Chú giải Pháp Cú · Kệ 141 · Dhp 141

Tích Tỳ Khưu Nhiều Vật Dụng

Bahubhaṇḍikabhikkhuvatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 141 Kinh Pháp Cú, phẩm Hình Phạt, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 141)

“Na naggacariyā na jaṭā na paṅkā,
Nānāsakā taṇḍilasāyikā vā;
Rajo jallaṃ ukkuṭikappadhānaṃ,
Sodhenti maccaṃ avitiṇṇa-kaṅkhaṃ.”
“Không phải sống lõa thể,
Bện tóc, tro trét mình,
Tuyệt thực, lăn trên đất,
Sống nhớp, siêng ngồi xổm,
Làm con người được sạch,
Nếu không trừ nghi hoặc.”
(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết khi Ngài ngự tại Jetavana Vihāra (Kỳ Viên Tự), đề cập đến vị Tỳ khưu có nhiều vật dụng.

Tương truyền rằng: Một phú trưởng giả cư ngụ trong thành Xá Vệ, sau khi vợ chết bèn đi xuất gia. Khi sắp xuất gia, vị ấy cho cất chỗ ngụ riêng, cùng với nhà khói (Aggisālā), nhà kho rồi cho chất đầy nhà kho tất cả các thứ thuốc ngừa bệnh (Bhesajja) nhất là bơ trong, dầu v.v…

Thaṇḍilasāyikā - Rajojallaṃ
CSCD/Dhammagiri. India).

(theo bản Pāḷi của

Sau khi xuất gia, vị ấy cho gọi những đầy tớ của mình đến nấu các món ăn theo sở thích rồi độ. Vị ấy có nhiều vật dụng, có nhiều đồ đạc, ban đêm mặc y nội và khoác y khác, ban ngày mặc y nội và khoác y khác và ở cách biệt trong ranh của chùa.

Một hôm khi vị ấy đem các y phục của mình trải ra phơi nắng, các Tỳ khưu đi ta bà từ tịnh thất nầy sang tịnh thất khác, đến thấy vậy, bèn hỏi:

- Những y phục nầy của ai vậy đạo hữu?

- Của tôi đó.

- Nghe vậy, các Tỳ khưu trách:

- Nầy đạo hữu, Đức Thế Tôn chỉ cho phép có tam y, đạo hữu đã xuất gia trong Giáo Pháp Đức Phật, có hạnh Tri túc, Thiểu dục như thế, đạo hữu lại là người có nhiều vật dụng như vậy sao?

Chư Tăng liền đưa vị ấy đến Đức Bổn Sư và báo lại rằng:

- Bạch Ngài, Tỳ khưu nầy là người có quá nhiều vật dụng.

Đức Bổn Sư hỏi rằng: “Nầy Tỳ khưu, lời nói về thầy như thế có đúng chăng?”.

- Bạch Ngài! Đúng như vậy.

Đức Bổn Sư quở trách rằng:

- Nầy Tỳ khưu, tại sao Ta đã thuyết giảng về pháp Thiểu dục mà thầy còn làm người có nhiều vật dụng như thế?

Chỉ nghe bấy nhiêu lời, vị ấy nổi giận đáp rằng:

- Ngay bây giờ, tôi sẽ cởi bỏ đồ mà đi ngay đây.

Vị ấy cởi bỏ vứt y choàng ngoài, chỉ còn mặc một lá y nội, đứng giữa hội chúng. Khi ấy, Đức Bổn Sư nói lời xây dựng phấn khích vị ấy rằng:

- Nầy Tỳ khưu! Trước kia thầy há chẳng phải là người đi tìm Tàm Quý (Hiri Ottappa) hay sao? Trong thời gian là Thủy thần, thầy đã mải miết tìm Tàm Quý suốt mười hai năm. Tại sao bây giờ xuất gia trong Giáo Pháp của Đức Phật tôn nghiêm như vầy, thầy lại vứt bỏ y choàng ngoài giữa Tứ chúng, từ bỏ cả Tàm Quý mà đứng như vậy?

Nghe lời của Đức Bổn Sư, vị ấy lấy lại được Tàm Quý, bèn nhặt y đắp lên mình, đảnh lễ Đức Bổn Sư, rồi ngồi xuống một bên.

Các Tỳ khưu muốn biết rõ nghĩa lý của việc nầy, nên yêu cầu Đức Bổn Sư giải thích.

