Tích Trưởng Lão Tự Lợi
Attadatthattheravatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 166 Kinh Pháp Cú, phẩm Tự Ngã, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 166)
“Attadatthaṃ paratthena,
Bahunāpi na hāpaye;
Attadatthamabhiññāya,
Sadatthappasuto siyā.”
“Dầu lợi người bao nhiêu,
Chớ quên phần tư lợi,
Nhờ Thắng trí tư lợi,
Hãy chuyên tâm lợi mình.”
(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư thuyết khi ngự tại Jetavana Vihāra (Kỳ Viên Tự), đề cập đến Trưởng lão Attadattha (Tự Lợi).
Tương truyền rằng: Khi Bậc Đạo Sư nhận lời thỉnh cầu của Ma Vương, sau ba tháng nữa Ngài sẽ Níp Bàn. Rồi Đức Bổn Sư cho triệu tập chư Tăng đến và tuyên bố rằng:
- Nầy các Tỳ khưu! Sau ba tháng nữa, Như Lai sẽ viên tịch vậy!
Nghe tin nầy, bảy trăm Tỳ khưu phàm phát sanh sự kinh cảm, ngày đêm không dám rời Đức Bổn Sư. Các vị ấy băn khoăn đi đi lại lại, thảo luận với nhau:
- Nầy chư đạo hữu, chúng ta sẽ làm gì đây?
Riêng Trưởng lão Attadattha không tham gia vào việc bàn luận với chư Tỳ khưu mà nghĩ thầm: “Nghe nói còn ba tháng nữa Bậc Đạo Sư sẽ viên tịch Níp Bàn mà ta hiện nay chưa dứt trừ được tình dục, phiền não tham ái. Vậy trong thời gian Bậc Đạo Sư còn tại thế, ta sẽ tinh cần hành đạo để đắc quả A La Hán mới phải!”.
Thế nên Trưởng lão không đi đến nơi chư Tỳ khưu đang luận bàn về sự việc Đức Thế Tôn sắp viên tịch, mà tìm nơi thanh vắng để hành đạo. Chư Tỳ khưu không thấy Trưởng lão đến dự bàn như thế, bèn hỏi rằng:
- Nầy đạo hữu! Vì sao đạo hữu không nhập chúng mà cũng chẳng tham gia cuộc thảo luận nào với chúng tôi cả?
Nói rồi, họ đưa Trưởng lão đến mách với Đức Bổn Sư:
- Bạch Ngài, thầy nầy đã hành động như thế, như thế…
Đức Bổn Sư hỏi Trưởng lão:
- Tại sao, thầy đã làm vậy?
Trưởng lão đáp rằng:
- Bạch Thế Tôn, con nghe tin Ngài sắp viên tịch Đại Níp Bàn trong ba tháng tới đây, mà con thì chưa chứng đắc Giải thoát quả, cho nên con rán Tinh tấn hành đạo để đắc quả A La Hán trong khi Ngài còn tại thế.
Sau khi khen ngợi Trưởng lão, Đức Bổn Sư dạy rằng: “Nầy các Tỳ khưu, thầy nào có lòng thương mến Ta thì hãy bắt chước gương của Trưởng lão Attadattha nầy, không phải những người dâng cúng Ta bằng lễ vật hương hoa là tôn kính Ta đâu! Những người tôn kính Ta chính là những hành giả noi theo Chánh đạo. Bởi thế, các Tỳ khưu khác hãy nên noi gương của Trưởng lão Attadattha nầy.”.
Nói rồi, Ngài ngâm kệ rằng:
“Attadatthaṃ paratthena,
Bahunāpi na hāpaye;
Attadatthamabhiññāya,
Sadatthappasuto siyā.”
Chớ nên vì lợi ích cho kẻ khác mà quên hẳn lợi ích cho chính mình. Người biết lo ích lợi mình mới thường chuyên tâm vào những điều ích lợi.
(Bản dịch của T.K. Trí Đức)
CHÚ GIẢI:
Ý nghĩa của Kệ ngôn nầy là:
Là người cư sĩ tại gia, chớ nên vì sự lợi ích của kẻ khác mà lãng quên sự ích lợi của mình, mặc dù ích lợi của mình nhỏ nhen, chỉ đáng giá một đồng trinh, so với sự ích lợi nhiều gấp cả ngàn lần của kẻ khác. Ở đây, câu nói: “Dầu sự tư lợi chỉ ít oi cỡ một đồng trinh” không ám chỉ vật thực cứng hoặc vật thực mềm mà đề cập đến kết quả của sự Hành đạo. Bởi vậy, Tỳ khưu nào đã quyết định: Ta không bỏ quên tự lợi thì dầu có công việc phát sanh đến Tăng, như việc tu bổ Thánh tháp, hoặc việc phục vụ Thầy tổ, cũng không nên quên lãng phận sự Hành đạo để đắc Thông tuệ làm thấu rõ các Thánh quả. Bởi vậy, Tỳ khưu Attadattha nầy cũng là chỉ định vị Tỳ khưu nào đã quyết định bắt đầu hành Thiền Minh Sát, nguyện đắc Đạo quả ngay trong này nay rồi ra đi. Vị ấy nên bỏ qua các phận sự phục vụ Thầy Tổ v.v… mà chỉ nên lo phận sự Hành đạo của chính mình. Người nào đã hiểu rõ tự lợi như thế, sau khi suy xét thấy: “Điều nầy ích lợi cho ta” tức là người chăm lo sự lợi ích của mình. Người ấy hãy kiên quyết chú tâm vào sự lợi ích của chính mình như vậy.
Cuối thời Pháp, vị Trưởng lão đắc quả A La Hán. Chư Tỳ khưu hiện diện cũng được hưởng lợi ích của thời Pháp thuyết.
