Bố thí và phước

Bố thí là gì? Cho đi với tâm tốt theo lời kinh

Bố thí là cho đi với tâm tốt, không gượng ép và không làm hại người cho lẫn người nhận. Kinh nêu các cách cho của bậc chân nhân, quả nhìn thấy ngay trong đời này, và trường hợp cả người cho lẫn người nhận đều giữ giới. Bài này trình bày từng điểm ấy theo lời kinh, không hứa hẹn làm giàu nhờ bố thí.

Tóm lại: Bố thí là cho đi với tâm tốt. Kinh Bố Thí Của Bậc Chân Nhân nêu các cách cho gồm cho với lòng tin, cho với sự kính trọng, cho đúng thời, cho với tâm không gượng ép và cho mà không làm hại người cho lẫn người nhận (AN 5.148, đoạn 1.3). Quả của việc cho có thể thấy ngay trong đời này, và việc cho trở nên thanh tịnh khi cả người cho lẫn người nhận đều giữ giới.

Bố thí là gì theo Kinh Bố Thí Của Bậc Chân Nhân

Chữ dāna nghĩa là sự bố thí, và chữ puñña nghĩa là phước. Khi bạn hỏi bố thí là gì, kinh không đưa ra một định nghĩa ngắn gọn rồi dừng lại, mà kinh nêu rõ việc cho ấy diễn ra với tâm như thế nào. Tâm tốt ở đây không phải là một cảm xúc thoáng qua, mà là thái độ đi cùng hành động cho: cho với lòng tin, cho với sự kính trọng, cho đúng thời, cho với tâm không gượng ép và cho mà không làm hại người cho lẫn người nhận. Theo cách đọc của người viết, chính thái độ ấy làm nên giá trị của việc cho, chứ không phải số lượng vật cho.

Người viết xin nói rõ một điểm để bạn khỏi hiểu lầm. Kinh không dạy rằng cứ cho nhiều là phước nhiều, và kinh cũng không dạy rằng việc cho là một cách đổi chác để nhận lại lợi lộc. Việc cho được kinh nhắc đến luôn gắn với tâm của người cho và hoàn cảnh của việc cho. Bạn có thể cho một vật nhỏ với tâm trong sáng, và bạn cũng có thể cho một vật lớn với tâm gượng ép. Theo cách đọc của người viết, kinh muốn bạn nhìn vào tâm khi cho, trước khi nhìn vào vật được cho.

Năm cách cho của bậc chân nhân trong Kinh Bố Thí Của Bậc Chân Nhân

Kinh nhắc đến sappurisa, bậc chân nhân, qua các cách cho sau đây:

  • Cho với lòng tin, nghĩa là người cho tin vào giá trị của việc thiện và tin vào quả của việc cho.
  • Cho với sự kính trọng, nghĩa là người cho trân trọng người nhận và trân trọng việc cho, không cho với thái độ khinh thường.
  • Cho đúng thời, nghĩa là người cho cho vào lúc người nhận thật sự cần, và cho vật hợp với lúc ấy.
  • Cho với tâm không gượng ép, nghĩa là người cho cho vì muốn cho, không vì bị ép buộc, không vì muốn khoe khoang hay chạy theo tiếng khen.
  • Cho mà không làm hại người cho lẫn người nhận, nghĩa là việc cho không đẩy người cho vào cảnh túng thiếu và không gây hại cho người nhận.

Kinh nêu các cách cho ấy trong một câu như sau: “Bố thí có lòng tin, bố thí có kính trọng, bố thí đúng thời, bố thí với tâm không gượng ép, bố thí không làm thương tổn mình và người.” (AN 5.148:1.3; Pāli: Saddhāya dānaṁ deti, sakkaccaṁ dānaṁ deti, kālena dānaṁ deti, anuggahitacitto dānaṁ deti, attānañca parañca anupahacca dānaṁ deti) Theo cách đọc của người viết, năm cách này không phải là năm món quà khác nhau, mà là năm phẩm chất của cùng một việc cho. Một việc cho có thể hội đủ nhiều phẩm chất ấy cùng lúc, và việc cho càng trong sáng thì tâm người cho càng nhẹ nhàng sau khi cho.