Đức Thế Tôn liền kể lại chuyện tiền kiếp như sau:

Thuở xưa kia, Đức Bồ Tát tái sanh vào lòng Hoàng hậu của Đức vua đóng đô ở Bārāṇasī (Ba La Nại). Đến ngày lễ đặt tên, Bồ Tát có được tên là Thái tử Đại Cung Nỏ (Mahissāsa). Kế đó, Bồ Tát có được một em trai tên là Hoàng tử Nguyệt (Canda). Khi Hoàng hậu, mẹ của hai hoàng tử băng hà, Đức vua phong cho một bà phi khác lên làm Hoàng hậu, bà này cũng sanh được một Hoàng nam. Hoàng tử út được đặt tên là Nhật (Suriya). Thấy mặt Hoàng tử út, Đức vua rất hoan hỷ phán rằng:

- Trẫm sẽ ân tứ cho con ái hậu một lời yêu cầu.

Hoàng hậu đáp:

- Tâu Hoàng thượng, thần thiếp sẽ nhận lãnh ân huê nầy khi nào có ý muốn.

Khi Hoàng tử út đến tuổi trưởng thành, Hoàng hậu tâu với Đức vua:

- Tâu Hoàng thượng, khi thần thiếp sanh Hoàng tử út, Hoàng thượng đã chuẩn hứa ban cho một lời yêu cầu. Vậy, nay xin yêu cầu Hoàng thượng ban vương vị cho con của thần thiếp.

Đức vua từ khước, bảo rằng:

- Hai con trai của Trẫm như hai đốm lửa sáng ngời, Trẫm không thể ban vương vị cho con Hoàng hậu được.

Tuy lời mình bị Vua bác, nhưng Hoàng hậu cứ tiếp tục yêu cầu mãi, thấy vậy, Đức vua nghĩ: “Hoàng hậu có thể làm điều bất lợi đến hai con của Trẫm chăng?”. Cho gọi hai Hoàng tử đến, Đức vua phán rằng:

- Nầy hai con, khi Hoàng tử Nhật ra đời, cha có hứa ban cho một ân huệ theo lời yêu cầu. Nay mẫu hậu của Hoàng tử xin cho con mình được vương vị. Trẫm không muốn ân tứ. Tuy nhiên, sợ e Hoàng hậu sẽ mưu hại hai con. Hai con hãy đi lánh mặt ngụ trong rừng, chờ khi Trẫm thăng hà rồi hãy trở về mà kế vị. Nói rồi, Đức vua giục hai con ra đi.

Hai Hoàng tử cáo biệt Vua cha, xuống khỏi đền vua gặp Hoàng tử Nhật đang chơi ở sân ngự, bèn tỏ thật sự tình. Biết rõ nguyên do của cuộc xuất hành, Hoàng tử út cùng theo hai anh ra đi.

Khi đến rừng Tuyết Lãnh, Bồ Tát bỏ đại lộ, rẽ vào một con đường mòn đến ngồi dưới một gốc cây rồi bảo Hoàng tử Nhật:

- Hoàng đệ hãy đến cái ao kia tắm rửa và giải khát đi, rồi lấy lá sen bọc nước đem về cho hai anh.

Cái ao nầy có một Thủy thần đã được Thiên Vương Tỳ Sa Môn (Vessavaṇa) cho phép đến trấn giữ, với vương lịnh rằng: “Ngoại trừ người biết Thiên pháp, ngươi được phép ăn thịt tất cả những người khác lội xuống dưới ao nầy.”. Từ đó về sau, hễ người nào lội xuống ao, Thủy thần hỏi về Thiên pháp mà không biết là nó bắt lấy ăn thịt hết.

Hoàng tử Nhật lội xuống ao mà không dò xét trước, bị Thủy thần hiện lên chận hỏi:

- Ngươi biết Thiên pháp chăng?

Hoàng tử đáp:
- Thiên pháp đó là mặt trăng và mặt trời.
- Ngươi không biết Thiên pháp.

Rồi bắt lấy Hoàng tử Nhật đem an trí tại Thủy cung của mình. Bồ Tát thấy Nhật đi lâu, bèn sai Hoàng tử Nguyệt đi tìm. Hoàng tử cũng bị Thủy thần chận đường hỏi:

- Ngươi có biết Thiên pháp chăng?

Hoàng tử đáp:
- Thiên pháp, đó là bốn hướng.
Thủy thần bắt nhốt luôn Nguyệt dưới Thủy cung.

Thấy hai em đi lâu, Bồ Tát sanh nghi: “Chắc có sự gì tai hại?”, liền tự mình đi đến ao nước, thấy dấu chân hai em đi xuống, biết là ao nầy có Thủy thần trấn giữ, bèn rút gươm ra và cầm sẵn cung tên trên tay đứng chờ.

Thấy Bồ Tát không lội xuống ao, Thủy thần hóa làm một người thợ rừng đi đến nói với Bồ Tát:

- Nầy bạn, bạn đi đường mệt sao không xuống ao nầy tắm rửa, uống nước, ăn củ sen, hái hoa trang điểm rồi hãy đi?

