Tích Vị Tỳ Khưu Trẻ
Daharabhikkhuvatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 167 Kinh Pháp Cú, phẩm Thế Gian, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 167)
“Hīnaṃ dhammaṃ na seveyya,
Pamādena na saṃvase;
Micchādiṭṭhiṃ na seveyya,
Na siyā lokavaḍḍhano.”
“Chớ theo pháp hạ liệt.
Chớ sống mặc, buông lung;
Chớ tin theo tà kiến,
Chớ tăng trưởng tục trần.”
(Ngài HT Minh Châu)
Kệ ngôn nầy Đức Bổn Sư thuyết lên khi Ngài ngự tại Jetavana, nhân đề cập đến vị Tỳ Khưu trẻ.
Tương truyền rằng? Có vị Trưởng Lão cùng với vị Tỳ Khưu trẻ thường đến nhà của Đại tín nữ Visākhā để thọ thực từ sáng sớm.
Nàng Visākhā hằng cúng dường cháo đến 500 vị Tỳ Khưu, khi Trưởng lão cùng với với vị Tỳ Khưu trẻ dùng cháo xong, Ngài để vị ấy ở lại, còn mình thì đến nhà một gia chủ khác.
Bây giờ, cháu nội của bà Visākhā là người phục vụ chư Tăng, dâng nước lên chư Tăng. Cô cháu gái ấy đang lọc nước để dâng đến vị Tỳ Khưu trẻ, thấy gương mặt mình trong nước nên mĩm cười, vị Tỳ Khưu trẻ thấy nàng mĩm cười, ngỡ nàng ta mĩm cười mình, vị ấy cũng mĩm cười đáp trả. Thấy thế, nàng ta nói rằng:
- Người đứt đầu hay cười.
Cho rằng nàng miệt thị mình, vị Tỳ Khưu trẻ tức giận mắng nàng:
- Ngươi cũng là kẻ đứt đầu, ngay đến cha mẹ ngươi cũng là kẻ đứt đầu.
Cô ấy than khóc, đi mách với Bà Visākhā, nàng Visākhā hỏi rằng:
- Này con, việc chi mà khiến con sầu não như thế?
- Thưa nội! Vị Tỳ Khưu ấy đã mắng con.
Nàng thuật lại câu chuyện cho bà Visākhā nghe. Bà Visākhā đi đến bạch với vị Tỳ Khưu ấy rằng:
- Xin Ngài chớ nên giận, câu nói ấy chẳng phải là câu nói xúc phạm đến Ngài đâu. Vì rằng: Ngài là người có râu tóc đã cạo bỏ, có móng tay móng chân đứt, có y phục khác với y phục thế tục, Ngài là người cắt đứt đời sống tại gia rồi, sống giữa hội chúng đi khất thực để nuôi mạng.
- Thật vậy, nầy cận sự nữ, cô là người biết tôi là người có râu tóc cạo bỏ…nhưng cháu của cô đâu hiểu điều đó, cô ấy đã mắng tôi là “người đứt đầu”, như thế có nên chăng?
Bà Visākhā không thể giảng hòa giữa cháu nội mình với vị Tỳ Khưu trẻ ấy. Khi ấy, vị Trưởng Lão trở lại, nghe câu chuyện cãi lây như thế, hỏi rằng: “nầy cận sự nữ, việc gì thế?”
Được nghe lại mọi chuyện, vị Trưởng Lão bảo vị Tỳ Khưu trẻ rằng:
- Nầy Hiền giả! Ông hãy nhẫn nại đi, nữ nhân nầy không có mắng ông đâu, vì ông là người đã cạo bỏ râu tóc…nên nàng gọi ông là người đứt đầu thôi. Ông nên hiểu như thế đi.
- Đúng vậy, bạch Ngài! Nhưng Ngài hãy rầy la cô ấy đi, sao Ngài lại la rầy tôi. Nàng ấy nói tôi là kẻ đứt đầu như thế có nên chăng?
Thế là, câu chuyển hòa giải cũng không thành. Kể đến, Bậc Đạo Sư ngự đến tư gia của bà Visākhā, Ngài phán hỏi rằng:
- Này các Tỳ Khưu! Việc gì thế?
Bà Visākhā bạch lại câu chuyện ấy. Bậc Đạo Sư quán thấy duyên lành Thánh Quả của vị Tỳ Khưu trẻ. Ngài suy nghĩ “Ta nên chuẩn y cho y, khiến y bình tâm lại là việc tốt nhất”. Suy nghĩ như thế Ngài phán dạy rằng:
- Này Visākhā! Cháu của ngươi nói đệ tử của Như Lai là người đứt đầu, như thế có xứng đáng chăng? Tuy là nói với ý nghĩa cạo bỏ râu tóc…nhưng cũng chẳng nên nói như thế.
Nghe vậy, vị Tỳ Khưu trẻ đứng dậy, chấp tay đảnh lễ Đức Thế Tôn bạch rằng:
- Bạch Đức Thế Tôn! Ngài thông suốt mọi vấn đề, còn vị Trưởng Lão Tế Độ Sư của con cùng nàng Visākhā lại không thông suốt.
