Tích Trưởng Lão Sammajjana
Sammajjanattheravatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 172 Kinh Pháp Cú, phẩm Thế Gian, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 172) “Yo ca pubbe pamajjitvā, “Ai sống trước buông lung, Pacchā so nappamajjati; Sau sống không phóng dật, Somaṃ lokaṃ pabhāseti, Chói sáng rực đời nầy. Abbhā muttova candimā.” Như trăng thoát mây che.”
(Ngài HT Minh Châu)
Đức Thế Tôn khi ngự tại Jetavana, đề cập đến Trưởng Lão Sammajjana, tuyên thuyết kệ ngôn nầy.
Được nghe rằng: Trưởng Lão Sammajjana là người không phân biệt thời, bất cứ lúc nào vị ấy cũng cần chỗ quét rác cỏ, ở khắp Tịnh xá, bất kể là sáng hay chiều.
Một hôm, Trưởng Lão đi đến Tịnh thất của Đại Đức Revata để quét dọn, thấy Đại Đức đang ngồi nơi chỗ ban ngày yên lặng, Trưởng Lão Sammajjana nói rằng:
- Vị Trưởng Lão nầy lười biếng quá, dùng vật thực của tín thí gia xong, đến đây ngồi yên, chỉ cầm chỗi quét một chút cũng không thấy.
Nghe thế Trưởng Lão Revata suy nghĩ:
- Ta nên giáo giới vị nầy vậy.
Ngài nói với Trưởng Lão Sammajjana rằng:
- Hãy đến đây, hỡi Hiền giả.
- Bạch Ngài, có chuyện chi vậy?
- Hiền giả hãy đi tắm đi, rồi đến đây.
Sau khi Trưởng Lão sammajjana tắm xong, đi đến Trưởng Lão Revata, Ngài bảo vị ấy ngồi sang một bên, dạy rằng:
- Nầy Hiền giả! Lẽ thường vị Tỳ Khưu cứ cầm chỗi quét suốt cả ngày là điều không hợp lẽ. Tỳ Khưu chỉ nên quét dọn vào buổi sáng xong, đi khất thực. Khi về đến Tịnh xá, ngồi vào chỗ ban ngày hay chỗ ban đêm, để tâm quán xét về 32 thể trược, để thấy được sự sanh diệt của thân nầy. Vào buổi chiều quét dọn Tịnh xá, đó là hợp lẽ. Tỳ Khưu chớ nên quét suốt cả ngày, hãy dành thời gian tạo lợi ích cho mình vậy.
Trưởng Lão Sammajjana vâng theo lời giáo hóa của Trưởng Lão Revata, chẳng bao lâu Ngài chứng đắc A La Hán Quả. Và trong Tịnh xá có nhiều chỗ rác đã ứ động, bây giờ chư Tỳ Khưu nói với Trưởng Lão Sammajjana rằng:
- Nầy hiền giả Sammajjana! Các chỗ đã ứ đọng đầy rác, vì sao hiền giả không quét?
- Thưa chư Hiền! Trước đây tôi đã quét rác trong lúc dễ duôi, nhưng bây giờ tôi không còn dễ duôi quét rác nữa.
Chư Tỳ Khưu cho rằng Trưởng Lão Sammajjana khoe đạo giả cao nhân, tuyên bố mình là vị Thánh Vô Lậu, nên trình lên Đức Thế Tôn về câu chuyển đó và bạch rằng:
- Bạch Thế Tôn! Vị Tỳ Khưu nầy nói sai sự thật, vị ấy nói không đúng theo sự thật.
- Nầy các Tỳ Khưu! Thật vậy, trước kia con Như Lai đã cầm chỗi quét trong lúc dễ duôi. Nhưng bây giờ đây con Như Lai không còn làm như thế nữa, đã đình chỉ, sống an lạc phát sanh từ Đạo Quả.
Rồi Ngài tuyên thuyết lên kệ ngôn rằng:
172. Người trước kia phóng dật, về sau chuyên cần tu niệm. Người như thế rọi sáng thế gian như vầng trăng thoát ra khỏi đám mây mờ.
“Yo ca pubbe pamajjitvā,
pacchā so nappamajjati;
Somaṃ lokaṃ pabhāseti,
Abbhā muttova candimā.”
“Ai sống trước buông lung,
Sau sống không phóng dật,
Chói sáng rực đời nầy.
Như trăng thoát mây che.”
(Ngài HT Minh Châu)
CHÚ GIẢI:
Bậc trí nên hiểu ý nghĩa của câu kệ ngôn nầy như sau:
Người trước kia có sự dễ duôi bằng các phận sự làm đi làm lại, hoặc tụng đọc… về sau đình chỉ những việc làm đó, sống an lạc phát sanh từ Đạo Quả, gọi là người không muốn dễ duôi. Người ấy thường rực sáng trong thế gian nầy như uẩn… tức là làm cho sáng chói thuần chất với trí đạo, ví như vầng trăng thoát khỏi mây mờ… là cơ hội giúp cho thế gian được sáng chói như thế.
Dứt kệ ngôn nhiều người chứng đạt Thánh Quả, nhất là Tu Đà Hườn quả.
Đại đức Quét nầy thật xứng danh:
Tối ngày cầm chổi quét lanh quanh!
Chê Ngài lậu tận ta lười biếng,
Ngồi mãi, làm sao đạo quả thành?
Cũng may, Đại Đức Ly Bà Đa,
Biết có duyên lành, mới nhắc qua,
Nhờ đó hành thân, sau đắc quả,
Chùa dơ, mặc kệ, chẳng lo ra!