Thấy người thợ rừng, Bồ Tát biết ngay là Thủy thần, bèn hỏi:

- Phải ngươi đã bắt hai em của ta chăng?

- Phải, ta bắt!

- Tại sao vậy?

- Ta được quyền bắt những người lội xuống ao nầy.

- Ngươi được quyền bắt tất cả sao?

- Ngoại trừ những người biết Thiên pháp, kỳ dư ta có quyền bắt hết.

- Ngươi có cần biết Thiên pháp chăng?

- Có, ta cần biết.

- Ta sẽ thuyết Thiên pháp.

- Nếu vậy, xin ông thuyết đi.

- Mình ta dơ dáy, Ta không thể thuyết pháp được.

Dạ xoa để cho Bồ Tát tắm rửa, dâng nước cho Bồ Tát uống, trang điểm cho Bồ Tát, thỉnh Bồ Tát ngồi lên cái bồ đoàn đặt chính giữa một rạp được trang trí đàng hoàng, còn tự mình thì ngồi dưới chân Bồ Tát.

Bồ Tát bảo Dạ Xoa: “Hãy lắng tai nghe cho kỹ.”.
Nói rồi, ngâm kệ rằng:
“Hiri ottappasampannā,
Sukkadhammasamāhitā
Santo sappurisā loke
Devadhammāti vuccareti.”
“Đầy đủ Tàm và Quý,
Chuyên tâm về Bạch pháp,
An tịnh bậc chân nhân,
Ở đời gọi Thiên pháp.”
(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)

Dạ xoa nghe bài pháp nầy phát sanh tâm tịnh tín, nói với Bồ Tát: “Thưa Hiền trí, tôi có tâm tịnh tín với Hiền trí! Tôi cho lại Hiền trí một người em, tôi sẽ mang người nào đây?”.

- Hãy đem đến đứa em út.

- Thưa Hiền trí, Ngài biết rành Thiên pháp như vậy, mà Ngài lại không hành Thiên pháp?

- Sao vậy?

- Vì Ngài đã phế trưởng lập thứ, Ngài không tôn trọng quyền của người anh!

- Nầy Dạ xoa, ta biết Thiên pháp và thực hành đúng theo Thiên pháp. Quả vậy, vì đứa em út ấy mà chúng ta vào rừng nầy, lại cũng vì hạnh phúc của nó mà mẹ nó đã xin vương vị nơi cha của chúng ta. Phụ vương chúng ta đã không ban cho nó ân huệ ấy mà còn ra lịnh cho chúng ta đi ở trong rừng, cốt để bảo vệ chúng ta. Hoàng tử út không chịu quay trở lại mà đã cùng đi với chúng ta. Nếu nghe nói: “Một con Dạ xoa đã ăn thịt nó trong rừng.”, chắc sẽ không một ai tin lời chúng ta, sợ bị chê trách cho nên ta mới bảo ngươi đem nó lại cho ta.

Dạ Xoa càng trong sạch đối với Bồ Tát, nó nói:

- Lành thay, thưa Hiền trí, Ngài biết Thiên pháp và xử sự đúng theo Thiên pháp.

Rồi Dạ xoa mang cả hai người em trai trao lại cho Bồ Tát. Kế đó, Bồ Tát thuyết pháp giải về những tội lỗi của kiếp sống làm Dạ xoa, rồi cho nó thọ trì Ngũ giới. Từ đó, Bồ Tát sống an vui trong rừng ấy, nhờ có Dạ xoa hộ trì và phục vụ chu đáo, cho đến khi phụ vương thăng hà, dắt cả Dạ xoa về thành Bārāṇasī, lấy lại vương quốc, phong cho hoàng đệ Nguyệt là Phó vương, đặt hoàng đệ Nhật làm Tổng lãnh binh. Còn đối với Dạ xoa, Bồ Tát cho đào một cái ao tạo một địa điểm tốt đẹp, cho nó nhận được lễ lộc vật thực quí báu nhất.

Sau khi thuyết dứt tích nầy, Đức Bổn Sư tổng kết Túc Sanh truyện, cho biết: Thủy thần khi ấy nay là vị Tỳ khưu có nhiều vật dụng, Nhật nay là Ānanda, Nguyệt nay là Sārīputta, Thái tử Đại Cung Nỏ nay chính là Đấng Như Lai vậy.

Đức Bổn Sư giảng xong tích Bổn sanh rồi dạy rằng:

- Nầy Tỳ khưu, trước kia thầy đã là người đi tìm Thiên pháp như vậy đó, trong mình có đủ cả Tàm Quý. Bây giờ thầy cởi bỏ y choàng giữa Tứ chúng, đứng trước mặt Ta mà nói: “Tôi Thiểu dục!” Là làm điều không thích hợp. Một vị Sa môn không bao giờ nên cởi bỏ y mà ở trần như thế cả!

