Tăng Chi Bộ 10.177 · AN 10.177

Kinh Jāṇussoṇi

Jāṇussoṇi Sutta

Còn gọi là: Kinh Jànussoni, Kinh Janussoni

Một vị Bà-la-môn hỏi: bố thí và cúng cho thân quyến đã mất, họ có nhận được không? Đức Phật đáp: đến được nếu đúng chỗ, không đến được nếu không đúng chỗ, và người bố thí thì không phải không có quả.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Bà-la-môn Jāṇussoṇi hỏi bố thí cúng cho thân quyến đã mất có lợi ích cho họ không (2.1–2.5). Đức Phật: có nếu “tương ưng xứ”, không có nếu không tương ưng xứ (2.6).
  • Người sinh ở địa ngục, bàng sanh, loài người, chư Thiên sống bằng món ăn của cõi ấy; ở cõi ngạ quỷ, chúng sanh còn sống nhờ những gì bạn bè, thân hữu, bà con hướng cúng cho họ (3–7).
  • Dù thân quyến không ở đó, người bố thí vẫn không phải không có quả (9.3, 10–17). Jāṇussoṇi xin quy ngưỡng làm cư sĩ trọn đời (19).

Kinh Jāṇussoṇi (Jāṇussoṇi Sutta) là kinh thứ mười một của phẩm Jāṇussoṇi trong Tăng Chi Bộ (Aṅguttara Nikāya), chương Mười Pháp; cuối kinh ghi Ekādasamaṁ, nghĩa là “thứ mười một”. Bà-la-môn Jāṇussoṇi đến gặp Đức Phật, chào hỏi rồi ngồi xuống một bên (đoạn 1). Kinh không nêu nơi Đức Phật đang ở.

Ông kể rằng Bà-la-môn cho bố thí và làm lễ cúng cho người chết, kèm lời nguyện “Mong rằng, bố thí này cho bà con huyết thống đã chết được lợi ích!”, rồi hỏi bố thí ấy có lợi ích cho họ không, họ có thọ hưởng không (đoạn 2.1–2.5). Đức Phật đáp: “nếu có tương ưng xứ, thời có lợi ích, không có lợi ích nếu không có tương ưng xứ” (đoạn 2.6).

Rồi Ngài nói từng chỗ tái sinh. Người sát sanh, lấy của không cho và phạm các điều bất thiện khác, có tà kiến, khi chết sinh vào địa ngục hay loài bàng sanh, sống bằng món ăn của cõi ấy; đó là “không tương ưng xứ” (đoạn 3–4). Người từ bỏ các điều ấy, có chánh kiến, sinh vào loài người hay chư Thiên, cũng sống bằng món ăn của cõi ấy, và cũng là không tương ưng xứ (đoạn 5–6). Chỉ ở cõi ngạ quỷ, nơi chúng sanh sống bằng món ăn của cõi ấy và bằng những gì bạn bè, thân hữu, bà con muốn hướng cúng cho họ, mới là tương ưng xứ (đoạn 7.3–7.4).

Jāṇussoṇi hỏi tiếp: nếu thân quyến của mình không sinh vào chỗ ấy thì ai thọ hưởng? Đức Phật đáp: các thân quyến khác đã sinh vào đó sẽ thọ hưởng (đoạn 8). Nếu cũng không ai? Ngài đáp rằng không có trường hợp chỗ ấy trống không suốt một thời gian dài, và “người bố thí không phải không có hưởng quả” (đoạn 9). Phần sau, Ngài nói người bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn thì sau khi chết người ấy tái sinh theo nghiệp của mình và ở đó được món ăn, đồ uống, vòng hoa, đồ trang sức hoặc năm dục công đức, tùy cõi (đoạn 10–17), và kết lại: “người bố thí này không phải không có kết quả” (đoạn 18).

