Tích Trưởng Lão Khố Rách
Pilotikatissattheravatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 143–144 Kinh Pháp Cú, phẩm Hình Phạt, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 143-144)
143. “Hirīnisedho puriso,
Koci lokasmi vijjati;
Yo niddaṃ apabodheti,
Asso bhadro kasāmiva.”
“Thật khó tìm ở đời,
Người biết thẹn, tự chế,
Biết tránh né chỉ trích,
Như ngựa hiền tránh roi.”
144. “Asso yathā bhadro kasāniviṭṭho,
Ātāpino saṃvegino bhavātha;
Saddhāya sīlena ca vīriyena ca,
Samādhinā dhammavinicchayena ca;
Sampannavijjācaraṇā patissatā,
Pahassatha dukkhamidaṃ anappakaṃ.”
“Như ngựa hiền chạm roi,
Với Tín, Giới, Tinh tấn,
Thiền định cùng Trạch pháp.
Minh hạnh đủ, Chánh niệm,
Đoạn khổ này vô lượng.”
(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư thuyết khi Ngài ngự tại Jetavana Vihāra (Kỳ Viên Tự), đề cập đến Trưởng lão Pilotika (Khố Rách ).
Một ngày nọ, Trưởng lão Ānanda gặp một cậu bé mặc y phục rách rưới, tay cầm cái chén đi xin ăn, bèn hỏi nó:
- Sao con sống lang thang như thế làm gì? Xuất gia chẳng là cao thượng hơn chăng?
- Bạch Ngài, ai sẽ cho con xuất gia?
Nghe vậy, Trưởng lão nói: “Ta sẽ cho con xuất gia.”. Rồi Trưởng lão dắt cậu bé về chùa, bảo cậu ta tắm rửa sạch sẽ, cho nó thọ đề mục và cho cậu ta đắp y xuất gia. Khi trải quần áo cũ vá ra xem, thấy không có chút nào mót làm vải lọc nước được, ông Tân Sa di nầy liền máng chúng nó trên nhánh cây chung với cái chén xin ăn.
Về sau, Sa di ấy tu lên Tỳ khưu, gặp thời Phật giáo đang hưng thịnh, lợi lộc phát sanh rất nhiều, ông thọ hưởng quá đầy đủ, đắp toàn những lá y quí giá, thân thể phì nộn, ông lấy làm bất mãn, tự trách: “Ta cần gì đắp y để cho người đời phát sanh đức tin? Ta sẽ mặc lại y phục cũ vá của ta.”.
Đến chỗ nhánh cây, ông cầm lấy quần áo cũ và tự mắng rằng: “Nầy kẻ vô sĩ, không biết hổ thẹn, ngươi muốn Xả bỏ những y lành lặn như thế nầy, để mặc lại bộ đồ giẻ rách, cầm cái chén đi xin ăn hay sao?”.
Đây là ông mượn cách nầy làm đối tượng để tự mình khuyến giáo lấy mình, nhờ sự huấn dụ cảnh giác như thế, tâm ông sư lắng dịu. Sau khi ra khỏi chỗ treo quần áo cũ vá, tẩy sạch phiền não trong tâm rồi, ông lại trở ra chỗ đó và tự giáo hóa tâm như trước, khi tâm lắng dịu, ông lại trở về chùa. Ông cứ đi đi lại lại như thế mãi, khiến chư Tăng thấy lạ, hỏi ông:
- Đạo hữu đi đâu vậy?
Trưởng lão đáp:
- Bạch các Ngài, tôi đến viếng thầy A Xà Lê!
Nhờ lấy quần áo vá cũ của mình lúc trước làm đề mục quán tưởng. Trưởng lão ngăn được tâm bất mãn, tự chế được mình, nên mấy hôm sau đắc quả A La Hán.
Các Tỳ khưu hỏi:
- Nầy đạo hữu, sao bây giờ đạo hữu không đi viếng thầy A Xà Lê nữa? Đây há không phải là con đường hành đạo của đạo hữu ư?
- Bạch các Ngài, tôi đến tiếp xúc với thầy A Xà Lê để nhờ thầy nhắc nhở, bây giờ, tôi đoạn giao với Thầy rồi, nên tôi không đến viếng Thầy nữa1?