Nói rồi, Đức Thế Tôn thuyết pháp, và Ngài ngâm kệ rằng:

“Na naggacariyā na jaṭā na paṅkā,
Nānāsakā taṇḍilasāyikā vā;
Rajo jallaṃ1 ukkuṭikappadhānaṃ,
Sodhenti maccaṃ avitiṇṇakaṅkhaṃ.”
Chẳng phải đi chân không2, chẳng phải để tóc xù

(bờm), chẳng phải thoa tro đất vào mình, chẳng phải tuyệt thực, chẳng phải nằm trên đất, chẳng phải để thân hình nhớp nhúa, cũng chẳng phải ngồi xổm mà người ta có thể trở nên thanh tịnh, nếu không dứt trừ nghi hoặc.

(Bản dịch của T.K. Trí Đức) Có bản chép Rajo ca jallaṃ. Naggacariyā dịch là sống lõa thể (như ngoại đạo) thì đúng hơn (TKPM).

CHÚ GIẢI:

Nānāsakā (Na anāsakā): không phải là người nhịn ăn, bỏ cơm (tuyệt thực).

Taṇḍilasāyikā: nằm ngủ trên đất.

Rajojallaṃ: bụi dơ, ngoại đạo lõa thể hay lấy bùn thoa khắp mình mẩy để cho bụi đóng dơ dáy.

Ukkuṭikappadhānaṃ: cố rán sức ngồi chồm hổm, theo một lối đặc biệt để hành hạ xác thân.

Theo các cách trên đây, người nào nghĩ rằng: Ta sẽ đạt đến chỗ thanh tịnh, thoát khỏi thế gian hữu hạn, rồi thọ trì tu tập theo bất cứ một cách nào trong các lối khổ hạnh của ngoại đạo, nhất là sống lõa thể, thì người ấy chỉ phát triển toàn diện cái Tà kiến và nhọc nhằn vô ích mà thôi. Không bao giờ những pháp ấy là những pháp lợi ích, nên thọ trì như Bát Chánh Đạo, vì chúng không dứt trừ được hoài nghi, lẽ cố nhiên, không tẩy sạch phiền não được.

Cuối thời Pháp, nhiều Tỳ khưu chứng đắc Thánh quả nhất là Tu Đà Hườn quả.

Tỳ khưu Trưởng giả thích tiện nghi,
Vật thực dồi dào, đủ thứ y,
Tăng trách: Sư sao không Thiểu dục?
Phật khuyên thầy giữ Hạnh Xả ly!
Nổi giận, Sư quăng bỏ y ngoài,
Mình trần, đứng nói: “Sẽ đi ngay!”.
Phật rằng: “Tàm Quý xưa đâu vậy?”,
Sư nhặt y lên, mặc khỏa vai.
Nguyên do kiếp trước trấn ao thần,
Tàm Quý luôn luôn có tại thân,
Nay tự cho mình là Thiểu dục,
Cởi y như thế chỉ vì sân!
Phật dạy: Không dứt trừ hoặc nghi,
Ở truồng, bện tóc, nhịn ăn chi,
Nằm lăn trên đất, hay ngồi xổm,
Chẳng thể thành tâm đến Vô vi.

DỨT TÍCH TỲ KHƯU CÓ NHIỀU VẬT DỤNG

Bahubhaṇḍikabhikkhuvatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Na naggacariyāti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto bahubhaṇḍikaṃ bhikkhuṃ ārabbha kathesi.

Sāvatthivāsī kireko kuṭumbiko bhariyāya kālakatāya pabbaji. So pabbajanto attano pariveṇañca aggisālañca bhaṇḍagabbhañca kāretvā sabbampi bhaṇḍagabbhaṃ sappimadhutelādīhi pūretvā pabbaji, pabbajitvā ca pana attano dāse pakkosāpetvā yathārucikaṃ āhāraṃ pacāpetvā bhuñjati. Bahubhaṇḍo ca bahuparikkhāro ca ahosi. Rattiṃ aññaṃ nivāsanapārupanaṃ hoti, divā aññaṃ nivāsanapārupanaṃ hoti, divā aññaṃ vihārapaccante vasati. Tassekadivasaṃ cīvarapaccattharaṇāni sukkhāpentassa senāsanacārikaṃ āhiṇḍantā bhikkhū passitvā “kassimāni, āvuso”ti pucchitvā “mayha”nti vutte, “āvuso, bhagavatā ticīvarāni anuññātāni, tvañca pana evaṃ appicchassa buddhassa sāsane pabbajitvā evaṃ bahuparikkhāro jāto”ti taṃ satthu santikaṃ netvā, “bhante, ayaṃ bhikkhu atibahubhaṇḍo”ti ārocesuṃ. Satthā “saccaṃ kira taṃ bhikkhū”ti pucchitvā “saccaṃ, bhante”ti vutte āha – “kasmā pana tvaṃ, bhikkhu, mayā appicchatāya dhamme desite evaṃ bahubhaṇḍo jāto”ti. So tāvattakeneva kupito “iminā dāni nīhārena carissāmī”ti pārupanaṃ chaḍḍetvā parisamajjhe ekacīvaro aṭṭhāsi. Atha naṃ satthā upatthambhayamāno nanu tvaṃ bhikkhu pubbe hirottappagavesako dakarakkhasakālepi hirottappaṃ gavesamāno dvādasa vassāni vihāsi, kasmā idāni evaṃ garuke buddhasāsane pabbajitvā catuparisamajjhe pārupanaṃ chaḍḍetvā hirottappaṃ pahāya ṭhitosīti. So satthu vacanaṃ sutvā hirottappaṃ paccupaṭṭhāpetvā taṃ cīvaraṃ pārupitvā satthāraṃ vanditvā ekamantaṃ nisīdi. Bhikkhū tassa atthassa āvibhāvatthaṃ bhagavantaṃ yāciṃsu. Bhagavā atītaṃ āharitvā kathesi –

