Tích Năm Cận Sự Nam (Với Năm Giới)
Pañcaupāsakavatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 246–248 Kinh Pháp Cú, phẩm Cấu Uế, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 246-247-248)
246. “Yo pāṇaṃ atiteti
Musāvādañ ca bhāsati
Loke adinaṃ ādiyati
Paradārañ ca gacchati”
247. “Surāmerayapānañ ca
Yo naro anuyuñjati
Idh’evam eso lokasmiṃ
Mūlaṃ khaṇati attano”
248. “Evaṃ bho purisa jānāhi
Pāpadhammā asannnnatā
Mā taṃ lobho adhammo ca
Ciraṃ dukkhāya randhayuṃ”
“Ai sống hại sinh linh,
Nói láo trong đời nầy,
Lấy của người không cho,
Qua lại với vợ người,”
“Lại rượu chè say sưa,
Người sống đời sống ấy,
Tất chính ngay đời nầy,
Tự đào bỏ thiện căn.”
“Vậy người hãy nên biết,
Chế ác chẳng dễ gì,
Chớ tham lam phi pháp,
Mà trường khổ lụy thân.”
(HT Thích Minh Châu)
Pháp cú nầy được Đức Thế Tôn thuyết ra khi Ngài trú tại Tinh xá Jetavana, đề cập đến năm ông thiện nam.
Trong năm ông, có một vị giữ giới sát sanh, bốn vị kia mỗi vị giữ một giới khác nhau.
Một hôm cả năm người tranh luận cùng nhau rằng: “Tôi giữ được giới khó giữ nhất.” . Rồi họ mang câu chuyện trình lên Đức Thế Tôn. Nghe xong câu chuyện, Đức Thế Tôn không xác định là giới nào khó giữ nhất, là kém nhất mà Ngài lại dạy rằng:
- Tất cả năm giới đền khó hành trì như nhau.
Rồi Ngài thuyết lên kệ ngôn rằng:
246. “Yo pāṇaṃ atiteti
Musāvādañ ca bhāsati
Loke adinaṃ ādiyati
Paradārañ ca gacchati”
247. “Surāmerayapānañ ca
Yo naro anuyuñjati
Idh’evam eso lokasmiṃ
Mūlaṃ khaṇati attano”
248. “Evaṃ bho purisa jānāhi
Pāpadhammā asannnnatā
Mā taṃ lobho adhammo ca
Ciraṃ dukkhāya randhayuṃ”
“Ai sống hại sinh linh,
Nói láo trong đời nầy,
Lấy của người không cho,
Qua lại với vợ người,”
“Lại rượu chè say sưa,
Người sống đời sống ấy,
Tất chính ngay đời nầy,
Tự đào bỏ thiện căn.”
“Vậy người hãy nên biết,
Chế ác chẳng dễ gì,
Chớ tham lam phi pháp,
Mà trường khổ lụy thân.”
(HT Thích Minh Châu)
CHÚ GIẢI:
Yo pānaṃ atiteti : Bằng một lối nào trong sáu payoga (phương thế) bằng thân, khẩu hoặc ý cắt đứt mạng căn của kẻ khác.
Musāvādaṃ : Người nào nói lời dối trá và phá nát lợi ích của những người khác.
Loke adinaṃ ādiyati : Bằng một cách nào trong các cách trộm cắp trong thế gian nầy mà lấy cắp vật người khác gìn giữ.
Paradārañ ca gacchati : Làm điều sái quấy khi xâm phạm những tài vật có kẻ khác bảo vệ.
Surāmerayapānaṃ : Bất cứ thứ rượu hay thứ nước có chất say nào.
Anuyuñjati : Hằng sống nương vào, hằng thực hành làm cho phát sanh, phát triển.
Mūlaṃ khaṇati : Khỏi cần nói đến đời sau, chính trong kiếp hiện tại đây, tài sản nào như ruộng vườn, nhà cửa … đã tạo được bằng tiền, không biết khuếch trương thêm lại tuôn ra bán lần mà uống rượu là tự mình đang đào gốc tài sản của chính mình để rồi trở thành kẻ bần cùng, nghèo khổ xin ăn.
Evaṃ bho : Người vi phạm năm giới cấm được kêu gọi thân mật là bho.
Pāpadhammā : Những pháp thấp hèn tội lỗi.
Asaññatā : Người vô độ, không tiết chế thân, khẩu lại mãi miết trong sự buông lung, người vô tư lự (acittako).
Lobho adhammo ca : Tham và sân hận đều là bất thiện cả hai.
