Chú giải Pháp Cú · Kệ 168–169 · Dhp 168–169

Tích Đức Vua Suddhodana

Suddhodanavatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 168–169 Kinh Pháp Cú, phẩm Thế Gian, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 168-169)

168. “Uttiṭṭhe nappamajjeyya,
Dhammaṃ sucaritaṃ care;
Dhammacārī sukhaṃ seti,
Asmiṃ loke paramhi ca.”
“Nỗ lực, chớ phóng dật!
Hãy sống theo chánh hạnh;
Người chánh hạnh hưởng lạc,
Cả đời nầy, đời sau.”
169. “Dhammaṃ care sucaritaṃ,
Na naṃ duccaritaṃ care;
Dhammacārī sukhaṃ seti,
Asmiṃ loke paramhi ca.”
“Hãy khéo sống chánh hạnh,
Chớ sống theo tà hạnh!
Người chánh hạnh hưởng lạc,
Cả đời nầy, đời sau.”

(Ngài HT Minh Châu)

Kệ Pháp Cú nầy Đức Bổn Sư thuyết ra khi Ngài ngự về thành Kapilavatthu, trú trong Tịnh xá Nigrodha, đề cập về Đức Vua Suddhodana.

Tương truyền rằng: Sau khi thành đạo, chứng đạt quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Giác. Bậc Đạo Sư ngự về kinh thành Kapilavatthu lần đầu để tế độ quyến thuộc, gia quyến đã tiếp đãi Ngài trọng hậu, cúng dường đến Đức Phật và chư Thánh Tăng Tịnh xá Nigrodha.

Trong buổi tiếp đón ấy, Ngài thị hiện thần thông, đi kinh hành trên hư không và thuyết pháp thoại để diệt lòng ngã mạn thái quá của dòng Sakya. Các thân quyến của Ngài ngay cả Đức Vua Suddhodana cũng đảnh lễ Ngài. Một trận mưa màu đỏ rơi xuống trong buổi trùng phùng ấy, người nào muốn ướt thì ướt, ai không muốn thì sẽ không có giọt mưa nào chạm vào mình.

Thế rồi, gia tộc Sakya bàn luận về điều kỳ diệu của trận mưa ấy, Bậc Đạo Sư phán dạy rằng:

- Chẳng phải chỉ trong kiếp nầy đây, nầy các Tỳ Khưu! Trong quá khứ mưa cũng rơi xuống khi gia tộc Như Lai được đoàn viên rồi.

Đại Đức Sāriputta và Đại Đức Moggallāna thỉnh cầu Đức Thế Tôn thuyết giảng Bổn sự, Ngài thuyết giảng Bổn Sanh Vessantara. Thân quyến của Ngài, sau khi nghe xong Pháp thoại, hoan hỷ ra về không một ai nghĩ đến việc thỉnh Ngài cùng chư Tăng thọ thực vào ngày mai. Ngay cả Đức Vua Suddhodana cũng không nghĩ đến, vì Đức Vua nghĩ rằng:

- Còn của ta còn phải đến đâu ngoài Hoàng Cung nữa chứ. Thân tộc của Ngài cũng cùng chung một ý nghĩ ấy, nên ra về. Đức Vua về đến Hoàng Cung, cho người sắp đặt vật thực thượng vị như cháo cơm… để dâng đến Đức Thế Tôn cùng hai muôn Tăng chúng, sửa soạn nơi ngồi cho Tăng chúng nơi Hoàng Cung.

Vào buổi sáng hôm ấy, Đức Thế Tôn vận mặc y phục, tay cầm y bát, đi vào thành Kapilavatthu khất thực, theo sau Ngài là hai muôn Tăng chúng. Đức Thế Tôn dùng Phật Tuệ quán xét rằng: Chư Phật quá khứ khi về đến thân tộc, có đi khất thực ngay nhà thân tộc hay chăng? Hay là đi khất thực theo tuần tự? Ngài thấy rằng: Chư Phật quá khứ khất thực theo tuần tự thứ lớp.