Cho mà không làm hại người cho và người nhận theo Kinh Bố Thí Của Bậc Chân Nhân

Trong năm cách cho, cách cho mà không làm hại người cho lẫn người nhận cần được nói kỹ, vì nhiều người dễ hiểu lầm rằng cho càng nhiều, cho đến kiệt sức thì càng tốt. Kinh nói ngược lại: việc cho đúng là việc cho không làm thương tổn người cho và cũng không làm thương tổn người nhận. Theo cách đọc của người viết, cho đến mức nợ nần, kiệt sức hay bỏ bê trách nhiệm với gia đình thì không còn là việc cho trong sáng nữa, vì tâm sau khi cho sẽ nặng nề và bất an.

Về quả của cách cho này, kinh nêu như sau: “Và này các Tỷ-kheo, sau khi bố thí không làm thương tổn mình và người, chỗ nào, chỗ nào, quả dị thục của sự bố thí ấy đem lại kết quả: Người ấy được giàu sang, đại phú, tài sản sung mãn; và không một tai nạn nào từ đâu đến, đến với tài sản của người ấy, hoặc từ lửa, từ nước, từ vua, từ ăn trộm, từ các người thù địch hay từ các người thừa tự.” (AN 5.148:6.1–6.2; Pāli: Attānañca parañca anupahacca kho pana, bhikkhave, dānaṁ datvā yattha yattha tassa dānassa vipāko nibbattati, aḍḍho ca hoti mahaddhano mahābhogo; na cassa kutoci bhogānaṁ upaghāto āgacchati aggito vā udakato vā rājato vā corato vā appiyato vā dāyādato) Người viết xin nhấn mạnh rằng câu kinh nêu quả dị thục của cách cho không làm hại, chứ không phải là lời hứa rằng cứ bố thí là sẽ giàu. Quả dị thục là quả chín muồi theo từng cách cho, và kinh nêu quả ấy gắn với cách cho cụ thể là cho mà không làm hại. Bạn đọc câu kinh này như một lời mô tả về quả của việc cho đúng cách, không đọc thành một cam kết làm giàu.

Người cho và người nhận đều giữ giới theo Kinh Bốn Thanh Tịnh Thí Vật

Việc cho không chỉ xét từ phía người cho, mà kinh còn xét từ phía người nhận. Chữ sīla nghĩa là giới. Theo cách đọc của người viết, giới ở đây là những nguyên tắc sống lành mà người giữ giới tự nguyện giữ gìn. Kinh Bốn Thanh Tịnh Thí Vật đặt câu hỏi: việc cho trở nên thanh tịnh từ phía nào, từ người cho, từ người nhận, hay từ cả hai phía. Câu trả lời của kinh cho thấy việc cho có thể thanh tịnh trọn vẹn, và cũng có thể chỉ thanh tịnh một phía.

Trường hợp thanh tịnh trọn vẹn là khi cả người cho lẫn người nhận đều giữ giới và sống theo thiện pháp, như kinh nêu: “Ở đây này các Tỷ-kheo, người bố thí có giới, theo thiện pháp, và người nhận cũng có giới, theo thiện pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là bố thí, người cho thanh tịnh, và người nhận cũng thanh tịnh.” (AN 4.78:5.2–5.3; Pāli: Idha, bhikkhave, dāyako hoti sīlavā kalyāṇadhammo; paṭiggāhakāpi honti sīlavanto kalyāṇadhammā. Evaṁ kho, bhikkhave, dakkhiṇā dāyakato ceva visujjhati paṭiggāhakato ca) Theo cách đọc của người viết, đây là trường hợp người cho chọn đúng nơi nhận, và người nhận cũng sống xứng đáng với sự tin cậy ấy. Việc cho lúc này nhẹ nhàng cả hai phía, vì người cho an tâm và người nhận nhận với tâm trân trọng.