Kinh không nhắc đến nghi thức cúng cụ thể nào, không nhắc đốt đồ, và không hứa rằng một buổi lễ có thể xóa nghiệp của người đã mất. Hai bài Hỏi đáp của Hoan Hỉ dùng kinh này: Hồi hướng công đức và Thờ cúng tổ tiên theo lời Phật dạy.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
ṭhāna · aṭṭhāna
tương ưng xứ · không tương ưng xứ (cách Minh Châu dịch): chỗ mà bố thí ấy có lợi ích cho người ở đó · chỗ mà bố thí ấy không có lợi ích
dāna
bố thí
saddha
lễ cúng cho người chết (cách Minh Châu dịch trong câu hỏi của Bà-la-môn)
peta
người đã chết; trong cụm pettivisaya là chúng sanh cõi ngạ quỷ
niraya · tiracchānayoni
địa ngục · loài bàng sanh (loài vật)
micchādiṭṭhi · sammādiṭṭhi
tà kiến · chánh kiến
kāmaguṇa
dục công đức: các món vừa ý của năm giác quan
dāyaka
người bố thí
anipphala
không phải không có quả (cách Minh Châu dịch: không phải không có hưởng quả, không phải không có kết quả)
parikappa
Minh Châu dịch “giả thuyết”; Sujato dịch động từ là “propose” (nêu ra)

Kinh Jāṇussoṇi

1.1–1.2Rồi Bà-la-môn Jànussoni đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn:Atha kho jāṇussoṇi brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho jāṇussoṇi brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:Then the brahmin Jānussoṇi went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha,

2.1–2.5—Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi Bà-la-môn, cho bố thí, làm các lễ cúng cho người chết. Mong rằng, bố thí này cho bà con huyết thống đã chết được lợi ích! Mong rằng các bà con huyết thống đã chết, thọ hưởng bố thí này! Thưa Tôn giả Gotama, bố thí có lợi ích gì cho các bà con huyết thống đã chết không? Các bà con huyết thống đã chết có được thọ hưởng bố thí ấy hay không?“Mayamassu, bho gotama, brāhmaṇā nāma. Dānāni dema, saddhāni karoma: ‘idaṁ dānaṁ petānaṁ ñātisālohitānaṁ upakappatu, idaṁ dānaṁ petā ñātisālohitā paribhuñjantū’ti. Kacci taṁ, bho gotama, dānaṁ petānaṁ ñātisālohitānaṁ upakappati; kacci te petā ñātisālohitā taṁ dānaṁ paribhuñjantī”ti?“We who are known as brahmins give gifts and perform memorial rites for the dead: ‘May this gift aid my departed relatives and kin. May they partake of this gift.’ But does this gift really aid departed relatives and kin? Do they actually partake of it?”

2.6—Này Bà-la-môn, nếu có tương ưng xứ, thời có lợi ích, không có lợi ích nếu không có tương ưng xứ.“Ṭhāne kho, brāhmaṇa, upakappati, no aṭṭhāne”ti.“It aids them if the conditions are right, brahmin, but not if the conditions are wrong.”

3.1—Thưa Tôn giả Gotama, thế nào là tương ưng xứ, thế nào là không tương ưng xứ?“Katamaṁ pana, bho gotama, ṭhānaṁ, katamaṁ aṭṭhānan”ti?“Then, worthy Gotama, what are the right and wrong conditions?”

3.2–3.5Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân, có tà kiến. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào địa ngục. Món ăn của chúng sanh ở địa ngục ăn, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ, trú ở nơi đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.“Idha, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātī hoti, adinnādāyī hoti, kāmesumicchācārī hoti, musāvādī hoti, pisuṇavāco hoti, pharusavāco hoti, samphappalāpī hoti, abhijjhālu hoti, byāpannacitto hoti, micchādiṭṭhiko hoti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā nirayaṁ upapajjati. Yo nerayikānaṁ sattānaṁ āhāro, tena so tattha yāpeti, tena so tattha tiṭṭhati. Idampi kho, brāhmaṇa, aṭṭhānaṁ yattha ṭhitassa taṁ dānaṁ na upakappati.“Brahmin, take someone who kills living creatures, steals, and commits sexual misconduct. They use speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical. And they’re covetous, malicious, with wrong view. When their body breaks up, after death, they’re reborn in hell. There they survive feeding on the food of the hell beings. The conditions there are wrong, so the gift does not aid the one who lives there.

