Có ma quỷ không: kinh Pāli nói gì
“Có ma không?” là câu hỏi ai cũng từng nghe, có khi từ thuở nhỏ. Kinh Pāli không né tránh câu hỏi ấy. Nhưng điều kinh muốn trao cho ta không phải là nỗi sợ, mà là lòng thương và một tâm vững vàng.
Kinh có nói đến ngạ quỷ
Khi Bà-la-môn Jāṇussoṇi hỏi việc bố thí cho người đã khuất có đến được với họ không, Đức Phật kể các nơi tái sinh: địa ngục, loài súc sinh, loài người, chư thiên, và cõi ngạ quỷ. Chỉ ở cõi ngạ quỷ, người đã khuất mới sống nhờ những gì bạn bè, bà con dành cho họ từ cõi này (AN 10.177, đoạn 7.1–7.4). Như vậy, ngạ quỷ trong kinh là một cảnh giới tái sinh như những cảnh giới khác: do nghiệp mà đến, và rồi cũng qua đi.
Kinh Ngoài Bức Tường vẽ lại hình ảnh ấy với nhiều thương cảm:
Ở bên ngoài bức tường,
Bọn họ đứng chờ đợi,
Giao lộ, ngã ba đường,
Trở về mái nhà xưa,
Đợi chờ bên cạnh cổng.Nhưng khi tiệc thịnh soạn,
Tiểu Tụng 7, kệ 1–2
Được bày biện sẵn sàng,
Đủ mọi thức uống ăn,
Không một ai nhớ họ.
Sự kiện này phát sinh
Từ nghiệp xưa của họ.
Chữ peta có nghĩa là người đã ra đi, nên cũng dùng để chỉ cha mẹ đã khuất, như trong Tăng Chi Bộ 5.39: cha mẹ mong có con, vì nghĩ khi mình qua đời, con sẽ làm việc bố thí hồi hướng (AN 5.39, đoạn 1.7). Tiểu Bộ còn có cả một tập Ngạ Quỷ Sự (Petavatthu) kể chuyện các ngạ quỷ. Giọng của kinh khi nói về họ là giọng của lòng thương, không phải để dọa.
Những chúng sinh khác: dạ-xoa
Trường Bộ 32, Kinh Āṭānāṭiya, kể bốn vị Đại Thiên Vương cùng đoàn tùy tùng đến yết kiến Đức Phật lúc đêm khuya. Đại Thiên Vương Tỳ-sa-môn (Vessavaṇa) thưa: trong hàng dạ-xoa, có vị tin kính Đức Thế Tôn, có vị không; phần đông không tin kính, vì Đức Thế Tôn dạy từ bỏ sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu, mà phần đông dạ-xoa không từ bỏ những điều ấy (DN 32, đoạn 2.1–2.12). Vì vậy ông xin Đức Thế Tôn nhận bài hộ trì Āṭānāṭiya, để các dạ-xoa ấy sinh lòng tin, và để các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, cận sự nam, cận sự nữ sống nơi rừng vắng được che chở, an ổn (đoạn 2.13–2.15), và Đức Phật dạy các Tỷ-kheo học thuộc bài ấy (đoạn 13.1–13.4).
Điều đáng để ý: trong kinh, dạ-xoa không phải thế lực tối thượng. Họ là chúng sinh trong luân hồi, có vị tốt, có vị xấu, có vị kính Phật, có vị không; và điều khiến nhiều vị khó chịu chính là năm giới. Bài hộ trì mở đầu bằng lời đảnh lễ bảy vị Phật (đoạn 3.2 trở đi), và sức che chở của nó gắn với lòng tin, với giới hạnh.
