Nhân vật, nơi chốn

Tỷ-kheo-ni Khê-ma và Liên Hoa Sắc: trí tuệ và thần thông bậc nhất

Một vị vua đến hỏi một vị Tỷ-kheo-ni câu hỏi khó nhất về Như Lai, rồi đem chính câu ấy hỏi Đức Phật. Câu trả lời của hai Thầy trò khớp nhau đến từng chữ.

Tóm lại: Tỷ-kheo-ni Khê-ma (Khemā) là bậc nhất về trí tuệ, Tỷ-kheo-ni Liên Hoa Sắc (Uppalavaṇṇā) là bậc nhất về thần thông trong hàng Ni (AN 1.236–237). Đức Phật gọi hai vị là cán cân, thước đo cho mọi Tỷ-kheo-ni (AN 4.176). Khê-ma giảng cho vua Ba-tư-nặc về Như Lai sau khi chết đúng như lời Đức Phật (SN 44.1); Liên Hoa Sắc đứng một mình dưới gốc cây mà không sợ Ma vương (SN 5.5).

Hai vị được lấy làm thước đo

Trong phẩm Bậc Nhất của Tăng Chi Bộ, khi kể các nữ đệ tử xuất gia xuất sắc, Đức Phật nêu tên Tỷ-kheo-ni Khê-ma là bậc nhất về đại trí tuệ, và Tỷ-kheo-ni Liên Hoa Sắc là bậc nhất về thần thông (AN 1.236, 1.237). Tăng Chi Bộ 4.176 còn đi xa hơn: Đức Phật dạy một vị Tỷ-kheo-ni có lòng tin, khi ước nguyện đúng đắn, nên ước nguyện như sau:

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni có lòng tin, nếu chơn chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau: “Mong ta sẽ được như Khema và Tỷ-kheo-ni Uppalavannà”. Này các Tỷ-kheo, họ là cán cân, là đồ để đo lường các đệ tử Tỷ-kheo-ni của ta, tức là Khema và Uppalavannà.

Tăng Chi Bộ 4.176, đoạn 2.1–2.3

Bên Tăng, hai vị được nêu tương ứng là Ngài Xá-lợi-phất và Ngài Mục-kiền-liên, một vị trí tuệ, một vị thần thông. Bên Ni, đó là Khê-ma và Liên Hoa Sắc. Bạn có thể đọc thêm về sự thành lập Ni đoàn trong bài Đại Ái Đạo và Ni đoàn.

Khê-ma: từ niềm kiêu hãnh về sắc đẹp đến trí tuệ

Theo chú giải Tăng Chi Bộ, Khê-ma sinh trong hoàng tộc xứ Madda. Theo chú giải Pháp Cú, bà là chánh hậu của vua Tần-bà-sa-la (Bimbisāra) ở Vương Xá, rất tự hào về sắc đẹp của mình và không muốn đến gặp Đức Phật, vì nghe nói Ngài hay chê sắc đẹp. Nhà vua cho người hát những bài ca khen vẻ đẹp của tinh xá Trúc Lâm, nhờ vậy bà đến. Chú giải kể Đức Phật dùng thần thông hóa hiện một thiếu nữ xinh đẹp đứng quạt hầu bên cạnh, rồi để hoàng hậu tận mắt thấy cô gái ấy già đi, chỉ còn lại xương. Khi tâm bà đã lắng xuống, Đức Phật nói bài kệ:

Người đắm say ái dục
Tự lao mình xuống dòng
Như nhện sa lưới dệt.
Người trí cắt trừ nó,
Bỏ mọi khổ, không màng.

Pháp Cú 347

Theo chú giải, cuối bài kệ bà chứng quả A-la-hán, rồi được nhà vua cho phép xuất gia. Kinh tạng không kể chuyện này, nhưng giữ lại lời của chính Ngài trong Trưởng Lão Ni Kệ (Thig 6.3).