4.1–4.4Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh… có tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh vào loại bàng sanh. Món ăn của chúng sanh ở bàng sanh ăn, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ; trú ở đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātī …pe… micchādiṭṭhiko hoti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā tiracchānayoniṁ upapajjati. Yo tiracchānayonikānaṁ sattānaṁ āhāro, tena so tattha yāpeti, tena so tattha tiṭṭhati. Idampi kho, brāhmaṇa, aṭṭhānaṁ yattha ṭhitassa taṁ dānaṁ na upakappati.Take someone else who kills living creatures … and has wrong view. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the animal realm. There they survive feeding on the food of the beings in the animal realm. The conditions there too are wrong, so the gift does not aid the one who lives there.

5.1–5.4Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham ái, không có tâm sân hận, có chánh kiến. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh cộng trú với loài Người. Món ăn của loài người như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātā paṭivirato hoti, adinnādānā paṭivirato hoti, kāmesumicchācārā paṭivirato hoti, musāvādā paṭivirato hoti, pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti, pharusāya vācāya paṭivirato hoti, samphappalāpā paṭivirato hoti, anabhijjhālu hoti, abyāpannacitto hoti, sammādiṭṭhiko hoti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā manussānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Yo manussānaṁ āhāro, tena so tattha yāpeti, tena so tattha tiṭṭhati. Idampi kho, brāhmaṇa, aṭṭhānaṁ yattha ṭhitassa taṁ dānaṁ na upakappati.Take someone else who doesn’t kill living creatures, steal, or commit sexual misconduct. They don’t use speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical. And they’re contented, kind-hearted, with right view. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the human realm. There they survive feeding on human food. The conditions there too are wrong, so the gift does not aid the one who lives there.

6.1–6.4Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh… có chánh kiến. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Thiên. Món ăn của chư Thiên như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn đây là không tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… sammādiṭṭhiko hoti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Yo devānaṁ āhāro, tena so tattha yāpeti, tena so tattha tiṭṭhati. Idampi, brāhmaṇa, aṭṭhānaṁ yattha ṭhitassa taṁ dānaṁ upakappati.Take someone else who doesn’t kill living creatures … and has right view. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the gods. There they survive feeding on the food of the gods. The conditions there too are wrong, so the gift does not aid the one who lives there.

7.1–7.4Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh… có tà kiến. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi ngạ quỷ. Món ăn của chúng sanh ngạ quỷ như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Món ăn nào các bạn bè , hoặc thân hữu, hoặc bà con, hoặc người cùng huyết thống từ đấy muốn hướng cúng cho vị ấy, tại đấy vị ấy sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy được lợi ích của bố thí ấy.Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātī hoti …pe… micchādiṭṭhiko hoti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā pettivisayaṁ upapajjati. Yo pettivesayikānaṁ sattānaṁ āhāro, tena so tattha yāpeti, tena so tattha tiṭṭhati, yaṁ vā panassa ito anuppavecchanti mittāmaccā vā ñātisālohitā vā, tena so tattha yāpeti, tena so tattha tiṭṭhati. Idaṁ kho, brāhmaṇa, ṭhānaṁ yattha ṭhitassa taṁ dānaṁ upakappatī”ti.Take someone else who kills living creatures … and has wrong view. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the ghost realm. There they survive feeding on the food of the beings in the ghost realm. Or else they survive feeding on what friends and colleagues, relatives and kin provide them with from here. The conditions there are right, so the gift aids the one who lives there.”

8.1Thưa Tôn giả Gotama, nếu bà con huyết thống ấy đã chết, không sanh vào chỗ ấy, thời ai hưởng bố thí ấy?“Sace pana, bho gotama, so peto ñātisālohito taṁ ṭhānaṁ anupapanno hoti, ko taṁ dānaṁ paribhuñjatī”ti?“But worthy Gotama, who partakes of that gift if the departed relative is not reborn in that place?”

