Tích Nàng Kiều Đàm Ốm Đắc A La Hán
Kisāgotamīvatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 114 Kinh Pháp Cú, phẩm Ngàn, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 114)
“Yo ca vassasataṃ jīve,
Apassaṃ amataṃ padaṃ;
Ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo,
Passato amataṃ padanti.”
“Ai sống một trăm năm,
Không thấy Câu Bất tử,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được Câu Bất tử.”
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết, khi Ngài ngự tại Jetavana Vihāra (Kỳ Viên Tự), đề cập đến nàng Kisāgotamī (Kiều Đàm Ốm).
Tương truyền: Trong thành Sāvatthī (Xá Vệ), có nhà một ông Bá hộ tự nhiên tài sản bốn trăm triệu đồng vàng biến thành than. Ông Bá hộ thấy vậy lấy làm phiền muộn, bỏ cả ăn uống nằm liệt trên giường.
Khi ấy, có một người bạn đến nhà thăm ông và hỏi:
- Bạn à, sao bạn buồn rầu dữ vậy?
Nghe rõ câu chuyện tâm sự của Bá hộ, người bạn khuyên:
- Thôi bạn đừng lo rầu nữa, tôi biết một phương pháp giải khổ cho bạn, bạn hãy làm theo lời tôi chỉ dẫn.
- Tôi làm gì bây giờ hở bạn?
- Nầy bạn, bạn hãy đích thân ra chợ, trải chiếc chiếu lác, đổ than vun thành đống, rồi ngồi giả làm người bán than. Trong số những khách hàng qua lại, gặp người nào hỏi: “Mấy người kia bán vải, dầu, mật ong, mật mía…Còn ông sao lại ngồi bán than?”. Bạn hãy trả lời rằng: “Của tôi mà tôi không bán thì tôi sẽ làm cái chi?”. Còn gặp người nào hỏi: “Mấy người khác bán vải, dầu, mật ong, mật mía… còn ông sao lại ngồi bán vàng bạc ở đây?”, bạn hãy trả lời rằng: “Bạc vàng ở đâu?”, nếu người ấy chỉ “Đây nè!”, bạn hãy bảo: “Đâu mang lại cho tôi xem”. Rồi bạn xòe tay ra thọ lãnh. Khi người ấy trao qua tay bạn như thế than nằm trong tay bạn sẽ trở thành bạc vàng. Nếu đó là một cô gái, bạn hãy cưới về cho con trai bạn cùng ở chung trong nhà, giao hết tài sản bốn trăm triệu đồng vàng cho cô dâu trọn quyền xuất phát. Nếu là cậu con trai, bạn hãy rước về gả con gái tới tuổi cập kê cho cậu, rồi giao hết số tài sản bốn trăm triệu đồng vàng cho chàng rể trọn quyền xuất phát.
Ông Bá hộ mừng rỡ, đem thực hành ngay diệu kế của người bạn, đích thân ra chợ đông, đổ than vun thành đống rồi ngồi giả vờ làm người bán than.
Gặp những người nào hỏi: “Mấy chỗ khác người ta bán vải, dầu, mật ong, mật mía… Còn ông sao ngồi bán than ở đây?”, ông Bá hộ đáp: “Của tôi mà tôi không bán thì tôi sẽ làm gì?”.
Khi ấy cô gái tên là Gotamī (Kiều Đàm) vì có thân hình ốm yếu, mảnh khảnh nên được gọi là Kisāgotamī (Kiều Đàm Ốm) (Kisā: ốm), là con gái của một gia tộc khá giả, hiện đang bị sa sút rõ rệt. Cô có việc cần phải đi ra cửa chợ, khi thấy ông Bá hộ đang ngồi, cô hỏi: “Bác ơi! Mấy người khác người ta bán vải, dầu, mật ong, mật mía… Còn bác sao lại ngồi đây bán bạc vàng”.