Đức Thế Tôn biết tâm vị Tỳ Khưu trẻ đã dịu lại rồi, cuộc tranh chấp trong tâm của vị ấy không còn, Ngài lại phán dạy rằng:
- Nầy Tỳ Khưu! Sự cười hướng về dục lạc là pháp hạ liệt. Hơn nữa thọ dụng pháp hạ liệt và sống với sự dễ duôi là điều không nên vậy.
Rồi Ngài thuyết lên kệ ngôn rằng:
“Hīnaṃ dhammaṃ na seveyya,
Pamādena na saṃvase;
Micchādiṭṭhiṃ na seveyya,
Na siyā lokavaḍḍhano.”
“Chớ theo pháp hạ liệt.
Chớ sống mặc, buông lung;
Chớ tin theo tà kiến,
Chớ tăng trưởng tục trần.”
(Ngài HT Minh Châu)
Không nên phục dịch mục tiêu bần tiện. Không nên sống buông lung phóng dật. Không nên ôm ấp tà kiến. Không nên nâng đở thế gian.
CHÚ GIẢI:
Hīnaṃ dhammaṃ: Nghĩa là Pháp hạ liệt, tức là ngũ dục. Thật vậy ngũ dục ấy, dù là chúng sanh hạ liệt như trâu, bò, lạc đà… cũng thọ dụng. Ngũ dục hằng đưa chúng sanh rơi vào khổ cảnh như địa ngục… Vì vậy ngũ dục gọi là pháp hạ liệt.
Pamādena: Nghĩa là không nên sống với sự dễ duôi, có tướng là thất niệm.
Na saṃvase: Tức là không nên ôm ấp tri kiến sai lầm.
Lokavaḍḍhano: Nghĩa là người nào hành như vậy, người ấy gọi là người ô nhiễm ở đời. Do đó (không) nên là người ô nhiễm ở đời, do không hành như vậy.
Dứt kệ ngôn, vị Tỳ Khưu trẻ chứng đạt Dự Lưu Quả.
Đứt đầu, đứt tóc, khác nhau xa,
Tín nữ nhập chung để giảng hòa,
Sư trẻ còn hăng, đâu chịu kém,
Thời may Phật đến, mở oan gia.
Phật dạy: Đã là bậc tỷ kheo,
Ngũ trần dục lạc chớ dua theo,
Cười vui thấp thỏi, đừng mê mải
Tà kiến nhiều khi rất hiểm nghèo.
DỨT TÍCH VỊ TỲ KHƯU TRẺ
Daharabhikkhuvatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Hīnaṃ dhammanti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto aññataraṃ daharabhikkhuṃ ārabbha kathesi.
Aññataro kira thero daharabhikkhunā saddhiṃ pātova visākhāya gehaṃ agamāsi. Visākhāya gehe pañcasatānaṃ bhikkhūnaṃ dhuvayāgu niccapaññattā hoti. Thero tattha yāguṃ pivitvā daharabhikkhuṃ nisīdāpetvā sayaṃ aññaṃ gehaṃ agamāsi. Tena ca samayena visākhāya puttassa dhītā ayyikāya ṭhāne ṭhatvā bhikkhūnaṃ veyyāvaccaṃ karoti. Sā tassa daharassa udakaṃ parissāventī cāṭiyaṃ attano mukhanimittaṃ disvā hasi, daharopi taṃ oloketvā hasi. Sā taṃ hasamānaṃ disvā “chinnasīso hasatī”ti āha. Atha naṃ daharo “tvaṃ chinnasīsā, mātāpitaropi te chinnasīsā”ti akkosi. Sā rodamānā mahānase ayyikāya santikaṃ gantvā “kiṃ idaṃ, ammā”ti vutte tamatthaṃ ārocesi. Sā daharassa santikaṃ āgantvā, “bhante, mā kujjhi, na etaṃ chinnakesanakhassa chinnanivāsanapārupanassa majjhe chinnakapālaṃ ādāya bhikkhāya carantassa ayyassa agaruka”nti āha. Daharo āma, upāsike, tvaṃ mama chinnakesādibhāvaṃ jānāsi, imissā maṃ “chinnasīso”ti katvā akkosituṃ vaṭṭissatīti. Visākhā neva daharaṃ saññāpetuṃ asakkhi, napi dārikaṃ. Tasmiṃ khaṇe thero āgantvā “kimidaṃ upāsike”ti pucchitvā tamatthaṃ sutvā daharaṃ ovadanto āha – “apehi, āvuso, nāyaṃ chinnakesanakhavatthassa majjhe chinnakapālaṃ ādāya bhikkhāya carantassa akkoso, tuṇhī hohī”ti. Āma, bhante, kiṃ tumhe attano upaṭṭhāyikaṃ atajjetvā maṃ tajjetha, maṃ “chinnasīso”ti akkosituṃ vaṭṭissatīti. Tasmiṃ khaṇe satthā āgantvā “kiṃ ida”nti pucchi. Visākhā ādito paṭṭhāya taṃ pavattiṃ ārocesi. Satthā tassa daharassa sotāpattiphalūpanissayaṃ disvā “mayā imaṃ daharaṃ anuvattituṃ vaṭṭatī”ti cintetvā visākhaṃ āha – “kiṃ pana visākhe tava dārikāya chinnakesādimattakeneva mama sāvake chinnasīse katvā akkosituṃ vaṭṭatī”ti? Daharo tāvadeva uṭṭhāya añjaliṃ paggahetvā, “bhante, etaṃ pañhaṃ tumheva suṭṭhu jānātha, amhākaṃ upajjhāyo ca upāsikā ca suṭṭhu na jānantī”ti āha. Satthā daharassa attano anukulabhāvaṃ ñatvā “kāmaguṇaṃ ārabbha hasanabhāvo nāma hīno dhammo, hīnañca nāma dhammaṃ sevituṃ pamādena saddhiṃ saṃvasituṃ na vaṭṭatī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –
“Hīnaṃ dhammaṃ na seveyya, pamādena na saṃvase;
Micchādiṭṭhiṃ na seveyya, na siyā lokavaḍḍhano”ti.