8.2—Này Bà-la-môn, các bà con huyết thống khác đã chết, được sanh vào chỗ ấy, những người ấy được hưởng bố thí ấy.“Aññepissa, brāhmaṇa, petā ñātisālohitā taṁ ṭhānaṁ upapannā honti, te taṁ dānaṁ paribhuñjantī”ti.“Other departed relatives reborn there will partake of that gift.”

9.1—Thưa Tôn giả Gotama, nếu bà con huyết thống đã chết, không sanh vào chỗ ấy, và các bà con huyết thống khác cũng không sanh vào chỗ ấy, thời ai hưởng bố thí ấy?“Sace pana, bho gotama, so ceva peto ñātisālohito taṁ ṭhānaṁ anupapanno hoti aññepissa ñātisālohitā petā taṁ ṭhānaṁ anupapannā honti, ko taṁ dānaṁ paribhuñjatī”ti?“But who partakes of the gift when neither that relative nor other relatives have been reborn in that place?”

9.2–9.3—Không có trường hợp ấy, không có cơ hội ấy, này Bà-la-môn, rằng chỗ ấy có thể trống không trong một thời gian dài, không có người bà con huyết thống đã chết. Nhưng này Bà-la-môn, người bố thí không phải không có hưởng quả.“Aṭṭhānaṁ kho etaṁ, brāhmaṇa, anavakāso yaṁ taṁ ṭhānaṁ vivittaṁ assa iminā dīghena addhunā yadidaṁ petehi ñātisālohitehi. Api ca, brāhmaṇa, dāyakopi anipphalo”ti.“It’s impossible, brahmin, it cannot happen that that place is vacant of departed relatives in all this long time. It’s never fruitless for the donor.”

10.1—Có phải Tôn giả Gotama nói một giả thuyết không thể xảy ra?“Aṭṭhānepi bhavaṁ gotamo parikappaṁ vadatī”ti?“Does the worthy Gotama propose this even when the conditions are wrong?”