Trường hợp chỉ thanh tịnh một phía là khi người cho giữ giới và sống theo thiện pháp, nhưng người nhận lại sống trái với thiện pháp, như kinh nêu: “Ở đây, này các Tỷ-kheo, người cho có giới, theo thiện pháp, còn người nhận là ác giới, theo ác pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là bố thí thanh tịnh từ người cho, không thanh tịnh từ người nhận.” (AN 4.78:2.2–2.3; Pāli: Idha, bhikkhave, dāyako hoti sīlavā kalyāṇadhammo; paṭiggāhakā honti dussīlā pāpadhammā. Evaṁ kho, bhikkhave, dakkhiṇā dāyakato visujjhati, no paṭiggāhakato) Theo cách đọc của người viết, câu kinh này nói thẳng mà không nói thay lời cho ai: tâm tốt của người cho vẫn có giá trị của nó, nhưng việc cho không đạt sự thanh tịnh trọn vẹn vì phía người nhận chưa xứng. Bạn vì vậy nên chọn nơi nhận một cách tỉnh táo, mà không vì thế mà sinh tâm khinh thường người nhận.

Quả nhìn thấy ngay trong đời này theo Kinh Tướng Quân Sīha

Nhiều người hỏi bố thí được gì, và thường nghĩ đến quả ở đời sau. Kinh Tướng Quân Sīha trả lời bằng những quả nhìn thấy ngay trong đời này, gọi là quả thiết thực hiện tại. Quả thứ nhất là người biết cho được nhiều người ái mộ và ưa thích, như kinh nêu: “Người bố thí, này Sìha, người thí chủ được quần chúng ái mộ và ưa thích. Này Sìha, người bố thí, người thí chủ được quần chúng ái mộ và ưa thích, đây quả bố thí thiết thực hiện tại” (AN 5.34:2.2–2.3; Pāli: dāyako, sīha, dānapati bahuno janassa piyo hoti manāpo. Yampi, sīha, dāyako dānapati bahuno janassa piyo hoti manāpo, idampi sandiṭṭhikaṁ dānaphalaṁ) Theo cách đọc của người viết, quả này không phải là danh tiếng do người cho tìm kiếm, mà là sự quý mến tự nhiên sinh ra khi người khác thấy một người sống rộng rãi và đáng tin cậy.

Quả thứ hai là bậc thiện và bậc chân nhân đến gần người biết cho, như kinh nêu: “Lại nữa, này Sìha! Bậc thiện, bậc Chân nhân thân cận người bố thí, người thí chủ. Này Sìha, bậc Thiện, bậc Chân nhân, thân cận người bố thí, người thí chủ. Này Sìha, đây là quả bố thí thiết thực hiện tại.” (AN 5.34:3.1–3.2; Pāli: Puna caparaṁ, sīha, dāyakaṁ dānapatiṁ santo sappurisā bhajanti. Yampi, sīha, dāyakaṁ dānapatiṁ santo sappurisā bhajanti, idampi sandiṭṭhikaṁ dānaphalaṁ) Theo cách đọc của người viết, quả này có ý nghĩa thực tiễn rõ ràng: người biết cho thường sống trong vòng giao tiếp lành mạnh, vì người tốt muốn gần người tốt. Bạn có thể kiểm chứng điều này trong đời sống hằng ngày: một người hay giúp đỡ thường nhận được sự tin cậy và sự gần gũi của những người tử tế chung quanh, và đó chính là quả nhìn thấy ngay mà kinh nói đến.

Bạn cũng có thể đọc thêm về cách cân bằng giữa giữ gìn của cải và việc cho trong bài Tiết kiệm và bố thí, và về việc cho trong Kinh Bố Thí. Hai bài ấy giúp bạn đặt việc bố thí vào đời sống hằng ngày một cách vừa phải, không cực đoan.

Một ví dụ đời thường về việc cho mà không gượng ép

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh. Chị Lan là một người bán hàng nhỏ ở chợ, và chị thường dành một phần gạo trong nhà để giúp người hàng xóm neo đơn khi người ấy ốm đau. Chị không cho vì muốn được khen, và chị cũng không cho đến mức nhà chị thiếu ăn. Chị cho đúng lúc người hàng xóm cần, với thái độ kính trọng, và sau khi cho, tâm chị nhẹ nhàng vì chị biết việc cho ấy vừa sức với gia đình chị. Theo cách đọc của người viết, ví dụ này minh họa cho cách cho với tâm không gượng ép và cho mà không làm hại người cho: vật cho không lớn, nhưng tâm cho trong sáng và đúng thời.