- Con ơi! Bạc vàng ở đâu?
- Chớ bác không lấy bạc vàng ra ngồi đây bán sao?
- Đâu con đem lại cho bác một mớ xem sao?
Nàng Kiều Đàm hốt một bụm đặt vào tay ông Bá hộ bụi than hóa ra vàng bạc. Ông Bá hộ liền hỏi cô gái:
- Nhà con ở lối nào?
- Thưa bác ở lối tên ấy.
Nghe nói, ông Bá hộ hỏi tiếp nữa rằng:
- Cô đã thành gia thất chưa?
- Thưa bác chưa.
Ông Bá hộ sắp xếp tài sản lại, rồi cưới nàng
Kisāgotamī về cho công tử con trai mình. Kế đó, giao hết tài sản bốn trăm triệu đồng vàng cho nàng Kisāgotamī gìn giữ. Lập tức tất cả tài sản biến thành than ấy đều hoàn lại là bạc vàng như cũ.
Một thời gian sau cô Kisāgotamī có thai. Đủ mười tháng cô hạ sanh một đứa con trai. Đứa bé vừa biết đi chập chừng thì nó bị bạo bệnh mà chết.
Từ trước đến giờ chưa từng thấy ai chết, cho nên thay vì để người ta đem xác đứa bé đi thiêu, cô lại mặc y phục, ẵm xác con đi từng nhà để hỏi xem ai có biết thuốc gì chữa bịnh cho con cô không. Cô được thị dân nói ngay rằng: “Cô ơi, cô phát khùng rồi, nên cô mới đi lang thang, hỏi thuốc trị bịnh cho đứa con trai đã chết!”.
Mặc kệ những lời nhắc nhở, cô Kisāgotamī vẫn cứ đi, tin chắc rằng: “Nhất định thế nào cô cũng gặp được người biết sẽ được phương thuốc trị bịnh cho con trai cô.”.
Khi ấy có một Hiền trí thấy cô như vậy, tự nghĩ rằng:
- Con gái ta đây chắc là một thiếu phụ mới đẻ con sợ chưa từng chứng kiến sự chết chóc. Vậy ta nên tế độ chỉ bảo dùm cô.
Vị ấy bảo cô:
- Con ơi! Bác không biết thuốc men gì cả, nhưng bác biết một vị lương y.
- Thưa bác vị đó là ai vậy.
- Đức Bổn Sư là vị lương y, vậy con hãy tìm đến Ngài mà hỏi thuốc.
- Cám ơn bác, để con đi hỏi thuốc.
Nói rồi, cô Kisāgotamī đến yết kiến Đức Bổn Sư đảnh lễ Ngài rồi đứng qua một bên, hỏi rằng:
- Bạch Ngài, nghe đồn rằng Ngài biết được thứ thuốc chữa bệnh cho con trai con phải không?
- Phải, Ta biết.
- Bạch Ngài, có cần kiếm món chi không?
- Chỉ cần kiếm cho được một nhúm hạt cải mà thôi.
- Bạch Ngài, con sẽ kiếm được hột cải, nhưng có cần phải kiếm ở nhà người nào không?
- Ở nhà người nào mà chưa từng có đứa con trai hoặc đứa con gái nào chết cả, mới được.
- Lành thay, bạch Ngài.
Nàng Kisāgotamī đảnh lễ Đức Bổn Sư ẵm đứa con chết ra đi vào xóm làng, đến đứng trước cửa nhà đầu tiên hỏi chủ nhà:
- Trong nhà này có hột cải không? Ông lương y nói đó là món thuốc chữa lành bịnh của con tôi.
- Nầy cô, có.
- Nếu có, cho tôi xin một nhúm.
Khi chủ nhà mang hột cải ra, cô Kiều Đàm lại hỏi thêm:
- Trong nhà nầy chưa từng có đứa con trai hoặc đứa con gái nào chết cả, phải không bác?