10.2–17.3—Này Bà-la-môn, Ta nói một giả thuyết không thể xảy ra. Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân tâm, có tà kiến. Người ấy bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn, các món ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, các giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với các loài voi. Tại đây, vị ấy được đồ ăn, đồ uống, vòng hoa, các loại trang sức khác. Vì rằng, ở đây, này Bà-la-môn, có sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân tâm, có tà kiến, do vậy người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với các loài voi. Vì rằng vị ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, các giường nằm, trú xứ, đèn đuốc; do vậy, tại đấy vị ấy được các món ăn, các đồ uống, vòng hoa, các đồ trang sức khác. Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân tâm, có tà kiến. Người ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn, các món ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh cộng trú với các loài ngựa… sanh cộng trú với các loài bò… Cộng trú với các loài gia cầm. Vị ấy tại đấy, được các món ăn, các đồ uống, vòng hoa, các đồ trang sức khác. Vì rằng, này Bà-la-môn, có sát sanh, có lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, có nói láo, có nói hai lưỡi, có nói lời độc ác, có nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân tâm, có tà kiến. Do vậy, sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh vào cộng trú với các loài gia cầm. Vì rằng vị ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn với các đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, các giường nằm, trú xứ, đèn đuốc, nên tại đấy vị ấy được đồ ăn, đồ uống, vòng hoa, các loại trang sức khác. Ở đây, này Bà-la-môn, có hạng người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, từ bỏ tham ái, từ bỏ sân tâm, có chánh kiến. Người ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các món ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với loài Người. Tại đấy, vị ấy được năm loại dục công đức sai khác, thuộc về loài Người. Vì rằng, này Bà-la-môn, vị ấy từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham ái, không có sân tâm, có chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh cộng trú với loài Người. Vì rằng vị ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, các trú xứ, đèn đuốc; do vậy, ở đấy vị ấy được năm dục công đức của loài Người. Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh… có chánh kiến, người ấy bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên. Vị ấy tại đấy được năm loại dục công đức của chư Thiên. Vì rằng ở đây có từ bỏ sát sanh… có chánh kiến, cho nên sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh cộng trú với chư Thiên. Vì rằng vị ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Do vậy, tại đấy vị ấy được năm dục công đức của chư Thiên. Như vậy, này Bà-la-môn, người bố thí không phải không có kết quả.“Aṭṭhānepi kho ahaṁ, brāhmaṇa, parikappaṁ vadāmi. Idha, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātī hoti, adinnādāyī hoti, kāmesumicchācārī hoti, musāvādī hoti, pisuṇavāco hoti, pharusavāco hoti, samphappalāpī hoti, abhijjhālu hoti, byāpannacitto hoti, micchādiṭṭhiko hoti; so dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hatthīnaṁ sahabyataṁ upapajjati. So tattha lābhī hoti annassa pānassa mālānānālaṅkārassa. Yaṁ kho, brāhmaṇa, idha pāṇātipātī adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhiko, tena so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hatthīnaṁ sahabyataṁ upapajjati. Yañca kho so dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ, tena so tattha lābhī hoti annassa pānassa mālānānālaṅkārassa. Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātī hoti …pe… micchādiṭṭhiko hoti. So dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā assānaṁ sahabyataṁ upapajjati …pe… gunnaṁ sahabyataṁ upapajjati …pe… kukkurānaṁ sahabyataṁ upapajjati. So tattha lābhī hoti annassa pānassa mālānānālaṅkārassa. Yaṁ kho, brāhmaṇa, idha pāṇātipātī …pe… micchādiṭṭhiko, tena so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā kukkurānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Yañca kho so dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ, tena so tattha lābhī hoti annassa pānassa mālānānālaṅkārassa. Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… sammādiṭṭhiko hoti. So dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā manussānaṁ sahabyataṁ upapajjati. So tattha lābhī hoti mānusakānaṁ pañcannaṁ kāmaguṇānaṁ. Yaṁ kho, brāhmaṇa, idha pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… sammādiṭṭhiko, tena so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā manussānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Yañca kho so dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ, tena so tattha lābhī hoti mānusakānaṁ pañcannaṁ kāmaguṇānaṁ. Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… sammādiṭṭhiko hoti. So dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. So tattha lābhī hoti dibbānaṁ pañcannaṁ kāmaguṇānaṁ. Yaṁ kho, brāhmaṇa, idha pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… sammādiṭṭhiko, tena so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Yañca kho so dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ, tena so tattha lābhī hoti dibbānaṁ pañcannaṁ kāmaguṇānaṁ. Api ca, brāhmaṇa, dāyakopi anipphalo”ti.“I propose this even when the conditions are wrong. Take someone who kills living creatures, steals, and commits sexual misconduct. They use speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical. And they’re covetous, malicious, with wrong view. They give to ascetics or brahmins such things as food, drink, clothing, vehicles; garlands, fragrance, and makeup; and bed, house, and lighting. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of elephants. There they get to have food and drink, garlands and various adornments. Since in this life they killed living creatures … and had wrong view, they were reborn in the company of elephants. Since they gave to ascetics or brahmins … they get to have food and drink, garlands and various adornments. Take someone else who kills living creatures … and has wrong view. They give to ascetics or brahmins … When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of horses. … cattle … dogs. There they get to have food and drink, garlands and various adornments. Since in this life they killed living creatures … and had wrong view, they were reborn in the company of dogs. Since they gave to ascetics or brahmins … they get to have food and drink, garlands and various adornments. Take someone else who doesn’t kill living creatures, steal, or commit sexual misconduct. They don’t use speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical. And they’re contented, kind-hearted, with right view. They give to ascetics or brahmins … When their body breaks up, after death, they’re reborn in the human realm. There they get to have the five kinds of human sensual stimulation. Since in this life they didn’t kill living creatures … and had right view, they were reborn in the company of humans. Since they gave to ascetics or brahmins … they get to have the five kinds of human sensual stimulation. Take someone else who doesn’t kill living creatures … and has right view. They give to ascetics or brahmins … When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the gods. There they get to have the five kinds of heavenly sensual stimulation. Since in this life they didn’t kill living creatures … and had right view, they were reborn in the company of the gods. Since they gave to ascetics or brahmins … they get to have the five kinds of heavenly sensual stimulation. It’s never fruitless for the donor.”