Atīte kira bārāṇasirañño aggamahesiyā kucchismiṃ bodhisatto paṭisandhiṃ gaṇhi. Tassa nāmaggahaṇadivase mahiṃsakumāroti nāmaṃ kariṃsu. Tassa kaniṭṭhabhātā candakumāro nāma ahosi. Tesaṃ mātari kālakatāya rājā aññaṃ aggamahesiṭṭhāne ṭhapesi. Sāpi puttaṃ vijāyi, sūriyakumārotissa nāmaṃ kariṃsu. Taṃ disvā rājā tuṭṭho “puttassa te varaṃ dammī”ti āha. Sāpi kho, “deva, icchitakāle gaṇhissāmī”ti vatvā puttassa vayappattakāle rājānaṃ āha – “devena mayhaṃ puttassa jātakāle varo dinno, idāni me puttassa rajjaṃ dehī”ti. Rājā “mama dve puttā aggikkhandhā viya jalantā vicaranti, na sakkā tassa rajjaṃ dātu”nti paṭikkhipitvāpi taṃ punappunaṃ yācamānameva disvā “ayaṃ me puttānaṃ anatthampi kareyyā”ti putte pakkosāpetvā, “tātā, ahaṃ sūriyakumārassa jātakāle varaṃ adāsiṃ, idānissa mātā rajjaṃ yācati, ahaṃ tassa na dātukāmo, tassa mātā tumhākaṃ anatthampi kareyya, gacchatha tumhe, araññe vasitvā mamaccayenāgantvā rajjaṃ gaṇhathā”ti uyyojesi. Te pitaraṃ vanditvā pāsādā otarante rājaṅgaṇe kīḷamāno sūriyakumāro disvā taṃ kāraṇaṃ ñatvā tehi saddhiṃ nikkhami. Tesaṃ himavantaṃ paviṭṭhakāle bodhisatto maggā okkamma aññatarasmiṃ rukkhamūle nisīditvā sūriyakumāraṃ āha – “tāta, etaṃ saraṃ gantvā nhatvā ca pivitvā ca amhākampi paduminipaṇṇehi udakaṃ āharā”ti. So pana saro vessavaṇṇassa santikā ekena dakarakkhasena laddho hoti. Vessavaṇṇo ca taṃ āha – “ṭhapetvā devadhammajānanake ye ca aññe imaṃ saraṃ otaranti, te khādituṃ labhasī”ti. Tato paṭṭhāya so taṃ saraṃ otiṇṇotiṇṇe devadhamme pucchitvā ajānante khādati, sūriyakumāropi taṃ saraṃ avīmaṃsitvāva otari, tena ca “devadhamme jānāsī”ti pucchito “devadhammā nāma candimasūriyā”ti āha. Atha naṃ “tvaṃ devadhamme na jānāsī”ti udakaṃ pavesetvā attano bhavane ṭhapesi. Bodhisattopi taṃ cirāyantaṃ disvā candakumāraṃ pesesi. Sopi tena “devadhamme jānāsī”ti pucchito “devadhammā nāma catasso disā”ti āha. Dakarakkhaso tampi udakaṃ pavesetvā tattheva ṭhapesi.

