Cúng giao thừa, cúng chúng sinh thế nào? Kinh nói hiến cúng, không dạy nghi thức cúng
Theo kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, ngôn ngữ cổ mà kinh gốc được ghi lại, người cư sĩ có phần hiến cúng dành cho người đã mất. Tuy nhiên, kinh không dạy nghi thức cúng giao thừa hay cúng chúng sinh. Bài viết này trả lời thẳng điều kinh nói, và phân biệt rõ điều ấy với tục lệ mà nhiều gia đình vẫn giữ.
Năm loại hiến cúng của người cư sĩ theo Kinh Các Lý Do Gầy Dựng Tài Sản
Kinh Các Lý Do Gầy Dựng Tài Sản thuộc Tăng Chi Bộ nói về cách người cư sĩ dùng tài sản đã làm ra một cách có ý nghĩa. Trong các việc dùng tài sản ấy, kinh kể đến phần hiến cúng dành cho nhiều đối tượng khác nhau, từ người thân trong gia đình cho đến khách khứa và người đã mất. Theo cách đọc của người viết, phần hiến cúng này cho thấy người cư sĩ không chỉ lo cho bản thân, mà còn chia sẻ tài sản với những người xung quanh và với người đã khuất. Kinh ghi rõ: “Hiến cúng cho bà con, hiến cúng cho khách, hiến cúng cho hương linh đã chết (peta), hiến cúng cho vua, hiến cúng cho chư Thiên.” (AN 5.41:4.2; Pāli: Ñātibaliṁ, atithibaliṁ, pubbapetabaliṁ, rājabaliṁ, devatābaliṁ—)
Theo cách đọc của người viết, năm loại hiến cúng này vẽ ra một nếp sống biết chia sẻ, chứ không phải một nghi thức cúng lễ cầu kỳ. Bạn có thể đọc thêm về bố thí tại Bố thí là gì? Cho đi với tâm tốt theo lời kinh. Khi bạn hiểu hiến cúng theo nghĩa này, bạn sẽ thấy việc cúng ông bà hay cúng vào dịp Tết có thể bắt đầu từ tâm chia sẻ và lòng nhớ ơn, thay vì bắt đầu từ việc lo sợ thiếu lễ vật hay sai nghi thức.
Người thân đã mất hưởng bố thí khi nào theo Kinh Jāṇussoṇi
Kinh Jāṇussoṇi thuộc Tăng Chi Bộ ghi lại câu trả lời của Đức Phật cho một vị Bà-la-môn hỏi về việc bố thí cho người đã mất. Đức Phật không nói mọi bố thí đều đến được với người đã mất. Câu trích dưới đây trả lời câu hỏi: nếu người thân ấy không ở chỗ đó thì ai hưởng bố thí ấy? Kinh xác định chỗ ấy là cảnh ngạ quỷ (AN 10.177, đoạn 2.6 và 7.2–7.4); địa ngục, bàng sanh, loài người và chư thiên đều không phải chỗ ấy (đoạn 3.5, 4.4, 5.4, 6.4). Theo cách đọc của người viết, điều kiện này giúp bạn hiểu việc cúng lễ một cách tỉnh táo, không đặt niềm tin mù quáng vào lễ vật. Kinh ghi rõ: “Này Bà-la-môn, các bà con huyết thống khác đã chết, được sanh vào chỗ ấy, những người ấy được hưởng bố thí ấy.” (AN 10.177:8.2; Pāli: Aññepissa, brāhmaṇa, petā ñātisālohitā taṁ ṭhānaṁ upapannā honti, te taṁ dānaṁ paribhuñjantīti)
Theo cách đọc của người viết, câu kinh này đặt trọng tâm vào cảnh giới tái sinh của người đã mất, chứ không đặt trọng tâm vào mâm cúng. Nếu người thân đã mất không sinh vào cảnh ngạ quỷ thì bố thí ấy không đến được với người ấy, dù mâm cúng có đầy đủ đến đâu. Bạn có thể đọc thêm về hồi hướng tại Hồi hướng công đức: làm việc thiện rồi mời người thân đã khuất cùng tùy hỷ. Điểm này không nhằm làm bạn nản lòng, mà nhằm giúp bạn làm việc thiện với hiểu biết rõ ràng hơn. Cũng trong bài kinh này, đoạn 9.3 nói rằng người bố thí không phải không có hưởng quả.