18.1–18.2Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama! Cho đến như thế này, thưa Tôn giả Gotama, là vừa đủ để bố thí, là vừa đủ để tổ chức các tín thí. Vì rằng, ở đấy, người bố thí không phải không có kết quả (như đã được nói).“Acchariyaṁ, bho gotama, abbhutaṁ, bho gotama. Yāvañcidaṁ, bho gotama, alameva dānāni dātuṁ, alaṁ saddhāni kātuṁ, yatra hi nāma dāyakopi anipphalo”ti.“It’s incredible, worthy Gotama, it’s amazing, This is quite enough to justify giving gifts and performing memorial rites for the dead, since it’s never fruitless for the donor.”

18.3—Như vậy, này Bà-la-môn, người bố thí này không phải không có kết quả.“Evametaṁ, brāhmaṇa, dāyakopi hi, brāhmaṇa, anipphalo”ti.“That’s so true, brahmin. It’s never fruitless for the donor.”

19.1–19.4—Thật kỳ diệu thay, Tôn giả Gotama… Xin Tôn giả Gotama hãy nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.“Abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama …pe… upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti. Ekādasamaṁ. Jāṇussoṇivaggo dutiyo.“Excellent, worthy Gotama! Excellent! … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”

Giải nghĩa ngắn

Chữ then chốt là “tương ưng xứ” (ṭhāna). Theo lời Đức Phật trong kinh, bố thí hướng đến người mất có lợi ích khi người ấy ở cõi ngạ quỷ; ở các cõi khác, chúng sanh sống bằng món ăn của chính cõi ấy (đoạn 3.5, 4.4, 5.4, 6.4, 7.4). Kinh dừng ở đó, không đi xa hơn.

Ví dụ đời thường để dễ hình dung (không phải lời kinh): gửi một bưu kiện phải đúng địa chỉ thì người nhận mới cầm được. Nhưng phần công sức và tấm lòng của người gửi thì không mất đi. Kinh nói điều thứ hai bằng lời: người bố thí không phải không có quả (đoạn 9.3, 17.3).

Ghi chú dịch: Minh Châu dịch aṭṭhānepi bhavaṁ gotamo parikappaṁ vadatī là “Có phải Tôn giả Gotama nói một giả thuyết không thể xảy ra?”; Sujato dịch “Does the worthy Gotama propose this even when the conditions are wrong?”. Hai bản hiểu khác nhau; bài này giữ lời Minh Châu và chỉ ghi lại như vậy.

Ghi chú đối chiếu bản Minh Châu với Pāli: (1) ở đoạn 7.1–7.4 bản Minh Châu in “từ bỏ sát sanh… có tà kiến”, trong khi Pāli ghi pāṇātipātī (người sát sanh). (2) Ở đoạn 12.5 và 13.1 Pāli ghi kukkura (chó), Sujato dịch “dogs”, còn bản Minh Châu in “gia cầm”. (3) Ở đoạn 6.4 bản Pāli Mahāsaṅgīti in aṭṭhānaṁ … upakappati, không có chữ “na” như các đoạn tương tự; Minh Châu và Sujato đều dịch là không có lợi ích. Trang giữ nguyên chữ của từng bản.

Kinh Jāṇussoṇi trả lời hai tầng: bố thí hướng đến người mất có lợi ích hay không là tùy chỗ họ đã tái sinh, còn người bố thí thì không phải không có quả.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 10.177 (Jāṇussoṇi Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 10.177 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp