day the preacher of the Law, after easing himself, left in a vessel what remained of the water in which he had washed in the bathroom and came out. Afterwards the student of the Discipline went in and saw the water. When he came out, he asked his companion, “Brother, was it you that left the water?” “Yes, brother.” “But do you not know that it is a sin so to do?” “Indeed I do not.” “But, brother, it is a sin.” “Well then, I will make satisfaction for it.” “Of course, brother, if you did it unintentionally, inadvertently, it is no sin.” Thus the preacher of the Law came to look upon the sin as no sin.

Notwithstanding, the student of the Discipline said to his own pupils, “This preacher of the Law, although he has committed sin, does not realize it.” They, seeing the pupils of the preacher of the Law, said, “Your preceptor, although he has committed sin, does not realize it.” The preacher’s pupils went and informed their own preceptor. The preacher of the Law spoke thus, “This student of the Discipline said before, ‘It’s no sin.’ Now he says, ‘It is a sin.’ He’s a liar.” The preacher’s pupils went and said, “Your teacher is a liar.” Thus did they foment a quarrel between the two. Then the student of the Discipline, seizing the opportunity, pronounced sentence of excommunication against the preacher of the Law for failing to recognize his sin. Thenceforth even the supporters who furnished them the Requisites formed two factions. Even the nuns receiving instruction, even the protecting deities; their friends and intimates, the deities who dwell in the sky; beginning with these and extending to the world of Brahmā, all beings, even the unconverted, formed two factions. The quarrel extended from the Realm of the Four Great Kings to the Heaven of the Gods Sublime.

Now a certain monk drew near the Tathāgata and told him that those who pronounced the sentence of excommunication held the view that the monk had been excommunicated according to law; but that the partisans of the excommunicated monk held the view that he had been excommunicated contrary to law, and that the latter had gathered round in support of him, in spite of the fact that those who pronounced the sentence of excommunication forbade them to do so. Twice the Exalted One sent word, “Let them be united,” and received the reply, “Venerable Sir, they refuse to be united.” The third time he exclaimed, “The congregation of monks is rent asunder! The congregation of monks is rent asunder!” So saying, he went to them and pointed out to those who had pronounced sentence of excommunication the wrong involved in their act, and to those who had failed to recognize sin the wrong involved in theirs. Again he enjoined upon them the holding of fast-day and other ceremonies right there within the boundary, and laid down the rule that those who quarreled in refectories and elsewhere were to occupy separate seats in the refectory.

Hearing that they were quarreling again, he went to them, and beginning his discourse with the words, “Enough, monks! No quarreling!” he continued, “Monks, quarrels, strifes, contentions, disputes, – all these are unprofitable. For because of a quarrel even a tiny quail brought about the destruction of a noble elephant.” And he told the Birth-Story of the Tiny Quail. Continuing, he said: “Monks, be united; engage not in disputes. For because of a dispute many thousand quails lost their lives.” And he told the Birth-Story of the Quails.

But in spite of this they paid no attention to his words, and a certain heretical teacher, who wished the Tathāgata to be relieved of annoyance, said to him, “Reverend Sir, let the Exalted One, the Lord of Truth, remain at home. Reverend Sir, let the Exalted One live a life of inaction and ease in this present world. We shall make ourselves notorious by our quarrels, strifes, contentions, and disputes.” Thereupon the Tathāgata told the following Story of the Past:

“Once upon a time, monks, Brahmadatta reigned at Benāres as king of Kāsi. Brahmadatta fought against Dīghati Kosala, took away his kingdom, and killed him while he was living in disguise. Dīghati’s son, Prince Dīghāvu, although he knew that Brahmadatta was the murderer of his father, spared his life. Thenceforth they were at peace with each other. Such, monks, is said to have been the patience and gentleness of these kings who took scepter and sword. How much more, monks, should you, who have retired from the world under a Law and Discipline so well taught, let your light so shine in this world as to be known of men as patient and gentle.” Thus did the Teacher admonish them.

But in spite of his admonition he was unable to reunite them. Thereupon, unhappy because of the crowded conditions under which he lived, he reflected, “Under present conditions I am crowded and jostled and live a life of discomfort. Moreover, these monks pay no attention to what I say. Suppose I were to retire from the haunts of men and live a life of solitude.”

After making his round for alms in Kosambi, without bidding the Congregation of Monks farewell, he took his own bowl and robe, and went quite alone to the village of Bālaka, the salt-maker, where he discoursed to the Elder Bhagu on the solitary life; thence he went to Eastern Bamboo Deer-park, where he discoursed to the three youths of station on the bliss of the sweets of concord; and from there he went to Pārileyyaka. There, at the foot of a beautiful Sāl-tree, in Protected Forest, near Pārileyyaka, the Exalted One spent the rainy season pleasantly, attended by the elephant Pārileyyaka.

When the lay brethren resident at Kosambi went to the monastery and failed to see the Teacher, they asked, “Reverend Sirs, where has the Teacher gone?” “To Pārileyyaka Forest.” “For what reason?” “He strove to reunite us, but we would not be reunited.” “Do you mean, Reverend Sirs, that after receiving admission as monks at the hands of the Teacher, you refused to agree when he asked you to do so?” “Precisely so, brethren.” People said, “These monks, after receiving admission at the hands of the Teacher, were unwilling to patch up their differences when the Teacher asked them to do so. It’s all their fault that we were unable to see the Teacher. To these monks, assuredly, we will neither give seats nor offer respectful salutations or other civilities.” And from that time on they showed them not so much as a sign of civility.

The monks got so little food that they were nearly famished, and it required only a few days to bring them to a better state of mind. Then they confessed their sins, one to another, asked to be pardoned, and said, “Brethren, we are reconciled; be to us as before.” “Reverend Sirs, have you begged the Teacher’s pardon?” “No, we haven’t, brethren.” “Well then, beg the Teacher’s pardon, and as soon as the Teacher has pardoned you, we will be to you as before.” But as the rainy season was then at its height, they were unable to go to the Teacher and spent the rainy season very uncomfortably. The Teacher, however, spent the time pleasantly, attended by an elephant. For this elephant, of noble breed, left his herd and entered the forest for the sole purpose of having a pleasant time. As it is said,

5 b. The Buddha, the elephant, and the monkey

“Here I live, crowded by elephants, female elephants, elephant calves, and young elephants. They have chewed off the tips of the grass I eat; they eat branch after branch I break down; they muddy the water I have to drink. Whenever I plunge into the water, or come up out of the water, the female elephants come and rub against my body. Suppose I were to retire from the herd and live all alone.”

So then this noble elephant withdrew from the herd and drew near to Pārileyyaka, to Protected Forest, to the foot of the beautiful Sāl-tree; even to where the Exalted One was, thither did he draw near. And when he had drawn near and paid obeisance to the Exalted One, he looked all about for a broom. And seeing none, he smote with his foot the beautiful Sāl-tree below and hewed away with his trunk at the Sāl-tree above. And taking a branch, he then swept the ground.

Then he took a water-pot in his trunk and procured drinking-water. And as hot water was required, he prepared hot water. (How was that possible?) First he produced sparks with a fire-drill which he worked with his trunk; then he dropped sticks of wood on the sparks. Thus did he kindle a fire. In the fire he heated small stones; these he rolled along with a stick and dropped into a little depression in the rock. Then, lowering his trunk and finding the water hot enough, he went and made obeisance to the Teacher. The Teacher asked, “Is your water hot, Pārileyyaka?” and went there and bathed. After that the elephant brought various kinds of wild fruits and presented them to the Teacher.

Now when the Teacher enters the village for alms, the elephant takes his bowl and robe, puts them on top of his head, and accompanies him. When the Teacher reaches the vicinity of the village, he bids the elephant bring him his bowl and robe, saying, “Pārileyyaka, farther than this you are not permitted to go. Fetch me my bowl and robe.” The Teacher then enters the village, and the elephant stands right there until he returns. When the Teacher returns, the elephant advances to meet him, takes his bowl and robe just as he did before, deposits them in the Teacher’s place of abode, pays him the usual courtesies, and fans him with the branch of a tree. At night, to ward off danger from beasts of prey, he takes a big club in his trunk, says to himself, “I’ll protect the Teacher,” and back and forth in the interstices of the forest he paces until sunrise. (From that time forth, we are told, that forest was called “Protected Forest.”) When the sun rises, the elephant gives the Teacher water wherewith to bathe his face, and in the manner before related performs all of the other duties.

Now a monkey saw the elephant up and doing each day, performing the lesser duties for the Tathāgata, and he said to himself, “I’ll do something too.” One day, as he was running about, he happened to see some stick-honey free from flies. He broke the stick off, took the honey-comb, stick and all, broke off a plantain-leaf, placed the honey on the leaf, and offered it to the Teacher. The Teacher took it. The monkey watched to see whether or not he would eat it. He observed that the Teacher, after taking the honey, sat down without eating. “What can be the matter?” thought he. He took hold of the stick by the tip, turned it over and over, carefully examining it as he did so, whereupon he discovered some insect’s eggs. Having removed these gently, he again gave the honey to the Teacher. The Teacher ate it.

The monkey was so delighted that he leaped from one branch to another and danced about in great glee. But the branches he grasped and the branches he stepped on broke off. Down he fell on the stump of a tree and was impaled. So he died. And solely because of his faith in the Teacher he was reborn in the World of the Thirty-three in a golden mansion thirty leagues in measure, with a retinue of a thousand celestial nymphs.

It became known over all the Land of the Rose-apple that the Teacher was residing in Protected Forest, attended by a noble elephant. From the city of Sāvatthi, Anāthapiṇḍika, Visākhā, the eminent female lay disciple, and other such great personages sent the following message to the Elder Ānanda,

“Reverend Sir, obtain for us the privilege of seeing the Teacher.” Likewise five hundred monks residing abroad approached the Elder Ānanda at the close of the rainy season and made the following request, “It is a long time, Ānanda, since we have heard a discourse on the Law from the lips of the Exalted One. We should like, brother Ānanda, if you please, to have the privilege of hearing a discourse on the Law from the lips of the Exalted One.”

So the Elder took those monks with him and went to Protected Forest. When he reached the forest, he thought to himself, “The Tathāgata has resided in solitude for a period of three months. It is therefore not fitting that I should approach him all at once with so many monks as these.” Accordingly he left those monks outside and approached the Teacher quite alone. When the elephant Pārileyyaka saw the Elder, he took his staff and rushed forward. The Teacher looked around and said to the elephant, “Come back, Pārileyyaka; do not drive him away. He is a servitor of the Buddha.” The elephant immediately threw away his staff and requested the privilege of taking the Elder’s bowl and robe. The Elder refused. The elephant thought to himself, “If he is versed in the rules of etiquette, he will refrain from placing his monastic requisites on the stone slab where the Teacher is accustomed to sit.” The Elder placed his bowl and robe on the ground. (For those who are versed in the rules of etiquette never place their own monastic requisites on the seat or bed of their spiritual superiors.) The Elder, after saluting the Teacher, seated himself on one side.

The Teacher asked him, “Did you come alone?” The Elder informed him that he had come with five hundred monks. “But where are they?” asked the Teacher. “I did not know how you would feel about it, and therefore I left them outside and came in alone.” “Tell them to come in.” The Elder did so. The Teacher exchanged friendly greetings with the monks. Then the monks said to the Teacher,

“Reverend Sir, the Exalted One is a delicate Buddha, a delicate prince. You must have endured much hardship, standing and sitting here alone as you have during these three months. For of course you had no one to perform the major and minor duties for you, no one to offer you water for bathing the face or to perform any of the other duties for you.” The Teacher replied,

“Monks, the elephant Pārileyyaka performed all of these offices for me. For one who obtains such a companion as he may well live alone; did one fail to find such, even so the life of solitude were better for him.” So saying, he pronounced these three Stanzas in the Nāga Vagga,

328. Should one find a prudent companion to walk with, an upright man and steadfast,
Let one walk with him, joyful, mindful, overcoming all dangers.

329. Should one not find a prudent companion to walk with, an upright man and steadfast,
Then like a king renouncing the kingdom he has conquered, let one walk alone,
Like an elephant roaming at will in an elephant-forest.

330. The life of solitude is better; one cannot be friends with a simpleton;
Let a man live in solitude, and do no evil deeds,
Taking his ease, like an elephant roaming at will in an elephant-forest.

At the conclusion of the Stanzas the five hundred monks were established in Arahatship.

The Elder Ānanda then delivered the message sent by Anāthapiṇḍika and the rest, saying, “Reverend Sir, fifty million Noble Disciples headed by Anāthapiṇḍika desire your return.” “Very well,” said the Teacher, “take bowl and robe.” Causing them to take bowl and robe, he set out. The elephant went and stood crosswise on the road. “Reverend Sir, what is the elephant doing?” “Monks, he desires to give alms to you. For a long time he has served me; it is not right to hurt his feelings. Turn back, monks!” The Teacher and the monks turned back. The elephant entered the forest, gathered bananas and various other fruits, heaped them together, and on the following day gave them to the monks. The five hundred monks were unable to dispose of them all. When they had finished eating, the Teacher took bowl and robe and set out. The elephant, threading his way through the monks, went and stood crosswise in front of the Teacher.

“Reverend Sir, what is the elephant doing?” “Monks, having sped your parting, he desires to make me turn back.” Said the Teacher to the elephant, “Pārileyyaka, I am going now, never to return. You cannot hope in this existence to enter into states of trance, or to attain Spiritual Insight, or the Paths, or the Fruits. Halt!” When the elephant heard that, he thrust his trunk into his mouth and retreated very slowly, weeping as he went. (Could he have made the Teacher turn back, he would have cared for him in the very same way to the end of his days.)

Now when the Teacher reached the vicinity of the village, he said, “Pārileyyaka, farther than this it is unsafe for you to go. The habitations of men are fraught with danger to you. Halt!” The elephant halted where he was and wept. As the Teacher slowly passed out of sight, he died of a broken heart. Through faith in the Teacher he was reborn in the World of the Thirty-three in a golden mansion thirty leagues in measure, with a retinue of a thousand celestial nymphs. God Pārileyyaka was his name.

The Teacher arrived in due course at Jetavana. The monks of Kosambi, hearing of the Teacher’s return to Sāvatthi, went thither to beg his pardon. The king of Kosala, hearing that the quarrelsome monks of Kosambi had come to Sāvatthi, approached the Teacher and said, “Reverend Sir, I’ll not allow those monks to come into my country.” “Great king, these monks are good men; only because of a dispute they had with each other they paid no attention to my words. Now they are coming to beg my pardon; let them come, great king.” Anāthapiṇḍika also said, “I’ll not allow those monks to enter the monastery.” But the Teacher took issue with him as he had with the king, and he was silent.

Now when those monks reached Sāvatthi, the Exalted One gave orders that separate lodging should be prepared and given to them. The other monks neither sit nor stand in their company. One after another those who come ask the Teacher, “Where, Reverend Sir, are the quarrelsome monks of Kosambi?” The Teacher points them out, saying, “There they are!” “There they are! There they are!” One after another those who come point their fingers at them, until for shame they are unable to lift their heads. Then they threw themselves at the feet of the Exalted One and asked him to pardon them. Said the Teacher,

“Monks, grievous was the sin you committed when, after receiving admission as monks at the hands of a Buddha like me, in spite of my efforts to reconcile you, you refused to obey my words. Even wise men of old hearkened to the admonition of their mother and father under sentence of death, disobeyed it not, even while their parents were being deprived of life, and afterwards established their sovereignty over two kingdoms.” So saying, he related the Kosambika Jātaka once more, concluding as follows,

“Thus, monks, Prince Dīghāvu, even while his mother and father were being deprived of life, disobeyed not their admonition and afterwards, obtaining Brahmadatta’s daughter in marriage, bore sway over the two kingdoms of Kāsi and Kosala. You, however, disobeyed my words, and thereby committed a grievous sin.” So saying, he pronounced the following Stanza,

6. But others do not understand that we must here control ourselves;
Yet let them understand this, and straight dissensions cease.

At the conclusion of the Stanza the assembled monks were established in the Fruit of Conversion.

  1. Parallels: Jātaka 428: iii. 486-490; Vinaya, Mahā Vagga, x. 1-5: i. 337-357; Udāna, iv. 5: 41-42. The story of the quarrel among the monks is almost word for word the same as Jātaka 428, which in turn is derived from the Vinaya. The story of the Buddha’s residence in Protected Forest with an elephant for his attendant is for the most part an elaboration of Vinaya, i. 350-357. The story of the monkey is an original touch of the redactor. The redactor follows the Vinaya account rather than that of the Udāna. Text: N i. 53-66.
  2. Jātaka 357: iii. 174-177.
  3. Jātaka 33: i. 208-210. Cf. Panchatantra, Book ii. Frame-story.
  4. For a translation of the complete version of this beautiful story, see Sacred Books of the East, xvii (Vinaya Texts), pp. 293-305.
  5. Ed. note: See Udāna, 4.5.
  6. Cf. Story xxiii. 7.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 1, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp có dẫn kệ này