Giao thừa và cúng chúng sinh là tục lệ, kinh không dạy nghi thức
Cần nói thẳng rằng kinh Nikāya không nói đến cúng giao thừa, cúng đầy tháng hay nghi thức thí thực chúng sinh. Những lễ cúng này là tục lệ của nhiều gia đình Việt Nam vào dịp Tết và các dịp trong năm, được giữ gìn như một cách nhớ ơn tổ tiên và chia sẻ với người khó khăn. Tục lệ ấy đáng được tôn trọng, nhưng bạn không nên gán nó cho lời Phật, vì kinh không dạy nghi thức cho các dịp ấy.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh. Một gia đình vào đêm giao thừa bày một mâm cơm nhỏ để nhớ đến ông bà, rồi hôm sau mang quà đến cho người thân khó khăn trong xóm. Theo cách đọc của người viết, mâm cơm đêm giao thừa là tục lệ nhớ ơn, còn việc mang quà cho người khó khăn mới gần với tinh thần hiến cúng và bố thí mà kinh nói đến. Khi bạn phân biệt được hai phần này, bạn sẽ giữ tục lệ mà không nhầm tục lệ với lời kinh.
Phật tử cúng ngày Tết, ngày thường thế nào cho đúng
Khi cúng vào dịp giao thừa hay các ngày lễ trong gia đình, bạn có thể giữ tục lệ một cách giản dị, vừa với điều kiện của gia đình bạn, và dành tâm cho việc nhớ ơn tổ tiên và chia sẻ với người khác. Bạn không cần lo bạn cúng thiếu lễ vật hay sai nghi thức, vì kinh không quy định các chi tiết ấy. Điều bạn nên làm thêm là thực hành bố thí và sống thiện trong đời thường, vì đó mới là phần kinh dạy và có thể đem lại lợi ích thật sự cho bạn và cho người thân.
Bạn có thể đọc thêm về thờ cúng tổ tiên tại Thờ cúng tổ tiên theo lời Phật dạy. Theo cách đọc của người viết, một gia đình giữ tục lệ với tâm tôn trọng và đồng thời sống chia sẻ, giúp đỡ người khác thì đã đi đúng tinh thần của hai bài kinh được trích trong bài này.
Hỏi nhanh
Cúng giao thừa, cúng chúng sinh thì Phật tử nên làm thế nào?
Bạn có thể giữ tục lệ một cách giản dị và tôn trọng, đồng thời thực hành bố thí và sống thiện, vì kinh không dạy nghi thức cho các dịp ấy.
Kinh nói gì về hiến cúng cho người đã mất?
Kinh Các Lý Do Gầy Dựng Tài Sản kể năm loại hiến cúng của người cư sĩ, trong đó có hiến cúng cho hương linh đã mất (AN 5.41, đoạn 4.2).
Người đã mất có nhận được bố thí không?
Chỉ khi người ấy sinh vào cảnh ngạ quỷ (AN 10.177, đoạn 2.6 và 7.2–7.4); câu kinh (AN 10.177, đoạn 8.2) nói các bà con khác đã mất, đang ở chỗ ấy, thì hưởng được bố thí ấy. Vì vậy, trọng tâm không nằm ở mâm cúng mà ở việc bố thí với tâm lành.
Cúng giao thừa có phải là lời Phật dạy không?
Không, kinh Nikāya không nói đến cúng giao thừa hay nghi thức thí thực chúng sinh. Những lễ cúng ấy là tục lệ, không phải lời kinh.
Câu chốt: Kinh dạy hiến cúng và bố thí với tâm lành, còn cúng giao thừa và cúng chúng sinh là tục lệ đáng tôn trọng chứ không phải nghi thức kinh dạy.
Biên soạn: Hoan Hỉ
Nguồn trích dẫn
- Tăng Chi Bộ 5.41, Kinh Các Lý Do Gầy Dựng Tài Sản (Bhogādiya Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, AN 5.41 trên SuttaCentral; bản Pāli AN 5.41 Pāli.
- Tăng Chi Bộ 10.177, Kinh Jāṇussoṇi (Jāṇussoṇi Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, AN 10.177 trên SuttaCentral; bản Pāli AN 10.177 Pāli.
- Các câu trong ngoặc kép là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu, kèm câu Pāli gốc (bản Mahāsaṅgīti trên SuttaCentral) và số đoạn (segment) của bản Pāli ấy. Phần ngoài ngoặc kép là diễn giải của người viết; chỗ ghi “cách đọc của người viết” là suy luận. Số đoạn viết trong ngoặc đơn không kèm câu Pāli (ví dụ “đoạn 3.2–3.5”) là tóm ý, không phải trích nguyên văn.