- Sao nàng lại nói như vậy? Thật ra thì số sống còn chỉ vài ba người, còn số chết thì lu bù, cô em à!
Nghe nói vậy, cô Kisāgotamī giao trả lại nhúm hạt cải và nói: “Thôi xin bác giữ hột cải của bác, nó không phải là thuốc chữa lành bịnh của con tôi.”.
Kể từ đó, cô Kisāgotamī lại tiếp tục đi sâu vào trong xóm, đến nhà cuối cùng khi trời đã xế chiều, cô cầm nhúm hột cải, cô tự nghĩ:
- Ôi! Ta thật là nặng nghiệp! Con ta đã chết rồi mà ta cứ mong cho nó cải tử hoàn sanh. Khắp cả một xóm làng như vầy mà số người sống còn ít, số tử vong lại nhiều hơn…
Càng suy xét, cô Kisāgotamī càng dịu lòng thương yêu con, trái tim lần lần trở nên chai lì. Cô vứt bỏ xác con trong rừng, trở về đảnh lễ Đức Bổn Sư rồi đứng qua một bên, khi ấy Đức Bổn Sư hỏi cô:
- Con đã kiếm được một nhúm hạt cải phải không?
- Bạch Ngài, con kiếm không được, khắp cả làng số người sống còn thì quá ít, số chết mất lại nhiều hơn.
Đức Bổn Sư dạy rằng:
- Con cứ mãi băn khoăn nghĩ rằng: “Con trai ta đã chết.”. Đó chỉ là thường sự đối với chúng sanh. Quả thật, Tử thần hằng lôi cuốn tất cả mọi người ở thời thiếu niên, vị thành niên… chẳng khác nào thác nước lụt đem vùi thây chúng sanh trong biển cả ác đạo.
Nói rồi, Đức Bổn Sư thuyết pháp và kết luận bằng bài kệ rằng:
“Taṃ puttapasusammattaṃ,
Byāsattamanasaṃ naraṃ;
Suttaṃ gāmaṃ mahogho’va,
Maccu ādāya gacchati.”
“Người tâm ý đắm say,
Con cái và súc vật,
Tử thần bắt người ấy,
Như lụt trôi làng ngủ”.
Đến cuối bài kệ nàng Kisāgotamī đắc quả Tu Đà
Hườn, nhiều người khác cũng đắc Thánh quả nhất là Tu Đà Hườn quả.
Kế đó, nàng Kisāgotamī xin Đức Bổn Sư cho nàng xuất gia. Ngài đã gởi nàng qua xuất gia với các Tỳ khưu Ni. Thọ Cụ túc giới rồi, nàng được gọi là Tỳ khưu Ni Kisāgotamī (Kiều Đàm Ốm).
Một ôm, tới phiên phải sửa soạn chỗ làm lễ Phát lồ (để các Tỳ khưu Ni sám hối với nhau). Sư Cô Kisāgotamī đốt đèn lên rồi ngồi nhìn ngọn đèn chập chờn leo lét, khi tỏ khi mờ, nàng chợt nhận thấy rằng: “Những chúng sanh nầy giống như ngọn đèn, cứ sanh diệt, sanh diệt như thế mãi, chớ không đi đến chỗ tịch diệt là Níp Bàn”. Trong khi Sư Cô đang miên man niệm tưởng đề tài Sanh Diệt, với đối tượng là ngọn đèn thì Đức Bổn Sư ngự tọa trong tòa hương thất phóng tỏa hào quang, thị hiện như ngồi trước mặt Sư Cô mà thuyết giảng rằng:
- Nầy Gotamī (Kiều Đàm), những chúng sanh nầy giống như ngọn đèn cứ sanh diệt, sanh diệt như thế mãi chớ không giác ngộ Níp Bàn là nơi tịch diệt. Người không tịnh tín nơi Níp Bàn như thế dầu sống cả trăm năm, cũng không bằng người tịnh tín nơi Níp Bàn chỉ sống trong giây lát.