Tăng hỏi: Sư không quét nữa đi!
Sư rằng: Nay đã hết ngu si,
Nên không thích quét như hồi trước!
Tăng hỏi Phật Đà để phá nghi,
Phật dạy: Con ta trước dể duôi,
Bây giờ tinh tấn, hết buông xuôi,
Như trăng thoát khỏi vầng mây án
Soi sáng nhân gian, ánh rạng ngời!
DỨT TÍCH TRƯỞNG LÃO SAMMAJJANA
Sammajjanattheravatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Yo ca pubbeti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto sammajjanattheraṃ ārabbha kathesi.
So kira pāto vā sāyaṃ vāti velaṃ pamāṇaṃ akatvā abhikkhaṇaṃ sammajjantova vicarati. So ekadivasaṃ sammajjaniṃ gahetvā divāṭṭhāne nisinnassa revatattherassa santikaṃ gantvā “ayaṃ mahākusīto janassa saddhādeyyaṃ bhuñjitvā āgantvā nisīdati, kiṃ nāmetassa sammajjaniṃ gahetvā ekaṃ ṭhānaṃ sammajjituṃ na vaṭṭatī”ti āha. Thero “ovādamassa dassāmī”ti cintetvā ehāvusoti. Kiṃ, bhanteti? Gaccha nhatvā ehīti. So tathā akāsi. Atha naṃ thero ekamantaṃ nisīdāpetvā ovadanto āha – “āvuso, bhikkhunā nāma na sabbakālaṃ sammajjantena vicarituṃ vaṭṭati, pāto eva pana sammajjitvā piṇḍāya caritvā piṇḍapātapaṭikkantena āgantvā rattiṭṭhāne vā divāṭṭhāne vā nisinnena dvattiṃsākāraṃ sajjhāyitvā attabhāve khayavayaṃ paṭṭhapetvā sāyanhe uṭṭhāya sammajjituṃ vaṭṭati, niccakālaṃ asammajjitvā attanopi nāma okāso kātabbo”ti. So therassa ovāde ṭhatvā na cirasseva arahattaṃ pāpuṇi. Taṃ taṃ ṭhānaṃ uklāpaṃ ahosi. Atha naṃ bhikkhū āhaṃsu – “āvuso sammajjanatthera, taṃ taṃ ṭhānaṃ uklāpaṃ kasmā na sammajjasī”ti? “Bhante, mayā pamādakāle evaṃ kataṃ, idānāmhi appamatto”ti. Bhikkhū “ayaṃ thero aññaṃ byākarotī”ti satthu ārocesuṃ. Satthā “āma, bhikkhave, mama putto pubbe pamādakāle sammajjanto vicari, idāni pana maggaphalasukhena vītināmento na sammajjatī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –
“Yo ca pubbe pamajjitvā, pacchā so nappamajjati;
Somaṃ lokaṃ pabhāseti, abbhā muttova candimā”ti.
Tassattho – yo puggalo pubbe vattapaṭivattakaraṇena vā sajjhāyādīhi vā pamajjitvā pacchā maggaphalasukhena vītināmento nappamajjati, so abbhādīhi mutto candova okāsalokaṃ maggañāṇena imaṃ khandhādilokaṃ obhāseti, ekālokaṃ karotīti.
Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.
Sammajjanattheravatthu pañcamaṃ.
XIII. 5. The Monk with a Broom
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
172. He who, heedless before...
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Elder Sammuñjani.
Elder Sammuñjani, it appears, went about sweeping continually, both in the morning and in the afternoon, taking no account whatever of the time. One day he took his broom, went to the cell where Elder Revata spent the day, and found him sitting there as usual. Thereupon he thought to himself, “This great idler enjoys the pious offerings of the faithful, and then returns and sits in his cell. Why should he not take a broom and sweep at least one room?” Elder Revata thought to himself, “I will give him an admonition.” So he said to him, “Come here, brother.” “What is it, Reverend Sir?” “Go and bathe and then return to me.” Elder Sammunjani did so.
On his return he seated himself respectfully beside Elder Revata, who thereupon admonished him as follows, “Brother, a monk ought not to go about sweeping all the time. Early in the morning he should of course sweep the rooms, and then he should go forth for alms. Returning from his alms-pilgrimage, he should enter the monastery, seat himself either in the night-quarters or in the day-quarters, and rehearse the Thirty-two Constituent Parts of the Body, grasping firmly the thought of the perishableness of the body. In the evening he should rise from his seat and sweep the rooms again. But he should not spend the whole day sweeping; rather should he allow himself a certain amount of leisure,” Elder Sammuñjani adhered scrupulously to the admonition of Elder Revata, and in no long time attained Arahatship.
After that, however, all the rooms remained full of rubbish. Therefore the monks said to Elder Sammuñjani, “Brother, all the rooms remain full of rubbish; why do you not sweep them?” “Reverend Sirs, I used to do that in the days when I was heedless; now, however, I have become heedful.” The monks reported the matter to the Teacher, saying, “This Elder does one thing and says another.” But the Teacher replied, “Monks, my son the Elder spoke the truth; formerly, in the days of his heedlessness, my son spent the whole time sweeping, but now he spends his time in the enjoyment of the bliss of the Paths and the Fruits, and therefore sweeps no more.” So saying, he pronounced the following Stanza,
172. He who, heedless before, heedless is no more,
Illumines this world as does the moon freed from a cloud.
- Text: N iii. 168-169.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.