Thế là, Đức Thế Tôn ngự đến căn nhà đầu tiên. Dân thành náo động hẳn lên với tin rằng: Thái Tử Siddhattha đi ăn xin. Các Cung nữ được tin nầy liền trình lên Hoàng Hậu Yasodharā là mẹ của Thái Tử Rāhula, nàng Yasodharā nghe tin sét đánh ấy vột báo lại cho Vua Suddhodana biết. Đức Vua hối hả chạy ra cổng Hoàng Cung, đến đảnh lễ Đức Thế Tôn bạch rằng:

- Con ơi! Vì sao con lại làm cho cha mất mặt như thế. Con đi khất thực như vậy đã làm tổn hại đến cha vô cùng, con không nên làm như thế. Con hãy ngự trên kiệu vàng đi tuần du Hoàng thành mới thích hơn. Nầy Thái Tử con! Vì sao con làm cha mất mặt như thế?

- Nầy Đại Vương! Như Lai không có làm Ngài mất mặt đâu, Như Lai đang hành theo phận sự của giòng dõi mình.

- Nầy con, sự đi khất thực sống là dòng dõi của Sát Đế Lỵ sao?

- Nầy Đại Vương! Việc làm ấy không thuộc về dòng Vua như Ngài, nhưng lại thuộc về giòng dõi của Như Lại. Giòng dõi Như Lai là dòng Phật. Chư Phật quá khứ hằng nuôi mạng bằng cách đi khất thực.

Rồi Ngài thuyết lên kệ ngôn rằng:
168. “Uttiṭṭhe nappamajjeyya,
Dhammaṃ sucaritaṃ care;
Dhammacārī sukhaṃ seti,

Asmiṃ loke paramhi ca.”
“Nỗ lực, chớ phóng dật!
Hãy sống theo chánh hạnh;
Người chánh hạnh hưởng lạc,
Cả đời nầy, đời sau.”
169. “Dhammaṃ care sucaritaṃ,
Na naṃ duccaritaṃ care;
Dhammacārī sukhaṃ seti,
Asmiṃ loke paramhi ca.”
“Hãy khéo sống chánh hạnh,
Chớ sống theo tà hạnh!
Người chánh hạnh hưởng lạc,
Cả đời nầy, đời sau.”
(Ngài HT Minh Châu)

168. Không nên dễ duôi phóng dật khi đứng (trì bình trước cửa người ta). Hãy trang nghiêm hành chánh hạnh (ấy). Người hành chánh hạnh ấy trang nghiêm sẽ được an vui ở thế gian nầy và trong thế gian sắp tới.

169. Hãy trang nghiêm hành chánh hạnh ấy. Không dễ duôi phóng dật. Người hành chánh hạnh ấy trang nghiêm sẽ sống an vui, ở thế gian nầy và trong thế gian sắp đến.

CHÚ GIẢI:

Uttiṭṭhe: Nghĩa là với miếng cơm mà mình đứng nhận trước cửa nhà người khác.

Nappamajjeyya: Nghĩa là khi vị Tỳ Khưu bỏ phong tục của hạnh khất thực, lại đi tầm cầu vật thực thượng vị, gọi là người có sự dễ duôi trong vật thực mà mình đứng nhận. Nhưng nếu đi khất thực theo tuần tự thứ lớp thì gọi là không có sự dễ duôi. Hành như thế được gọi là không dễ duôi với vật thực mà mình đón nhận.

Dhammaṃ: Nghĩa là khi bỏ sự tìm kiếm bất chánh rồi, đi khất thực tuần tự, gọi là thực hành Pháp, tức là sự khất thực nuôi mạng là chánh hạnh.

Sukhaṃ seti: Chỉ sự thuyết giảng rằng khi thực hành khất thực Pháp, được gọi là thưởng thực hành Pháp trong bốn oai nghi, sẽ được an lạc trong đời nầy lẫn đời sau.