Nói rồi, Đức Thế Tôn thuyết pháp và kết luận bằng kệ ngôn rằng:
“Yo ca vassasataṃ jīve,
Apassaṃ amataṃ padaṃ;
Ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo,
Passato amataṃ padanti.”
“Sống trăm tuổi thọ lão thành
Không thấy Bất tử Vô sanh pháp mầu
Chẳng bằng sống một ngày lâu
Mà được chứng ngộ pháp mầu Vô sanh”.
CHÚ GIẢI:
Amataṃ padaṃ: con đường bất tử ám chỉ Níp Bàn Vô dư, nơi không có sự già, đau, chết 1.
Những tiếng khác cũng đồng nghĩa với mấy bài kệ trước.
Cuối thời Pháp, Tỳ khưu Ni Kisāgotamī đắc quả A La Hán với Tuệ phân tích ngay tại chỗ ngồi. 1) Đạo Tịch tịnh Vô vi (T.K. Trí Đức) – Pháp Bất Tử (HT. Minh Châu). Trạng thái Bất diệt (Phạm Kim Khánh).
Kiều Đàm Ốm thắp nến “Xi ma”,
Đèn nến chập chờn gặp gió qua!
Ngọn lửa xuống lên hay tắt phụt,
Khác chi mạng sống của người ta?
Phật dạy: Dầu trăm tuổi thọ trường,
Không thông Khổ não với Vô thường,
Chẳng bằng chỉ sống một ngày ngắn,
Bất tử Vô sanh được tỏ tường.
DỨT TÍCH NÀNG KIỀU ĐÀM ỐM ĐẮC A LA HÁN
Kisāgotamīvatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Yo ca vassasataṃ jīveti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto kisāgotamiṃ ārabbha kathesi.
Sāvatthiyaṃ kirekassa seṭṭhissa gehe cattālīsakoṭidhanaṃ aṅgārā eva hutvā aṭṭhāsi. Seṭṭhi taṃ disvā uppannasoko āhāraṃ paṭikkhipitvā mañcake nipajji. Tasseko sahāyako gehaṃ gantvā, “samma, kasmā socasī”ti pucchitvā taṃ pavattiṃ sutvā, “samma, mā soci, ahaṃ ekaṃ upāyaṃ jānāmi, taṃ karohī”ti. “Kiṃ karomi, sammā”ti? Attano āpaṇe kilañjaṃ pasāretvā tattha te aṅgāre rāsiṃ katvā vikkiṇanto viya nisīda, āgatāgatesu manussesu ye evaṃ vadanti – “sesajanā vatthatelamadhuphāṇitādīni vikkiṇanti, tvaṃ pana aṅgāre vikkiṇanto nisinno”ti. Te vadeyyāsi – “attano santakaṃ avikkiṇanto kiṃ karomī”ti? Yo pana taṃ evaṃ vadati “sesajanā vatthatelamadhuphāṇitādīni vikkiṇanti, tvaṃ pana hiraññasuvaṇṇaṃ vikkiṇanto nisinno”ti. Taṃ vadeyyāsi “kahaṃ hiraññasuvaṇṇa”nti. “Ida”nti ca vutte “āhara, tāva na”nti hatthehi paṭiccheyyāsi. Evaṃ dinnaṃ tava hatthe hiraññasuvaṇṇaṃ bhavissati. Sā pana sace kumārikā hoti, tava gehe puttassa naṃ āharitvā cattālīsakoṭidhanaṃ tassā niyyādetvā tāya dinnaṃ valañjeyyāsi. Sace kumārako hoti, tava gehe vayappattaṃ dhītaraṃ tassa datvā cattālīsakoṭidhanaṃ niyyādetvā tena dinnaṃ valañjeyyāsīti. So “bhaddako upāyo”ti attano āpaṇe aṅgāre rāsiṃ katvā vikkiṇanto viya nisīdi. Ye pana naṃ evamāhaṃsu – “sesajanā vatthatelamadhuphāṇitādīni vikkiṇanti, kiṃ pana tvaṃ aṅgāre vikkiṇanto nisinno”ti? Tesaṃ “attano santakaṃ avikkiṇanto kiṃ karomī”ti paṭivacanaṃ adāsi. Athekā gotamī nāma kumārikā kisasarīratāya kisāgotamīti paññāyamānā parijiṇṇakulassa dhītā attano ekena kiccena āpaṇadvāraṃ gantvā taṃ seṭṭhiṃ disvā evamāha – “kiṃ, tāta, sesajanā vatthatelamadhuphāṇitādīni vikkiṇanti, tvaṃ hiraññasuvaṇṇaṃ vikkiṇanto nisinno”ti? “Kahaṃ, amma, hiraññasuvaṇṇa”nti? “Nanu ‘tvaṃ tadeva gahetvā nisinnosī’ti, āhara, tāva naṃ, ammā”ti. Sā hatthapūraṃ gahetvā tassa hatthesu ṭhapesi, taṃ hiraññasuvaṇṇameva ahosi.
Atha naṃ seṭṭhi “kataraṃ te, amma, geha”nti pucchitvā “asukaṃ nāmā”ti vutte tassā assāmikabhāvaṃ ñatvā dhanaṃ paṭisāmetvā taṃ attano puttassa ānetvā cattālīsakoṭidhanaṃ paṭicchāpesi. Sabbaṃ hiraññasuvaṇṇameva ahosi. Tassā aparena samayena gabbho patiṭṭhahi. Sā dasamāsaccayena puttaṃ vijāyi. So padasā gamanakāle kālamakāsi. Sā adiṭṭhapubbamaraṇatāya taṃ jhāpetuṃ nīharante vāretvā “puttassa me bhesajjaṃ pucchissāmī”ti matakaḷevaraṃ aṅkenādāya “api nu me puttassa bhesajjaṃ jānāthā”ti pucchantī gharapaṭipāṭiyā vicarati. Atha naṃ manussā, “amma, tvaṃ ummattikā jātā, matakaputtassa bhesajjaṃ pucchantī vicarasī”ti vadanti. Sā “avassaṃ mama puttassa bhesajjaṃ jānanakaṃ labhissāmī”ti maññamānā vicarati. Atha naṃ eko paṇḍitapuriso disvā, “ayaṃ mama dhītā paṭhamaṃ puttakaṃ vijātā bhavissati adiṭṭhapubbamaraṇā, mayā imissā avassayena bhavituṃ vaṭṭatī”ti cintetvā āha – “amma, ahaṃ bhesajjaṃ na jānāmi, bhesajjajānanakaṃ pana jānāmī”ti. “Ko jānāti, tātā”ti? “Satthā, amma, jānāti, gaccha, taṃ pucchāhī”ti. Sā “gamissāmi, tāta, pucchissāmi, tātā”ti vatvā satthāraṃ upasaṅkamitvā vanditvā ekamantaṃ ṭhitā pucchi – “tumhe kira me puttassa bhesajjaṃ jānātha, bhante”ti? “Āma, jānāmī”ti. “Kiṃ laddhuṃ vaṭṭatī”ti? “Accharaggahaṇamatte siddhatthake laddhuṃ vaṭṭatī”ti. “Labhissāmi, bhante”. “Kassa pana gehe laddhuṃ vaṭṭatī”ti? “Yassa gehe putto vā dhītā vā na koci matapubbo”ti. Sā “sādhu, bhante”ti satthāraṃ vanditvā mataputtakaṃ aṅkenādāya antogāmaṃ pavisitvā paṭhamagehassa dvāre ṭhatvā “atthi nu kho imasmiṃ gehe siddhatthako, puttassa kira me bhesajjaṃ eta”nti vatvā “atthī”ti vutte tena hi dethāti. Tehi āharitvā siddhatthakesu diyyamānesu “imasmiṃ gehe putto vā dhītā vā matapubbo koci natthi, ammā”ti pucchitvā “kiṃ vadesi, amma? Jīvamānā hi katipayā, matakā eva bahukā”ti vutte “tena hi gaṇhatha vo siddhatthake, netaṃ mama puttassa bhesajja”nti paṭiadāsi.