Tattha hīnaṃ dhammanti pañcakāmaguṇaṃ dhammaṃ. So hi hīno dhammo na antamaso oṭṭhagoṇādīhipi paṭisevitabbo. Hīnesu ca nirayādīsu ṭhānesu nibbattāpetīti hīno nāma, taṃ na seveyya. Pamādenāti sativossaggalakkhaṇena pamādenāpi na saṃvase. Na seveyyāti micchādiṭṭhimpi na gaṇheyya. Lokavaḍḍhanoti yo hi evaṃ karoti, so lokavaḍḍhano nāma hoti. Tasmā evaṃ akaraṇena na siyā lokavaḍḍhanoti.
Desanāvasāne so daharo sotāpattiphale patiṭṭhahi, sampattānampi sātthikā dhammadesanā ahosīti.
Daharabhikkhuvatthu paṭhamaṃ.
XIII. 1. A Young Girl Jests with a Young Monk
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
167. One should not follow a life of evil, one should not dwell together with heedlessness,
One should not follow false views, one should not look with high regard upon the world.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to a certain young monk.
The story goes that one day, early in the morning, a certain Elder went with a young monk to the house of Visākhā. Now in the house of Visākhā there was continual distribution of cakes and rice-gruel. The Elder, having drunk rice-gruel there, provided a seat for the young monk, and himself went on to another house. Now at that time the daughter of Visākhā’s son was acting for her grandmother in ministering to the needs of the monks. As she was straining water for the young monk, seeing the reflection of her own face in the water-vessel, she laughed; the young monk looked at it and also laughed.
Seeing him laughing, she said, “A cut-head is laughing.” At that the young monk abused her, saying, “You are a cut-head, and your mother and father are cut-heads too.” At this she ran weeping into her grandmother’s kitchen. “What is the matter, dear granddaughter?” She told her grandmother the whole story. Visākhā immediately went to the young monk and said to him, “Reverend Sir, be not offended. You misunderstand that remark. It is an expression of profound respect for a noble monk with hair and nails cut close, who, as he goes his round for alms, holds in the folds of under and upper garments cut short a potsherd cut and broken.” The young monk replied, “Quite true, lay disciple; you understand that it is in accordance with my rule that the hair of my head and so forth are cut short. But was it proper for this girl to insult me by saying to me, ‘You are a cut-head’?” Visākhā was unable to quiet either the young monk or the young girl.
At that moment the Elder approached and asked, “What does this mean, lay disciple?” Having learned the facts, the Elder admonished the young monk as follows, “Begone, brother; that is no insult to a monk with hair and nails and robes cut short, who goes his round for alms with potsherd cut and broken. Hold your peace.” “Quite true, Reverend Sir; but why, instead of rebuking your own female lay disciple, do you rebuke me? Is it to be regarded as the proper thing to insult a monk by saying to him, ‘You are a cut-head’?” At that moment the Teacher approached. “What does this mean?” he asked. Visākhā told him the whole story, beginning at the beginning. The Teacher, perceiving that the young monk possessed the faculties requisite to attain the Fruit of Conversion, thought to himself, “I must follow up this young monk.” Therefore he said to Visākhā, “But, Visākhā, is it proper for your granddaughter, merely because my disciples go about with hair and so forth cut short, on that account to insult them by calling them cut-heads?” The young monk immediately sprang to his feet, and extending his clasped hands in an attitude of reverent supplication, said, “Reverend Sir, you alone correctly understand this matter; neither our preceptor nor our eminent female lay disciple understands it correctly.” The Teacher, perceiving that the young monk was in harmony with himself, said, “An attitude of ridicule with reference to the pleasures of sense is a low attitude, and an attitude that is low one ought never to take, nor should one dwell together with heedlessness.” So saying, he pronounced the following Stanza,
167. One should not follow a life of evil, one should not dwell together with heedlessness,
One should not follow false views, one should not look with high regard upon the world.
- Text: N iii. 161-163.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.