Ciraṃ dukkhāya randhayuṃ : Chớ phạm ngũ giới nhất là sát sanh, để khỏi sa vào cảnh khổ như địa ngục, lâu dài không được siêu thoát.
Cuối thời pháp cả năm thiện nam đều chứng đạt Tu Đà Hườn quả. Thính chúng câu hội cũng đạt được nhiều lợi ích.
Năm giới đầu tiên nếu chẳng gìn
Đừng hòng thoát khỏi ngục U minh
Sát sanh, trộm cắp đều nên sợ
Uống rượu, tà dâm thảy đáng kinh
Nói dối, cười chơi, thường uổng tiếng
Rủa ngay, thọc xéo chỉ làm thinh
Cư gia khó bước vô dòng Thánh
Lỗi tại tham sân, khiến lụy mình.
DỨT TÍCH NĂM THIỆN NAM GIỮ GIỚI
Pañcaupāsakavatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Yo pāṇanti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto pañca upāsake ārabbha kathesi.
Tesu hi eko pāṇātipātāveramaṇisikkhāpadameva rakkhati, itare itarāni. Te ekadivasaṃ “ahaṃ dukkaraṃ karomi, dukkaraṃ rakkhāmī”ti vivādāpannā satthu santikaṃ gantvā vanditvā tamatthaṃ ārocesuṃ. Satthā tesaṃ kathaṃ sutvā ekasīlampi kaniṭṭhakaṃ akatvā “sabbāneva durakkhānī”ti vatvā imā gāthā abhāsi –
“Yo pāṇamatipāteti, musāvādañca bhāsati;
Loke adinnamādiyati, paradārañca gacchati.
“Surāmerayapānañca, yo naro anuyuñjati;
Idheva meso lokasmiṃ, mūlaṃ khaṇati attano.
“Evaṃ bho purisa jānāhi, pāpadhammā asaññatā;
Mā taṃ lobho adhammo ca, ciraṃ dukkhāya randhayu”nti.
Tattha yo pāṇamatipātetīti yo sāhatthikādīsu chasu payogesu ekapayogenāpi parassa jīvitindriyaṃ upacchindati. Musāvādanti paresaṃ atthabhañjanakaṃ musāvādañca bhāsati. Loke adinnamādiyatīti imasmiṃ sattaloke theyyāvahārādīsu ekenapi avahārena parapariggahitaṃ ādiyati. Paradārañca gacchatīti parassa rakkhitagopitesu bhaṇḍesu aparajjhanto uppathacāraṃ carati. Surāmerayapānanti yassa kassaci surāya ceva merayassa ca pānaṃ. Anuyuñjatīti sevati bahulīkaroti. Mūlaṃ khaṇatīti tiṭṭhatu paraloko, so pana puggalo idha lokasmiṃyeva yena khettavatthuādinā mūlena patiṭṭhapeyya, tampi aṭṭhapetvā vā vissajjetvā vā suraṃ pivanto attano mūlaṃ khaṇati, anātho kapaṇo hutvā vicarati. Evaṃ, bhoti pañcadussīlyakammakārakaṃ puggalaṃ ālapati. Pāpadhammāti lāmakadhammā. Asaññatāti kāyasaññatādirahitā. Acetasātipi pāṭho, acittakāti attho. Lobho adhammo cāti lobho ceva doso ca. Ubhayampi hetaṃ akusalameva. Ciraṃ dukkhāya randhayunti cirakālaṃ nirayadukkhādīnaṃ atthāya taṃ ete dhammā mā randhentu mā matthentūti attho.
Desanāvasāne te pañca upāsakā sotāpattiphale patiṭṭhahiṃsu, sampattānampi sātthikā dhammadesanā ahosīti.
Pañcaupāsakavatthu sattamaṃ.
XVIII. 7. All of the Precepts are Hard to Keep
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
246-248. He that destroys life...
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to five hundred lay disciples.
For of these five hundred lay disciples, one kept only the precept of abstinence from the taking of life; another, another precept, and so on. One day they fell into a dispute, each of them saying, “It is a hard thing I have to do; it is a hard precept I have to keep.” And going to the Teacher, they saluted him and referred the whole matter to him. The Teacher listened to what they had to say, and then, without naming a single precept as of lesser importance, said, “All of the precepts are hard to keep.” So saying, he pronounced the following Stanzas,
246. He that destroys life, he that utters falsehood,
He that takes what is not given to him in this world, he that goes in unto another man’s wife,
247. And the man that is addicted to the drinking of liquor and spirits,
Such a man, even in this present world, digs up his own root.
248. Know this, O man, that the unrestrained are fallen upon evil ways;
Let not greed and wrongdoing subject thee to suffering for long.
- Text: N iii. 355-357.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.