Sā iminā nīyāmena ādito paṭṭhāya naṃ pucchantī vicari. Sā ekagehepi siddhatthake agahetvā sāyanhasamaye cintesi – “aho bhāriyaṃ kammaṃ, ahaṃ ‘mameva putto mato’ti saññamakāsiṃ, sakalagāmepi pana jīvantehi matakāva bahutarā”ti. Tassā evaṃ cintayamānāya puttasinehaṃ mudukahadayaṃ thaddhabhāvaṃ agamāsi. Sā puttaṃ araññe chaḍḍetvā satthu santikaṃ gantvā vanditvā ekamantaṃ aṭṭhāsi. Atha naṃ satthā “laddhā te ekaccharamattā siddhatthakā”ti āha. “Na laddhā, bhante, sakalagāme jīvantehi matakāva bahutarā”ti. Atha naṃ satthā “tvaṃ ‘mameva putto mato’ti sallakkhesi, dhuvadhammo esa sattānaṃ. Maccurājā hi sabbasatte aparipuṇṇajjhāsaye eva mahogho viya parikaḍḍhamānoyeva apāyasamudde pakkhipatī”ti vatvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –
“Taṃ puttapasusammattaṃ, byāsattamanasaṃ naraṃ;
Suttaṃ gāmaṃ mahoghova, maccu ādāya gacchatī”ti. (dha. pa. 287);
Gāthāpariyosāne kisāgotamī sotāpattiphale patiṭṭhahi, aññepi bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.
Sā pana satthāraṃ pabbajjaṃ yāci, satthā taṃ bhikkhunīnaṃ santikaṃ pesetvā pabbājesi. Sā laddhūpasampadā kisāgotamī therīti paññāyi. Sā ekadivasaṃ uposathāgāre vāraṃ patvā dīpaṃ jāletvā nisinnā dīpajālā uppajjantiyo ca bhijjantiyo ca disvā “evameva ime sattā uppajjanti ceva nirujjhanti ca, nibbānappattā eva na paññāyantī”ti ārammaṇaṃ aggahesi. Satthā gandhakuṭiyaṃ nisinnova obhāsaṃ pharitvā tassā sammukhe nisīditvā kathento viya “evameva, gotami, ime sattā dīpajālā viya uppajjanti ceva nirujjhanti ca, nibbānappattā eva na paññāyanti, evaṃ nibbānaṃ apassantānaṃ vassasataṃ jīvanato nibbānaṃ passantassa khaṇamattampi jīvitaṃ seyyo”ti vatvā anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –
“Yo ca vassasataṃ jīve, apassaṃ amataṃ padaṃ;
Ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo, passato amataṃ pada”nti.
Tattha amataṃ padanti maraṇavirahitakoṭṭhāsaṃ, amatamahānibbānanti attho. Sesaṃ purimasadisameva.
Desanāvasāne kisāgotamī yathānisinnāva saha paṭisambhidāhi arahatte patiṭṭhahīti.
Kisāgotamīvatthu terasamaṃ.
VIII. 13. Kisā Gotamī Seeks Mustard Seed to Cure her Dead Child
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
114. Though one should live a hundred years, the region of the deathless never seeing,
’Twould be in vain; instead, ‘twould better be
To live a single day, the region of the deathless seeing.
This religious instruction was given by the Teacher at Jetavana, with reference to Kisā Gotamī.