Bodhisatto tasmimpi cirāyante “antarāyena bhavitabba”nti sayaṃ gantvā dvinnampi otaraṇapadaṃyeva disvā “ayaṃ saro rakkhasapariggahito”ti ñatvā khaggaṃ sannayhitvā dhanuṃ gahetvā aṭṭhāsi. Rakkhaso taṃ anotarantaṃ disvā vanakammikapurisavesenāgantvā āha – “bho purisa, tvaṃ maggakilanto, kasmā imaṃ saraṃ otaritvā nhatvā ca pivitvā ca bhisamulālaṃ khāditvā pupphāni pilandhitvā na gacchasī”ti. Bodhisatto taṃ disvāva “esa so yakkho”ti ñatvā “tayā me bhātaro gahitā”ti āha. Āma, mayā gahitāti. Kiṃ kāraṇāti? Ahaṃ imaṃ saraṃ otiṇṇotiṇṇe labhāmīti. Kiṃ pana sabbeva labhasīti? Devadhammajānanake ṭhapetvā avasese labhāmīti. Atthi pana te devadhammehi atthoti? Āma, atthīti. Ahaṃ kathessāmīti. Tena hi kathehīti. Na sakkā kiliṭṭhena gattena kathetunti. Yakkho bodhisattaṃ nhāpetvā pānīyaṃ pāyetvā alaṅkaritvā alaṅkatamaṇḍapamajjhe pallaṅkaṃ āropetvā sayamassa pādamūle nisīdi. Atha naṃ bodhisatto “sakkaccaṃ suṇāhī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Hiriottappasampannā, sukkadhammasamāhitā;
Santo sappurisā loke, devadhammāti vuccare”ti. (jā. 1.1.6);

Yakkho imaṃ dhammadesanaṃ sutvā pasanno bodhisattaṃ āha – “paṇḍita, ahaṃ te pasanno, ekaṃ bhātaraṃ dammi, kataraṃ ānemī”ti? “Kaniṭṭhaṃ ānehī”ti. Paṇḍita, tvaṃ kevalaṃ devadhamme jānāsiyeva, na pana tesu vattasīti. Kiṃ kāraṇāti? Yasmā jeṭṭhaṃ ṭhapetvā kaniṭṭhaṃ āharāpento jeṭṭhāpacāyikakammaṃ na karosīti, devadhamme cāhaṃ yakkha jānāmi, tesu ca vattāmi. Mayañhi etaṃ nissāya imaṃ araññaṃ paviṭṭhā. Etassa hi atthāya amhākaṃ pitaraṃ etassa mātā rajjaṃ yāci, amhākaṃ pana pitā taṃ varaṃ adatvā amhākaṃ anurakkhaṇatthāya araññe vāsaṃ anujāni, so kumāro anivattitvā amhehi saddhiṃ āgato. “Taṃ araññe eko yakkho khādī”ti vuttepi na koci saddahissati. Tenāhaṃ garahabhayabhīto tamevāharāpemīti. Yakkho bodhisattassa pasīditvā “sādhu paṇḍita, tvameva devadhamme jānāsi, devadhammesu ca vattasī”ti dve bhātaro ānetvā adāsi. Atha naṃ bodhisatto yakkhabhāve ādīnavaṃ kathetvā pañcasu sīlesu patiṭṭhāpesi. So tena susaṃvihitārakkho tasmiṃ araññe vasitvā pitari kālakate yakkhaṃ ādāya bārāṇasiṃ gantvā rajjaṃ gahetvā candakumārassa uparajjaṃ, sūriyakumārassa senāpatiṭṭhānaṃ datvā yakkhassa ramaṇīye ṭhāne āyatanaṃ kārāpetvā yathā so lābhaggappatto hoti, tathā akāsi.

Satthā imaṃ dhammadesanaṃ āharitvā jātakaṃ samodhānesi “tadā rakkhaso bahubhaṇḍikabhikkhu ahosi, sūriyakumāro ānando, candakumāro sāriputto, mahiṃsakumāro pana ahamevā”ti. Evaṃ satthā jātakaṃ kathetvā “evaṃ tvaṃ, bhikkhu, pubbe devadhamme gavesamāno hiriottappasampanno vicaritvā idāni catuparisamajjhe iminā nīhārena ṭhatvā mama purato ‘appicchomhī’ti vadanto ayuttaṃ akāsi. Na hi sāṭakapaṭikkhepādimattena samaṇo nāma hotī”ti vatvā anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –

“Na naggacariyā na jaṭā na paṅkā, nānāsakā thaṇḍilasāyikā vā;
Rajojallaṃ ukkuṭikappadhānaṃ, sodhenti maccaṃ avitiṇṇakaṅkha”nti.

Tattha nānāsakāti na anasakā, bhattapaṭikkhepakāti attho. Thaṇḍilasāyikāti bhūmisayanā. Rajojallanti kaddamalepanākārena sarīre sannihitarajo. Ukkuṭikappadhānanti ukkuṭikabhāvena āraddhavīriyaṃ. Idaṃ vuttaṃ hoti – yo hi macco “evaṃ ahaṃ lokanissaraṇasaṅkhātaṃ suddhiṃ pāpuṇissāmī”ti imesu naggacariyādīsu yaṃ kiñci samādāya vatteyya, so kevalaṃ micchādassanañceva vaḍḍheyya, kilamathassa ca bhāgī assa. Na hi etāni susamādinnānipi aṭṭhavatthukāya kaṅkhāya avitiṇṇabhāvena avitiṇṇakaṅkhaṃ maccaṃ sodhentīti.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.