Na naṃ duccaritaṃ: Nghĩa là khi đi đến nơi phi chánh đạo như nơi lầu xanh… gọi là hành pháp (khất thực) tà hạnh. Chớ nên hành như thế, hãy thực hạnh chánh hạnh, không hành tà pháp.

Dứt kệ ngôn, Đức Vua Suddhodana chứng Quả Dự Lưu.

Đức Phật trì bình phía ngoại thành
Theo gương chư Phật vẫn thường hành,
Phụ vương ngài thấy không hoan hỉ,
Bởi chấp: Ta giòng Vua chúa sanh.
Phá chấp theo tà kiến thế gian,
Độ vua đắc quả Tu đà hoàn,
Phật bèn đứng thuyết hai bài kệ
Khen pháp trì bình, chánh hạnh toàn.

DỨT TÍCH ĐỨC VUA SUDDHODANA

Suddhodanavatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Uttiṭṭheti imaṃ dhammadesanaṃ satthā nigrodhārāme viharanto pitaraṃ ārabbha kathesi.

Ekasmiñhi samaye satthā paṭhamagamanena kapilapuraṃ gantvā ñātīhi katapaccuggamano nigrodhārāmaṃ patvā ñātīnaṃ mānabhindanatthāya ākāse ratanacaṅkamaṃ māpetvā tattha caṅkamanto dhammaṃ desesi. Ñātī pasannacittā suddhodanamahārājānaṃ ādiṃ katvā vandiṃsu. Tasmiṃ ñātisamāgame pokkharavassaṃ vassi. Taṃ ārabbha mahājanena kathāya samuṭṭhāpitāya “na, bhikkhave, idāneva, pubbepi mayhaṃ ñātisamāgame pokkharavassaṃ vassiyevā”ti vatvā vessantarajātakaṃ (jā. 2.22.1655 ādayo) kathesi. Dhammadesanaṃ sutvā pakkamantesu ñātīsu ekopi satthāraṃ na nimantesi. Rājāpi “mayhaṃ putto mama gehaṃ anāgantvā kahaṃ gamissatī”ti animantetvāva agamāsi. Gantvā ca pana gehe vīsatiyā bhikkhusahassānaṃ yāguādīni paṭiyādāpetvā āsanāni paññāpesi. Punadivase satthā piṇḍāya pavisanto “kiṃ nu kho atītabuddhā pitu nagaraṃ patvā ujukameva ñātikulaṃ pavisiṃsu, udāhu paṭipāṭiyā piṇḍāya cariṃsū”ti āvajjento “paṭipāṭiyā cariṃsū”ti disvā paṭhamagehato paṭṭhāya piṇḍāya caranto pāyāsi. Rāhulamātā pāsādatale nisinnāva disvā taṃ pavattiṃ rañño ārocesi. Rājā sāṭakaṃ saṇṭhāpento vegena nikkhamitvā satthāraṃ vanditvā – “putta, kasmā maṃ nāsesi, ativiya te piṇḍāya carantena lajjā uppāditā, yuttaṃ nāma vo imasmiṃyeva nagare suvaṇṇasivikādīhi vicaritvā piṇḍāya carituṃ, kiṃ maṃ lajjāpesī”ti? “Nāhaṃ taṃ, mahārāja, lajjāpemi, attano pana kulavaṃsaṃ anuvattāmī”ti. “Kiṃ pana, tāta, piṇḍāya caritvā jīvanavaṃso mama vaṃso”ti? “Neso, mahārāja, tava vaṃso, mama paneso vaṃso. Anekāni hi buddhasahassāni piṇḍāya caritvāva jīviṃsū”ti vatvā dhammaṃ desento imā gāthā abhāsi –

“Uttiṭṭhe nappamajjeyya, dhammaṃ sucaritaṃ care;
Dhammacārī sukhaṃ seti, asmiṃ loke paramhi ca.

“Dhammaṃ care sucaritaṃ, na naṃ duccaritaṃ care;
Dhammacārī sukhaṃ seti, asmiṃ loke paramhi cā”ti.