Tâm từ là nơi che chở
Kinh dạy cách sống an ổn giữa mọi chúng sinh, thấy hay không thấy, không bằng bùa chú mà bằng tâm. Tăng Chi Bộ 11.15 kể mười một lợi ích của tâm từ được tu tập vững chắc, trong đó có: ngủ an lành, thức dậy an lành, không thấy ác mộng, được loài người yêu mến, được các loài phi nhân yêu mến, chư thiên hộ trì (AN 11.15, đoạn 2.2). Theo chú giải Kinh Tập, Kinh Từ Bi được Đức Phật dạy cho một nhóm Tỷ-kheo đang hoảng sợ vì bị các vị thần cây trong rừng quấy nhiễu; các vị trở về rải tâm từ, và khu rừng trở nên yên ổn. Câu chuyện thuộc chú giải, còn lời dạy về tâm từ thì nằm ngay trong kinh. Bài Bùa hộ mệnh, đeo tượng Phật nói thêm về việc tìm sự che chở.
Với người thân đã khuất
Nhiều nỗi sợ “vong về” thật ra là nỗi nhớ và áy náy với người đã mất. Kinh Ngoài Bức Tường chỉ một cách làm vừa thương người mất vừa an lòng người sống: “‘Người ấy đã cho tôi, đã làm cho tôi, là bà con, bạn bè, thân hữu của tôi’: hãy dâng cúng dường hồi hướng cho người đã khuất, nhớ lại những gì họ đã làm cho mình trước kia” (Khp 7, kệ 10). Khóc lóc, sầu muộn không giúp gì cho người đã khuất, còn món cúng dường khéo đặt vào Tăng chúng thì đem lại lợi ích lâu dài cho họ (kệ 11–12). Đức Phật cũng nói với Jāṇussoṇi: dù người thân tái sinh nơi đâu, người bố thí không bao giờ không có quả (AN 10.177, đoạn 9.3).
Tháng bảy âm lịch, nhiều gia đình Việt cúng cô hồn. Người Phật tử có thể giữ phong tục ấy với lòng thương những chúng sinh đói khổ, và thêm vào đó những việc kinh dạy: bố thí, cúng dường chư Tăng, giữ giới, rồi hồi hướng. Các bài Hồi hướng công đức thế nào, Thờ cúng tổ tiên và Cúng 49 ngày hướng dẫn cụ thể.
Khi nỗi sợ khởi lên
Thử hình dung một cô sinh viên mới thuê phòng trọ, nghe hàng xóm kể phòng ấy “có vong”. Đêm đầu cô trằn trọc, nghe tiếng gió cũng giật mình. Đêm sau, trước khi ngủ, cô ngồi thẳng, đọc ba lần lời quy y, rồi rải tâm từ: mong mọi chúng sinh ở nơi này, thấy hay không thấy, đều được an vui. Cô không biết chắc có ai ở đó không, nhưng cô biết tâm mình đã thôi co rúm. Ngủ an lành là lợi ích đầu tiên kinh kể cho người có tâm từ.
Một gợi ý nhỏ
Tối nay, trước khi ngủ, bạn đọc chậm vài câu Kinh Từ Bi, rồi dành một phút gửi lời chúc an vui đến những người thân đã khuất và mọi chúng sinh quanh nơi mình ở.
Viết bởi Chánh Tín
Nguồn trích dẫn
- Tăng Chi Bộ 10.177, Kinh Jāṇussoṇi, AN 10.177 trên SuttaCentral.
- Tiểu Tụng 7, Kinh Ngoài Bức Tường (Tirokuṭṭa Sutta), Khp 7 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 5.39, Kinh Người Con (Putta Sutta), AN 5.39 trên SuttaCentral.
- Trường Bộ 32, Kinh Āṭānāṭiya, DN 32 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 11.15, Kinh Lợi Ích Của Tâm Từ (Mettā Sutta), AN 11.15 trên SuttaCentral.
- Kinh Tập 1.8, Kinh Từ Bi, Snp 1.8 trên SuttaCentral; duyên khởi của kinh theo chú giải Kinh Tập.
- Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.