Tin Đức Bổn Sư sắp Níp Bàn
Khiến Ngài Tự Lợi phát kinh hoàng:
“Làm sao đắc quả A La Hán,
Để đáp ơn Thầy tổ nặng mang?”
Một mình đóng cốc, quyết công phu,
Tinh tấn cầu mong Quả đặc thù.
Phật gọi Ngài ra trình mật ý,
Và khen: “Vầy mới đáng Tỳ khưu!”
Phật dạy: Tự mình biết lợi mình,
Cần tu cho đắc Quả Vô sinh,
Cúng dường hành đạo là cao thượng,
Hơn cả suy tôn của thế tình!
DỨT TÍCH TRƯỞNG LÃO TỰ LỢI
Attadatthattheravatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Attadatthanti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto attadatthattheraṃ ārabbha kathesi.
Satthārā hi parinibbānakāle, “bhikkhave, ahaṃ ito catumāsaccayena parinibbāyissāmī”ti vutte uppannasaṃvegā sattasatā puthujjanā bhikkhū satthu santikaṃ avijahitvā “kiṃ nu kho, āvuso, karissāmā”ti sammantayamānā vicaranti. Attadatthatthero pana cintesi – “satthā kira catumāsaccayena parinibbāyissati, ahañcamhi avītarāgo, satthari dharamāneyeva arahattatthāya vāyamissāmī”ti. So bhikkhūnaṃ santikaṃ na gacchati. Atha naṃ bhikkhū “kasmā, āvuso, tvaṃ neva amhākaṃ santikaṃ āgacchasi, na kiñci mantesī”ti vatvā satthu santikaṃ netvā “ayaṃ, bhante, evaṃ nāma karotī”ti ārocayiṃsu. So satthārāpi “kasmā evaṃ karosī”ti vutte “tumhe kira, bhante, catumāsaccayena parinibbāyissatha, ahaṃ tumhesu dharantesuyeva arahattappattiyā vāyamissāmī”ti. Satthā tassa sādhukāraṃ datvā, “bhikkhave, yassa mayi sineho atthi, tena attadatthena viya bhavituṃ vaṭṭati. Na hi gandhādīhi pūjentā maṃ pūjenti, dhammānudhammapaṭipattiyā pana maṃ pūjenti. Tasmā aññenapi attadatthasadiseneva bhavitabba”nti vatvā imaṃ gāthamāha –
“Attadatthaṃ paratthena, bahunāpi na hāpaye;
Attadatthamabhiññāya, sadatthapasuto siyā”ti.
Tassattho – gihibhūtā tāva kākaṇikamattampi attano atthaṃ sahassamattenāpi parassa atthena na hāpaye. Kākaṇikamattenāpi hissa attadatthova khādanīyaṃ vā bhojanīyaṃ vā nipphādeyya, na parattho. Idaṃ pana evaṃ akathetvā kammaṭṭhānasīsena kathitaṃ, tasmā “attadatthaṃ na hāpemī”ti bhikkhunā nāma saṅghassa uppannaṃ cetiyapaṭisaṅkharaṇādikiccaṃ vā upajjhāyādivattaṃ vā na hāpetabbaṃ. Ābhisamācārikavattañhi pūrentoyeva ariyaphalādīni sacchikaroti, tasmā ayampi attadatthova. Yo pana accāraddhavipassako “ajja vā suve vā”ti paṭivedhaṃ patthayamāno vicarati, tena upajjhāyavattādīnipi hāpetvā attano kiccameva kātabbaṃ. Evarūpañhi attadatthamabhiññāya “ayaṃ me attano attho”ti sallakkhetvā, sadatthapasuto siyāti tasmiṃ sake atthe uyyuttapayutto bhaveyyāti.
Desanāvasāne so thero arahatte patiṭṭhahi, sampattabhikkhūnampi sātthikā dhammadesanā ahosīti.
Attadatthattheravatthu dasamaṃ.
Attavaggavaṇṇanā niṭṭhitā.
Dvādasamo vaggo.
XII. 10. By Righteousness Men honor the Buddha
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
166. Let a man not neglect his own good for that of another...
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Elder Attadattha.
For when the Teacher was about to pass into Nibbāna, he said to his disciples, “Monks, four months hence I shall pass into Nibbāna.” Thereupon seven hundred monks who had not yet attained the Fruit of Conversion were deeply moved, and never leaving the Teacher’s side, whispered to each other, “Brethren, what are we to do?” But Elder Attadattha thought to himself, “The Teacher says that four months hence he is to pass into Nibbāna. Now I have not yet freed myself from the power of the evil passions. Therefore so long as the Teacher yet remains alive, I will strive with all my might for the attainment of Arahatship.” Accordingly Elder Attadattha went no more with the monks.
Now the monks said to him, “Brother, why is it that you thus avoid our company and no more talk with us?” And conducting Elder Attadattha to the Teacher, they laid the matter before him, saying, “Reverend Sir, this Elder does thus and so.” The Teacher asked Elder Attadattha, “Why do you act thus?” The Elder replied, “Reverend Sir, you have said that four months hence you are to pass into Nibbāna; and I have determined that so long as you yet remain alive, I will strive with all my might for the attainment of Arahatship.”
The Teacher applauded him for his wise decision and said to the monks, “Monks, whosoever sincerely loves me should be like Elder Attadattha. For truly they honor me not who honor me with perfumes and garlands. They only honor me who fulfill the higher and the lower Law; therefore others also should follow the example of Elder Attadattha.” So saying, he pronounced the following Stanza,
166. Let a man not neglect his own good for the good of another, however important.
A man should learn what is good for himself and apply himself thereto with diligence.
- Cf. stories xv. 7 and xxv. 4, and Dīgha 16: ii. 138. Text: N iii. 158-160.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.