13 a. Kisā Gotamī marries the son of a rich merchant
Once upon a time, the story goes, a merchant worth four hundred millions lived at Sāvatthi. Suddenly all of his wealth turned into charcoal. The merchant, overwhelmed with grief, refused to eat and took to his bed. One day a certain friend of his came to see him and asked him, “Sir, why are you so sorrowful?” The merchant told him what had happened. Said his friend, “Sir, give not yourself over to sorrow. I know a way out of the difficulty, if you will but make use of it.” “Well, sir, what am I to do?”
Said his friend, “Spread matting in your shop, and pile the charcoal on it, and sit down as if you were selling it. People will come along and say to you, ‘Most merchants sell such things as clothing and oil and honey and molasses; but you are sitting here selling charcoal.’ Then you must say to them, ‘If I can’t sell what belongs to me, what am I to do?’ But again some one may say, ‘Most merchants sell such things as clothing and oil and honey and molasses; but you are sitting here selling yellow gold.’ Then you must say, ‘Where’s any yellow gold?’ Your customer will say, ‘There it is!’ Then say, ‘Let me have it.’ Your customer will bring you a handful of charcoal. Take it, cover it with your hands, and presto! it will turn into yellow gold. Now if your customer be a maiden, marry her to your son, turn over your four hundred millions to her, and live on what she gives you. But if your customer be a youth, marry your daughter to him as soon as she reaches marriageable age, turn over your four hundred millions to him, and live on what he gives you.”
“A fine plan indeed!” said the merchant. So he piled the charcoal up in his shop, and sat down as if he were selling it. People came along and said to him, “Most merchants sell such things as clothing and oil and honey and molasses; but you are sitting here selling charcoal.” To such as asked this question, he replied as follows, “If I can’t sell what belongs to me, what am I to do?”
There came one day to the door of his shop a certain maiden, the daughter of a poverty-stricken house. Her name was Gotamī, but by reason of the leanness of her body she was generally known as Kisā Gotamī. She came to buy something for herself; but when she saw the merchant, she said to him, “My good sir, most merchants sell such things as clothing and oil and honey and molasses; but you are sitting here selling yellow gold.” “Maiden, where is there any yellow gold?” “Right there where you are sitting.” “Let me have some of it, maiden.” She took a handful of the charcoal and placed it in his hands. No sooner had it touched his hands than presto! it turned into yellow gold.
Then said the merchant to her, “Which is your house, maiden?” Said she, “Such and such, sir.” The merchant, perceiving that she was unmarried, married her to his own son. He then gathered up his wealth (what was previously charcoal turning into yellow gold at his touch), and gave the four hundred millions into her charge. In time she became pregnant, and, after ten lunar months, gave birth to a son. But the child died as soon as he was able to walk.
13 b. Kisā Gotamī seeks mustard seed to cure her dead child
Now Kisā Gotamī had never seen death before. Therefore, when they came to remove the body for burning, she forbade them to do so. Said she to herself, “I will seek medicine for my son.” Placing the dead child on her hip, she went from house to house inquiring, “Know ye aught that will cure my son?” Everyone said to her, “Woman, thou art stark mad that thou goest from house to house seeking medicine for thy dead child.” But she went her way, thinking, “Surely I shall find someone that knoweth medicine for my child.”
Now a certain wise man saw her and thought to himself, “This my daughter hath no doubt borne and lost her first and only child, nor death hath seen before; I must help her.” So he said to her, “Woman, as for me, I know not that wherewith to cure your child; but one there is that knoweth, and him I know.” “Sir, who is it that doth know?” “Woman, the Teacher doth know; go ask him.” “Good sir, I will go ask him.”
So she went to the Teacher, paid obeisance to him, stood at his side, and asked him, “Venerable Sir, is it true, as men say, that thou dost know that wherewith to cure my child?” “Yea, that know I.” “What shall I get?” “A pinch of white mustard seed.” “That will I, Venerable Sir. But in whose house shall I get it?” “In whose house nor son nor daughter nor any other hath yet died.” “Very well, Venerable Sir,” said she, and paid obeisance to him. Then she placed the dead child on her hip, entered the village, stopped at the door of the very first house, and asked, “Have ye here any white mustard seed? They say it will cure my child.” “Yea.” “Well then, give it me.” They brought grains of white mustard seed and gave to her. She asked, “Friends, in the house wherein ye dwell hath son or daughter yet died?” “What sayest thou, woman? As for the living, they be few; only the dead be many.” “Well then, take back your mustard seed; that is no medicine for my child.” So saying, she gave back the mustard seed.
After this manner, going from house to house, she plied her quest. Never a house wherein she found the mustard seed she sought; and when the evening came, she thought, “Ah! ‘tis a heavy task I took upon myself. I thought ‘twas I alone had lost a child, but in every village the dead are more in number than the living.” The while she thus reflected, hard became the heart the which erewhile was soft with mother’s love. She took the child and in a forest laid him down, and going to the Teacher paid obeisance to him and beside him took her stand.
Said the Teacher, “Didst thou get the single pinch of mustard seed?” “Nay, that did I not. Venerable Sir. In every village the dead are more in number than the living.” Said the Teacher, “Vainly didst thou imagine that thou alone hadst lost a child. But all living beings are subject to an unchanging law, and it is this: The Prince of Death, like to a raging torrent, sweeps away into the sea of ruin all living beings; still are their longings unfulfilled.” And instructing her in the Law, he pronounced the following Stanza,
287. Whoso hath set his heart on sons or flocks and herds,
To worldly pleasures given o’er whose thoughts, –
Even as a torrent sweeps away a sleeping town,
So him the Prince of Death doth take and bear away.
As the Teacher uttered the last word of the Stanza, Kisā Gotamī was established in the Fruit of Conversion. Likewise did many others also obtain the Fruit of Conversion, and the Fruits of the Second and Third Paths. Kisā Gotamī requested the Teacher to admit her to the Order; accordingly he sent her to the community of nuns and directed that she be admitted. Afterwards she made her full profession and came to be known as the nun Kisā Gotamī.
One day it was her turn to light the lamp in the Hall of Confession. Having lighted the lamp, she sat down and watched the tongues of flame. Some flared up and others flickered out. She took this for her Subject of Meditation and meditated as follows, “Even as it is with these flames, so also is it with living beings here in the world: some flare up, while others flicker out; they only that have reached Nibbāna are no more seen.”
The Teacher, seated in his Perfumed Chamber, sent forth an apparition of himself, and standing as it were face to face with her, spoke and said, “Even as it is with these flames, so also is it with living beings here in the world: some flare up, while others flicker out; they only that have reached Nibbāna are no more seen. Therefore, better is the life of him that seeth Nibbāna, though he live but for an instant, than the lives of them that endure for a hundred years and yet see not Nibbāna.” And joining the connection, he instructed her in the Law by pronouncing the following Stanza,
114. Though one should live a hundred years, the region of the deathless never seeing,
’Twould be in vain; instead, ‘twould better be
To live a single day, the region of the deathless seeing.
At the conclusion of the discourse Kisā Gotamī, even as she sat there, attained Arahatship and the Supernatural Faculties.
- Parallels: Aṅguttara Commentary, JRAS., 1893, 791-796; Therī-Gāthā Commentary, Ixiii: 174-176; Rogers, Buddhaghosha’s Parables, x, pp. 98-102; Tibetan Tales, xi, pp. 216-226. In Therī-Gāthā, 218-219, and in the Tibetan version, certain episodes of the story of Paṭācārā (viii. 12) are incorporated in the story of Kisā Gotamī. Cf. Die Legende von Kisdgotamī. Eine literarhistorische Untersuchung. Von Jakob H. Thiessen, Breslau, 1880. Text: N ii. 270-275.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.