Hỏi nhanh

Bố thí là gì?

Bố thí là cho đi với tâm tốt, gồm cho với lòng tin, cho với sự kính trọng, cho đúng thời, cho với tâm không gượng ép và cho mà không làm hại người cho lẫn người nhận (AN 5.148, đoạn 1.3).

Bố thí có mấy loại, hay có mấy cách cho?

Kinh không chia bố thí theo vật cho, mà nêu các cách cho của bậc chân nhân theo tâm khi cho. Bạn có thể xem các cách ấy trong câu kinh sau: “Bố thí có lòng tin, bố thí có kính trọng, bố thí đúng thời, bố thí với tâm không gượng ép, bố thí không làm thương tổn mình và người.” (AN 5.148:1.3; Pāli: Saddhāya dānaṁ deti, sakkaccaṁ dānaṁ deti, kālena dānaṁ deti, anuggahitacitto dānaṁ deti, attānañca parañca anupahacca dānaṁ deti)

Bố thí thế nào cho có phước?

Bạn cho với tâm tốt, cho đúng lúc người nhận cần, cho với sự kính trọng và không gượng ép, và cho trong khả năng của bản thân để việc cho không làm hại người cho lẫn người nhận. Phước ở đây là quả lành của việc cho đúng cách, không phải là một món hàng đổi chác.

Cho cho người không giữ giới thì việc cho ra sao?

Kinh nói trường hợp ấy chỉ thanh tịnh từ phía người cho, không thanh tịnh từ phía người nhận: “Ở đây, này các Tỷ-kheo, người cho có giới, theo thiện pháp, còn người nhận là ác giới, theo ác pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là bố thí thanh tịnh từ người cho, không thanh tịnh từ người nhận.” (AN 4.78:2.2–2.3; Pāli: Idha, bhikkhave, dāyako hoti sīlavā kalyāṇadhammo; paṭiggāhakā honti dussīlā pāpadhammā. Evaṁ kho, bhikkhave, dakkhiṇā dāyakato visujjhati, no paṭiggāhakato)

Bố thí có làm người cho giàu lên không?

Kinh nêu quả dị thục của cách cho không làm hại, trong đó có tài sản sung mãn và không bị tai nạn làm hại tài sản (AN 5.148, đoạn 6.1–6.2). Người viết không đọc câu ấy thành lời hứa rằng cứ cho là sẽ giàu, vì kinh gắn quả với cách cho cụ thể, không hứa hẹn chung chung.

Câu chốt: Bố thí có phước khi việc cho đi cùng tâm tốt, đúng thời và không làm hại người cho lẫn người nhận.

Biên soạn: Hoan Hỉ

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 5.148, Kinh Bố Thí Của Bậc Chân Nhân (Sappurisadāna Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, AN 5.148 trên SuttaCentral; bản Pāli AN 5.148 Pāli.
  2. Tăng Chi Bộ 4.78, Kinh Bốn Thanh Tịnh Thí Vật (Dakkhiṇā Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, AN 4.78 trên SuttaCentral; bản Pāli AN 4.78 Pāli.
  3. Tăng Chi Bộ 5.34, Kinh Tướng Quân Sīha (Sīhasenāpati Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, AN 5.34 trên SuttaCentral; bản Pāli AN 5.34 Pāli.
  4. Các câu trong ngoặc kép là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu, kèm câu Pāli gốc (bản Mahāsaṅgīti trên SuttaCentral) và số đoạn (segment) của bản Pāli ấy. Phần ngoài ngoặc kép là diễn giải của người viết; chỗ ghi “cách đọc của người viết” là suy luận. Số đoạn viết trong ngoặc đơn không kèm câu Pāli (ví dụ “đoạn 3.2–3.5”) là tóm ý, không phải trích nguyên văn. Nhân vật chị Lan trong ví dụ là ví dụ của người viết, không có trong kinh.

Bài kinh liên quan trên Hoan Hỉ

Đọc thêm