Chư Tăng bèn mách với Đức Như Lai:
- Bạch Ngài! Tỳ khưu Vải Rách phạm đại vọng ngữ!
- Nầy các Tỳ khưu! Thầy ấy đã nói những gì?
- Bạch Ngài, thầy ấy đã nói như vầy…
Nghe rõ câu chuyện, Đức Bổn Sư xác nhận rằng: “Đúng vậy, nầy các Tỳ khưu, con trai Ta lúc cần tiếp xúc để được nhắc nhở thì đến viếng thầy A Xà Lê, bây giờ đã đoạn giao với thầy, tự mình cấm ngăn lấy mình và đã đắc A La Hán rồi!”.
Nói rồi, Đức Bổn Sư ngâm kệ rằng:
143. “Hirīnisedho puriso,
Koci lokasmi vijjati;
Yo niddaṃ apabodheti,
Asso bhadro kasāmiva.”
Ở đây thầy A Xà Lê là bộ đồ cũ vá mà vị Tỳ khưu đã xả bỏ những tâm luyến tiếc vì muốn hoàn tục.
144. “Asso yathā bhadro kasāniviṭṭho,
Ātāpino saṃvegino bhavātha;
Saddhāya sīlena ca vīriyena ca,
Samādhinā dhammavinicchayena ca;
Sampannavijjācaraṇā patissatā,
Pahassatha dukkhamidaṃ anappakaṃ.”
143 – 143. Biết lấy điều hổ thẹn để tự cấm ngăn
mình, thế gian ít người làm được. Nhưng người đã làm được, họ đã khéo tránh hổ nhục như ngựa hay khéo tránh roi da.
Các người hãy nỗ lực sám hối như ngựa đã hay còn thêm roi. Hãy ghi nhớ lấy Chánh tín, Tịnh giới, Tinh tiến, Tam Ma Địa (Thiền định), Trí phân biệt Chánh Pháp và Minh hạnh túc, để tiêu diệt vô lượng thống khổ.
(Bản dịch của T.K. Trí Đức)
CHÚ GIẢI:
Hirinisedho: người biết hổ thẹn, tự ngăn cấm những ý tưởng bất thiện, không cho sanh lên trong tâm mình.
Koci lokasmiṃ: những như vậy thật khó tìm gặp trong đời, khó có được trong thế gian.
Yo niddaṃ: người nào không dể duôi hành Sa môn Pháp, biết tránh lời chê trách, không để sanh lên đến mình, nên không biết (Apabodheti) đến sự hổ nhục.
Kasāmiva: như ngựa hay khéo tránh roi da, không để phạm đến mình, người khéo tránh sự chê trách , thật khó gặp gỡ vậy.
Bài kệ thứ hai giảng vắn tắt như vầy: “Nầy các Tỳ khưu, như ngựa hay mà sanh chứng phóng dật, người ta phải dùng đến roi da. Ta đây cũng đánh bằng một thứ roi da khác để phấn khích các thầy. Như vậy các thầy hãy có nhiệt tâm, hãy có kinh cảm, có đủ cả hai loại: Đức tin phàm và Thánh, Tứ thanh tịnh Giới, Thân ý Tinh cần, Tám bậc Thiền, Thiền diệt, do có Trí phân biệt lý và phi lý, và do có Trạch pháp rồi đắc Tam Minh hoặc Bát Minh với Mười lăm cái Hạnh , gọi là Minh Hạnh Túc, với Chánh Niệm hiện tại, hãy tiêu trừ cái khổ vô lượng trong vòng luân hồi nầy đi!”.
Cuối thời Pháp, nhiều Tỳ khưu đắc Thánh quả, nhất là Tu Đà Hườn quả.
Tỳ khưu biết thẹn, tự chế mình,
Mỗi lúc tâm phiền não phát sinh,
Ra chỗ cây treo đồ cũ rách,
Quán về thống khổ kẻ cùng đinh.
Lần lần, tâm chứng cảnh an vui,
Nẻo đến cây rừng vắng tới lui,
Tăng thấy khác thường, kêu hỏi thử,
Sư rằng: “Thầy hết nhắc thời thôi!”
Tăng trách Sư khoe Đạo quả linh,
Phật rằng: “Ai khéo biết cảm kinh,
Ngựa hay, chẳng đợi gì roi đánh,
Tín, Tấn, Niệm thường, Định, Huệ sinh.”.
DỨT TÍCH TRƯỞNG LÃO KHỐ RÁCH
Pilotikatissattheravatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Hirīnisedhoti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto pilotikattheraṃ ārabbha kathesi.
Ekasmiñhi samaye ānandatthero ekaṃ pilotikakhaṇḍanivatthaṃ kapālaṃ ādāya bhikkhāya carantaṃ dārakaṃ disvā “kiṃ te evaṃ vicaritvā jīvanato pabbajjā na uttaritarā”ti vatvā, “bhante, ko maṃ pabbājessatī”ti vutte “ahaṃ pabbājessāmī”ti taṃ ādāya gantvā sahatthā nhāpetvā kammaṭṭhānaṃ datvā pabbājesi. Tañca pana nivatthapilotikakhaṇḍaṃ pasāretvā olokento parissāvanakaraṇamattampi gayhūpagaṃ kañci padesaṃ adisvā kapālena saddhiṃ ekissā rukkhasākhāya ṭhapesi. So pabbajitvā laddhūpasampado buddhānaṃ uppannalābhasakkāraṃ paribhuñjamāno mahagghāni cīvarāni acchādetvā vicaranto thūlasarīro hutvā ukkaṇṭhitvā “kiṃ me janassa saddhādeyyaṃ nivāsetvā vicaraṇena, attano pilotikameva nivāsessāmī”ti taṃ ṭhānaṃ gantvā pilotikaṃ gahetvā “ahirika nillajja evarūpānaṃ vatthānaṃ acchādanaṭṭhānaṃ pahāya imaṃ pilotikakhaṇḍaṃ nivāsetvā kapālahattho bhikkhāya carituṃ gacchasī”ti taṃ ārammaṇaṃ katvā attanāva attānaṃ ovadi, ovadantasseva panassa cittaṃ sannisīdi. So taṃ pilotikaṃ tattheva paṭisāmetvā nivattitvā vihārameva gato. So katipāhaccayena punapi ukkaṇṭhitvā tatheva vatvā nivatti, punapi tathevāti. Taṃ evaṃ aparāparaṃ vicarantaṃ disvā bhikkhū “kahaṃ, āvuso, gacchasī”ti pucchanti. So “ācariyassa santikaṃ gacchāmāvuso”ti vatvā eteneva nīhārena attano pilotikakhaṇḍameva ārammaṇaṃ katvā attānaṃ nisedhetvā katipāheneva arahattaṃ pāpuṇi. Bhikkhū āhaṃsu – “kiṃ, āvuso, na dāni ācariyassa santikaṃ gacchasi, nanu ayaṃ te vicaraṇamaggo”ti. Āvuso, ācariyena saddhiṃ saṃsagge sati gatomhi, idāni pana me chinno saṃsaggo, tenassa santikaṃ na gacchāmīti. Bhikkhū tathāgatassa ārocesuṃ – “bhante, pilotikatthero aññaṃ byākarotī”ti. Kimāha, bhikkhaveti? Idaṃ nāma, bhanteti. Taṃ sutvā satthā “āma, bhikkhave, mama putto saṃsagge sati ācariyassa santikaṃ gato, idāni panassa saṃsaggo chinno, attanāva attānaṃ nisedhetvā arahattaṃ patto”ti vatvā imā gāthā abhāsi –
“Hirīnisedho puriso, koci lokasmiṃ vijjati;
Yo niddaṃ apabodheti, asso bhadro kasāmiva.
“Asso yathā bhadro kasāniviṭṭho,
Ātāpino saṃvegino bhavātha;
Saddhāya sīlena ca vīriyena ca,
Samādhinā dhammavinicchayena ca;
Sampannavijjācaraṇā patissatā,
Jahissatha dukkhamidaṃ anappaka”nti.
Tattha anto uppannaṃ akusalavitakkaṃ hiriyā nisedhetīti hirīnisedho. Koci lokasminti evarūpo puggalo dullabho, kocideva lokasmiṃ vijjati. Yo niddanti appamatto samaṇadhammaṃ karonto attano uppannaṃ niddaṃ apaharanto bujjhatīti apabodheti. Kasāmivāti yathā bhadro asso attani patamānaṃ kasaṃ apaharati, attani patituṃ na deti. Yo evaṃ niddaṃ apabodheti, so dullabhoti attho.
Dutiyagāthāya ayaṃ saṅkhepattho – “bhikkhave, yathā bhadro asso pamādamāgamma kasāya niviṭṭho, ahampi nāma kasāya pahaṭo”ti aparabhāge ātappaṃ karoti, evaṃ tumhepi ātāpino saṃvegino bhavatha, evaṃbhūtā lokiyalokuttarāya duvidhāya saddhāya ca catupārisuddhisīlena ca kāyikacetasikavīriyena ca aṭṭhasamāpattisamādhinā ca kāraṇākāraṇajānanalakkhaṇena dhammavinicchayena ca samannāgatā hutvā tissannaṃ vā aṭṭhannaṃ vā vijjānaṃ, pañcadasannañca caraṇānaṃ sampattiyā sampannavijjācaraṇā. Upaṭṭhitasatitāya patissatā hutvā idaṃ anappakaṃ vaṭṭadukkhaṃ pajahissathāti.
Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.
Pilotikatissattheravatthu dasamaṃ.
X. 10. The Monk and the Ragged Garment
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
143. Is there a man in this world so restrained by modesty
That he wards off reproach as a well-bred horse the whip?
144. Even as a well-bred horse touched by the whip, so be ye ardent and active.
By faith, by virtue, by resolution, by meditation, by understanding of the Law,
Possessing perfect knowledge and behavior, thoughtful, you will rid yourselves of this great suffering.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Elder Pilotika.
For one day Elder Ānanda saw a certain youth going along, clad in a ragged undergarment, with a potsherd in his hand. Said the Elder to the youth, “Is not the monastic life superior to the kind of life you lead?” Said the youth to the Elder, “Reverend Sir, who will make a monk of me?” “I will make a monk of you,” said the Elder. So taking him with him, he bathed him with his own hand, and giving him a Subject of Meditation, made a monk of him. Now the youth spread out the cloth which he had worn as an undergarment, looked about him, and seeing no place to which he might resort for the purpose of straining water, placed the cloth and the potsherd on the branch of a certain tree. Having been admitted to the Order and having made his full profession, he enjoyed to the full the rich offerings which accrue to the Buddhas, and went about clad in robes of great price. After a time he became fat and discontented. Thought he to himself, “What is the use of my going about clad in robes which are the pious offerings of the people? I will clothe myself once more in the same old cloth I used to wear.” Accordingly he went to the place where he had left the cloth and recovered it. Having so done, he said to himself, “You shameless, unblushing simpleton, you have thrown away the privilege of wearing rich apparel, have clothed yourself in these rags, and with potsherd in hand, are about to go forth for alms.” And taking this thought for his Subject of Meditation, all by himself he admonished himself. Now even as he admonished himself, his mind became tranquil. Then and there he put away that cloth and went back again to the monastery. After a few days, however, he became discontented once more, said the same thing to himself, and then went back again to the monastery. Again the third time the same thing happened. When the monks saw him going back and forth in this manner, they asked him, “Brother, where are you going?” “I am going to my teacher, brethren,” he replied. Thus did he take his own old ragged garment for his Subject of Meditation, by this means conquer himself, and in a few days attain Arahatship.
Said the monks, “Brother, do you no longer go to your teacher? This is not the path you have been accustomed to travel.” “Brethren,” replied the monk, “when I was attached to the world, I walked with a teacher. But now that I have cut off the ties that bind me to the world, I no longer go to him.” The monks reported the matter to the Teacher, saying, “Reverend Sir, the Elder Pilotika does not speak the truth.” “What did he say, monks?” replied the Teacher. “He said this and that, Reverend Sir.” When the Teacher heard that, he said, “Monks, what he says is quite true. When my son was attached to the world, he went to a teacher. But now he has cut off the ties that bound him to the world, has himself restrained himself, and has attained Arahatship.” So saying, he pronounced the following Stanzas,
143. Is there a man in this world so restrained by modesty
That he wards off reproach as a well-bred horse the whip?
144. Even as a well-bred horse touched by the whip, so be ye ardent and active.
By faith, by virtue, by resolution, by meditation, by understanding of the Law,
Possessing perfect knowledge and behavior, thoughtful, you will rid yourselves of this great suffering.
- Cf. story XXV. 10. Text: N iii. 84-87.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.