Tattha uttiṭṭheti uṭṭhahitvā paresaṃ gharadvāre ṭhatvā gahetabbapiṇḍe. Nappamajjeyyāti piṇḍacārikavattañhi hāpetvā paṇītabhojanāni pariyesanto uttiṭṭhe pamajjati nāma, sapadānaṃ piṇḍāya caranto pana na pamajjati nāma. Evaṃ karonto uttiṭṭhe nappamajjeyya. Dhammanti anesanaṃ pahāya sapadānaṃ caranto tameva bhikkhācariyadhammaṃ sucaritaṃ care. Sukhaṃ setīti desanāmattametaṃ, evaṃ panetaṃ bhikkhācariyadhammaṃ caranto dhammacārī idha loke catūhi iriyāpathehi sukhaṃ viharatīti attho. Na naṃ duccaritanti vesiyādibhede agocare caranto bhikkhācariyadhammaṃ duccaritaṃ carati nāma. Evaṃ acaritvā dhammaṃ care sucaritaṃ, na naṃ duccaritaṃ care. Sesaṃ vuttatthameva.

Desanāvasāne rājā sotāpattiphale patiṭṭhahi, sampattānampi sātthikā dhammadesanā ahosīti.

Suddhodanavatthu dutiyaṃ.

XIII. 2. The Buddha visits Kapila

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

168. A man should exert himself...

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Banyan Grove with reference to his own father.

For at a certain time the Teacher made his first journey to the city Kapila, and when he arrived there, his kinsmen came forth to meet him and to greet him. On that occasion, in order to break the overweening pride of his kinsfolk, he created by supernatural power a cloister of jewels in mid-air, and in this cloister walked up and down preaching the Law. The hearts of his kinsfolk were straightway endowed with faith, and beginning with the great king Suddhodana, all did reverence to him. Thereupon there fell upon the assemblage of his kinsfolk a shower of rain, with reference to which there arose a discussion among the multitude. Said the Teacher, “Monks, this is not the first time a shower of rain has fallen upon an assemblage of my kinsfolk; the same thing happened in a previous state of existence also.” So saying, he related the Vessantara Jātaka. Having heard him preach the Law, his kinsfolk departed, not even one extending an invitation to the Teacher. Likewise the king, although the thought occurred to him, “If my son does not come to my house, where will he go?” went home without inviting him. When he reached the royal residence, however, he caused rice-gruel and other kinds of food to be prepared for twenty thousand monks, and likewise seats to be provided for them.

On the following day, as the Teacher entered the city to receive alms, he considered within himself, “Did the Buddhas of the past, upon entering the city of their father, straightway enter the house of their kinsfolk, or did they go from house to house in regular order receiving alms?” Perceiving that they always went from house to house, the Teacher likewise began at the first house and went from house to house receiving alms. They brought word of this to the king. The king went quickly out of his residence, adjusting his cloak as he went, and prostrating himself before the Teacher, said, “Son, why do you mortify me? I am overwhelmed with shame to see you going from house to house receiving alms. In this very city it would be improper for you to go from house to house in a golden litter receiving alms. Why do you put me to shame?” “Great king, I am not putting you to shame; I am merely keeping up the tradition of my lineage.” “But, my dear son, is it a tradition of my lineage to gain a livelihood by going from house to house receiving alms?” “No, great king, that is not a tradition of your lineage. But it is a tradition of my lineage, for countless thousands of Buddhas have gone from house to house receiving alms, and have so gained their sustenance.” So saying, he preached the Law by pronouncing the following Stanzas,

168. A man should exert himself, and should not live the life of Heedlessness.
A man should live righteously; for by living righteously
A man rests happily, both in this world and in the next.

169. A man should live righteously, not unrighteously;
For by living righteously a man rests happily, both in this world and in the next.

At the conclusion of the lesson the king was established in the Fruit of Conversion; the assembled company also profited by the lesson.

  1. Cf. i. 9 a. Text: N iii. 163-165.
  2. Jātaka 547: vi. 479-593.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp có dẫn kệ này