Bahubhaṇḍikabhikkhuvatthu aṭṭhamaṃ.

X. 8. The Monk of many Possessions

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

141. Neither going naked, nor matted locks, nor filth, nor fasting, nor sleeping on the bare ground,
Nor rubbing with dust, nor sitting on the haunches, can purify that mortal who has not overcome doubt.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to a monk of many possessions.

The story goes that on the death of his wife a certain householder of Sāvatthi retired from the world and became a monk. When he became a monk, he caused a cell to be built for his express use, and likewise a fire-room and a store-room. And having caused the whole store-room to be filled with ghee, honey, oil, and other provisions, in spite of the fact that he had become a monk, he sent for his own slaves, had them cook food to his liking, and would eat only this food. Likewise he possessed many requisites, wearing one set of robes at night and another in the daytime. He lived in the immediate neighborhood of the monastery.

One day as he was drying his robes and bedding, some monks who were going about in search of lodging saw them and asked him, “Whose are these requisites, brother?” “They belong to me,” replied the monk. “Brother, the Exalted One permits a monk to possess only three robes; but you, although you have retired from the world and become a monk under the dispensation of a Buddha who is satisfied with but little, have taken upon yourself to possess these many requisites.” So saying, they led him to the Teacher and reported the matter to him, saying, “Reverend Sir, here is a monk whose possessions are excessively numerous.” The Teacher asked him, “Monk, is the report true concerning you?” “Yes, Reverend Sir, it is all true.” “But how comes it that you, monk, in spite of the fact that I have expressly taught that one should be satisfied with but little, have possessed yourself of so many requisites?”

Angered by so little as this, the monk exclaimed, “Well then, I will go about in this manner.” Forthwith casting off his outer garment, he stood in the midst of the assemblage wearing but one robe. The Teacher, remaining his support, said to him, “Assuredly, monk, in a previous state of existence you sought to preserve your modesty and fear of mortal sin; for even when you were a water-sprite, you dwelt for twelve years striving to preserve your modesty and fear of mortal sin. How comes it that now, having retired from the world and become a monk under the dispensation of so august a Buddha, you have cast off your outer garment, thrown aside your modesty and fear of sin, and stand thus in the midst of the fourfold assemblage?” When the monk heard those words of the Teacher, he recovered his sense of modesty and fear of mortal sin, wrapped his outer robe about him again, saluted the Teacher, and seated himself respectfully at one side. The monks asked the Exalted One to explain the matter; and in response to their request, the Exalted One related in detail the following

8 a. Story of the Past: Mahiṁsāsa and the princes Moon and Sun

The story goes that at a time far back in the past the Future Buddha obtained a new existence in the womb of the chief consort of the king of Benāres. On the day appointed for the naming of the child, they gave him the name Mahiṁsāsa. Afterwards he had a younger brother named Moon, Canda. The mother died, and the king took to himself another chief consort. When she gave birth to a son, they gave him the name Sun, Suriya. When the king saw his son, he was greatly pleased and said to the mother, “I grant your son a boon.” The mother replied, “I will make my choice at such time as I wish.”

When her son had grown up, she said to the king, “Your majesty, when my son was born, you granted him a boon. Give my son the kingdom.” But this the king refused to do, saying, “My two sons walk abroad resplendent as flames of fire. It is impossible for me to give your son the kingdom.” In spite of the king’s refusal, the queen repeated her request several times. The king, observing this, thought to himself, “She may do some harm to my sons.” So he summoned his two sons and said to them, “My dear sons, when Suriya was born, I granted him a boon. The queen has just asked me to give him the kingdom. Now I am not willing to give him the kingdom, and I therefore fear that his mother may do you some harm. Do you therefore go live in the forest, and when I am dead, come back and take the kingdom.” So saying, the king sent his two sons to the forest.

The two sons, bowing to their father, came down from the terrace. As they passed through the palace-court. Prince Suriya, who was playing there, saw them, learned what had happened, and departed with them. When they reached the Himālaya, the Future Buddha left the beaten track and seating himself under a tree, said to Prince Suriya, “Dear brother, go to a certain lake, bathe therein, drink the water thereof, and fetch us water in lotus-leaves.” (Now that lake had been given to a certain water-sprite by Vessavaṇa, and Vessavaṇa had said to him, “You may devour all those who descend into this lake except only those that know what is godlike.” From that time on, the water-sprite asked all those who descended into that lake whether they knew what was truly godlike, and all those who did not know he was wont to devour.)

