Thờ cúng tổ tiên theo lời Phật dạy
Bàn thờ gia tiên là góc thiêng liêng nhất trong nhiều ngôi nhà Việt. Có người hỏi: theo đạo Phật rồi thì còn thờ cúng ông bà không? Câu trả lời của kinh rất ấm áp: Đức Phật không bảo ai bỏ lòng hiếu kính, mà chỉ cách làm cho lòng ấy có ích thật sự.
Một bổn phận người con trong kinh
Người Việt có câu “uống nước nhớ nguồn”. Kinh Pāli cũng có một câu rất gần như thế. Trong Kinh Thi-ca-la-việt, Đức Phật dạy chàng Thi-ca-la-việt (Siṅgāla) rằng người con phụng dưỡng cha mẹ theo năm cách, với tâm niệm:
Này Gia chủ tử, có năm trường hợp, người con phải phụng dưỡng cha mẹ như phương Đông: “Được nuôi dưỡng, tôi sẽ nuôi dưỡng lại cha mẹ; tôi sẽ làm bổn phận đối với cha mẹ; tôi sẽ gìn giữ gia đình và truyền thống; tôi bảo vệ tài sản thừa tự; tôi sẽ làm tang lễ khi cha mẹ qua đời”.
Trường Bộ 31, đoạn 28.2
Tăng Chi Bộ 5.39 nhắc lại đúng năm điều ấy, lần này từ phía cha mẹ: cha mẹ mong có con vì năm lẽ, trong đó có lẽ “khi chúng ta đã qua đời, con sẽ làm việc cúng dường hồi hướng cho chúng ta” (AN 5.39, đoạn 1.7). Kinh kết bằng bài kệ: những người con hiền, biết ơn và nhớ ơn, nuôi dưỡng cha mẹ, “nhớ lại những gì cha mẹ đã làm trước kia” (đoạn 4.3–5.2). Như vậy, nhớ đến cha mẹ, ông bà sau khi các vị mất đi là điều kinh nhìn nhận là bổn phận tự nhiên của người con hiếu thảo.
Cúng người đã khuất là việc đáng làm
Trong Tăng Chi Bộ 4.61, Đức Phật kể cho ông Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika) những việc xứng đáng để làm bằng của cải kiếm được chân chánh. Một trong số đó là năm việc cúng hiến: cho bà con, cho khách, cho người đã khuất (pubbapetabali), cho vua (tức phần thuế), và cho chư thiên (AN 4.61, đoạn 15.1–15.2). Chữ bali ở đây là phần dâng cúng, phần đóng góp. Việc dành một phần cho người đã khuất được đặt cạnh việc lo cho bà con, tiếp đãi khách, làm tròn nghĩa vụ với xã hội. Đó là một phần của đời sống gia đình có đạo đức, không phải điều mê tín.
Tăng Chi Bộ 4.63 còn nói một điều đẹp hơn nữa: gia đình nào con cái tôn kính cha mẹ trong nhà thì gia đình ấy “có Phạm thiên”, “có các bậc thầy đầu tiên”, vì cha mẹ là người đã sinh thành, nuôi dưỡng và chỉ cho con thấy thế giới này (AN 4.63, đoạn 1.1–2.6). Thờ cha mẹ khi cha mẹ còn sống quan trọng không kém thờ cúng khi các vị đã mất. Bài Báo hiếu cha mẹ theo lời Phật nói kỹ hơn, và Tăng Chi Bộ 2.33 cho biết cách đền ơn lớn nhất là giúp cha mẹ vững trú trong niềm tin, giới hạnh, bố thí và trí tuệ (AN 2.33, đoạn 1.9).
Điều gì thật sự đến được với ông bà
Bà-la-môn Jāṇussoṇi hỏi Đức Phật: lễ cúng cho thân quyến đã khuất có thật đến được với họ không? Đức Phật đáp: đến được nếu đúng chỗ, không đến được nếu không đúng chỗ (AN 10.177, đoạn 2.6). Người sinh vào cõi ngạ quỷ thì sống bằng vật thực của cõi ấy, hoặc nhờ những gì bạn bè, bà con gửi đến từ đây (đoạn 7.3). Kinh Ngoài Bức Tường chỉ rõ cách gửi: làm việc bố thí rồi nói lên lời hồi hướng, “Mong điều này đến với bà con chúng ta, mong bà con được an vui!” (Tiểu Tụng 7, kệ 4). Kinh cũng nói khóc than, sầu muộn không ích gì cho người đã khuất, còn món cúng dường “khéo đặt vào Tăng chúng” thì đem lại lợi ích lâu dài cho họ (kệ 12). Bài Hồi hướng công đức thế nào giải thích kỹ hai bài kinh này.
Bàn thờ gia tiên trong nhà Phật tử
Theo truyền thống Việt, nhà nào cũng có bàn thờ gia tiên với di ảnh, bát nhang, đèn, hoa, trái cây. Nhiều gia đình Phật tử đặt bàn Phật ở vị trí cao hơn, bàn thờ ông bà ở dưới hoặc bên cạnh. Đó là nếp nhà, kinh không quy định cách bày biện. Điều kinh quan tâm là tâm người đứng trước bàn thờ: nhớ ơn, và biết làm việc thiện để hồi hướng. Về chuyện đốt vàng mã, bài Đốt vàng mã có đúng không đã bàn với một tinh thần nhẹ nhàng.
Thử hình dung một gia đình đến ngày giỗ ông nội. Thay vì chỉ lo mâm cỗ thật to, sáng hôm ấy cả nhà mang cơm lên chùa dâng chư Tăng, người lớn kể cho con cháu nghe ông nội đã sống thế nào, đã nuôi các con ra sao. Trưa về, cả nhà thắp nhang và cùng đọc lời hồi hướng. Mâm cỗ vẫn có, nhưng ngày giỗ trở thành một ngày làm phước và một bài học về lòng biết ơn cho con trẻ.
Một gợi ý nhỏ
Lần tới thắp nhang trên bàn thờ gia tiên, bạn thử dừng lại vài hơi thở, nhớ một việc cụ thể ông bà hay cha mẹ đã làm cho mình, như kinh dạy “người ấy đã cho tôi, đã làm cho tôi” (Tiểu Tụng 7, kệ 10). Rồi tự hứa làm một việc thiện trong tuần, và hồi hướng đến các vị. Lòng hiếu kính khi ấy không chỉ là khói nhang, mà là việc làm.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Trường Bộ 31, Kinh Thi-ca-la-việt (Siṅgālaka Sutta), DN 31 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 5.39, Kinh Người Con (Putta Sutta), AN 5.39 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 4.61, Kinh Việc Làm Xứng Đáng (Pattakamma Sutta), AN 4.61 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 4.63, Kinh Có Phạm Thiên (Brahma Sutta), AN 4.63 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 2.33, trong nhóm kinh Tăng Chi Bộ 2.32–41, AN 2.32–41 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 10.177, Kinh Jāṇussoṇi, AN 10.177 trên SuttaCentral.
- Tiểu Tụng 7, Kinh Ngoài Bức Tường (Tirokuṭṭa Sutta), Khp 7 trên SuttaCentral.
- Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.