With never a thought of trouble. Prince Suriya descended into the lake. The water-sprite asked him, “Do you know what is truly god-like?” He answered, “The moon and the sun are truly godlike.” Said the water-sprite, “You do not know what is truly godlike.” Forthwith the water-sprite dragged him under the water and imprisoned him in his own habitation. The Future Buddha, observing that Prince Suriya tarried, sent forth Prince Canda. The water-sprite asked Prince Canda also whether he knew what was truly godlike. Prince Canda replied, “The four cardinal points are truly godlike.” The water-sprite dragged him also under the water and imprisoned him in the same place.

The Future Buddha, observing that Prince Canda tarried also, thought to himself, “Some accident must have happened,” and immediately set out for the lake himself. Observing that the footsteps of two persons led down into the lake, he came to the conclusion, “This lake is haunted by a water-sprite.” Forthwith he girded himself with his sword, took bow in hand, and stood waiting. When the water-sprite saw that he did not descend into the lake, he disguised himself as a woodman, drew near and said, “Fellow, you must be tired with your journey. Why do you not descend into this lake, bathe therein, drink the water thereof, eat the film and stalk of the lotus, and deck yourself with flowers?”

The instant the Future Buddha saw him, he knew, “That is an ogre!” So he said to him, “It was you that seized my brothers!” “Yes,” said the ogre, “I did.” “Why did you do so?” “I catch all that descend into this lake.” “You catch all?” “I catch all, except only those that know what is truly godlike.” “But do you really wish to know who are truly godlike?” “Yes,” replied the water-sprite, “I do.” “I will tell you.” “Very well, then, tell me.” “I cannot tell you while my body remains unwashed.” The ogre immediately bathed the Future Buddha, gave him water to drink, adorned him with rich apparel, and assisting him to mount a couch in the center of a richly adorned pavilion, himself sat down at the foot. Then said the Future Buddha to him, “Listen attentively.” So saying, he pronounced the following Stanza,

They that possess modesty and fear of sin, they that are endowed with righteousness.
They that are good and upright men in this world, they alone are called “godlike.”

When the ogre heard this religious instruction, he believed and said to the Future Buddha, “Wise man, I believe you. I will give you one of your brothers. Which one shall I bring?” “Bring me my youngest brother.” “Wise man, you, and you alone, know what is truly godlike; but what is godlike you do not practice.” “Why do you say that?” “Because, by leaving out your oldest brother and directing me to bring your youngest brother, you are doing the reverse of honoring your oldest brother.” “Ogre, not only do I know what is truly godlike, but I also practice the same. Indeed it was solely because of my youngest brother that we entered this forest. For it was on his account that his mother asked our father for the kingdom, and when our father refused to give her what she asked for, to make sure of our safety, he permitted us to dwell in the forest and that prince followed us and accompanied us. If I return and say, ‘A certain ogre devoured him in the forest,’ nobody will believe me. For this reason, therefore, terrified with the fear of rebuke, I bid you bring him only to me.”

The ogre believed the Future Buddha and said to him, “Well said, wise man! You, and you alone, know what things are truly godlike.” So saying, the ogre brought both of the brothers and gave them to the Future Buddha. Then the Future Buddha discoursed to him on the disadvantages of the state of being an ogre, and established him in the Five Precepts. The Future Buddha continued to dwell in that forest, and the ogre provided ample protection for him. When the king his father died, he returned to Benāres with the ogre, took the kingdom, and gave Prince Canda the post of viceroy and Prince Suriya the post of commander-in-chief. Moreover he had a shelter built for the ogre in a pleasant place, and saw to it that the ogre received gifts and offerings in abundance.

When the Teacher had completed this religious instruction, he identified the characters in the Jātaka as follows, “At that time the ogre was the monk of many possessions. Prince Suriya was Ānanda, Prince Canda was Sāriputta, and Prince Mahiṁsāsa was I myself.” Having thus related the Jātaka, the Teacher said, “Thus, monk, in a previous state of existence you sought those things that are truly godlike, and your walk was that of a man endowed with sense of modesty and fear of mortal sin. But just now you did an unbecoming thing, when you stood before me in the midst of the fourfold assemblage in this fashion and said, ‘I want little.’ A monk is a monk not solely because he throws a robe around him.” So saying, he joined the connection, and preaching the Law, pronounced the following Stanza,

141. Neither going naked, nor matted locks, nor filth, nor fasting, nor sleeping on the bare ground,
Nor rubbing with dust, nor sitting on the haunches, can purify that mortal who has not overcome doubt.

  1. This story is almost word for word the same as Jātaka 6: i. 126-133. Text: N iii. 72-78.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.