Trong Trưởng Lão Ni Kệ còn có một cuộc đối đáp với Ma vương. Một kẻ tự xưng là chàng trai trẻ mời gọi: “Nàng trẻ đẹp, ta cũng trẻ; hãy đến đây, Khê-ma, ta cùng vui với tiếng nhạc năm loại nhạc cụ” (kệ 1). Ngài đáp rằng thân này mục rã, bệnh tật, dễ vỡ, ái dục đã được nhổ tận gốc (kệ 2), và cuối cùng gọi thẳng kẻ ấy là Ác ma (kệ 4):

Dục ví như gươm giáo,
Các uẩn đoạn đầu đài,
Điều người nói dục lạc,
Nay ta đã xa lìa.

Trưởng Lão Ni Kệ 6.3, kệ 3

Hình ảnh “dục như gươm giáo” cũng có trong Kinh Ví Dụ Con Rắn (MN 22). Ngài cũng nói về quá khứ của mình: thờ lạy các vì sao, thờ lửa trong rừng, không thấy sự thật mà tưởng đó là thanh tịnh; nay lễ kính bậc Chánh Giác, làm theo lời dạy của bậc Đạo Sư mà thoát mọi khổ đau (Thig 6.3, kệ 5–6).

Câu hỏi của vua Ba-tư-nặc

Tương Ưng Bộ 44.1 kể: vua Ba-tư-nặc (Pasenadi) xứ Kosala, trên đường từ Sāketa về Sāvatthī, nghỉ một đêm ở Toraṇavatthu và hỏi có vị Sa-môn nào để đến thăm. Người ta thưa có Tỷ-kheo-ni Khê-ma, đệ tử của Đức Phật, một vị trí tuệ, biện tài, học rộng. Nhà vua hỏi Ngài bốn câu: Như Lai sau khi chết còn, không còn, vừa còn vừa không còn, hay không phải còn cũng không phải không còn? Cả bốn câu, Ngài đều đáp: điều này Đức Thế Tôn không tuyên bố (đoạn 4.2–4.13).

Rồi Ngài hỏi lại nhà vua: đại vương có người kế toán nào đếm được số hạt cát sông Hằng, hay đong được nước biển cả không? Nhà vua đáp không, vì biển sâu, không đo lường được, khó dò đến đáy. Ngài nói:

—Thưa Nữ Tôn giả, vì rằng biển lớn thâm sâu, vô lường, khó dò đến đáy. —Cũng vậy, thưa Đại vương, nếu có người muốn định nghĩa Như Lai ngang qua sắc thân (rupeena), nhưng sắc thân ấy, Như Lai đã đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; được giải thoát khỏi sự ước lượng của sắc thân.

Tương Ưng Bộ 44.1, đoạn 6.11–6.13

Ngài giảng tiếp như vậy với thọ, tưởng, hành, thức. Về sau nhà vua đến hỏi Đức Phật cùng câu ấy và nhận được câu trả lời giống hệt. Vua thốt lên: “Thật hy hữu, bạch Thế Tôn! Nghĩa với nghĩa, chữ với chữ của bậc Đạo Sư và của nữ đệ tử đều khớp nhau, không trái nhau, ngay ở điều tối thượng” (đoạn 13.1–13.4). Đó là lời chứng của một vị vua cho trí tuệ của một vị Ni. Muốn hiểu vì sao không thể nắm lấy năm uẩn như là “ta”, bạn có thể đọc Kinh Vô Ngã Tướng (SN 22.59).

Liên Hoa Sắc: người con gái màu sen xanh

Theo chú giải Tăng Chi Bộ, Liên Hoa Sắc sinh trong một gia đình trưởng giả ở Sāvatthī, nước da có màu như hoa sen xanh, nên được gọi tên như vậy. Vua chúa và thương gia khắp nơi đều gửi lời cầu hôn. Người cha không muốn làm mất lòng ai, nên hỏi con gái có muốn xuất gia không, và cô vui vẻ nhận lời. Chú giải kể thêm: một hôm đến phiên cô thắp đèn trong giảng đường Bố-tát, cô lấy ngọn lửa đèn làm đề mục, chứng thiền với đề mục lửa, rồi chứng quả A-la-hán, thành thạo các thần thông.

Trưởng Lão Ni Kệ giữ lời của chính Ngài: “Thấy hiểm họa trong các dục, thấy sự xuất ly là chốn an ổn, tôi đã xuất gia tại Vương Xá, từ bỏ gia đình sống không gia đình.” Ngài kể đã biết các đời trước, có thiên nhãn, tha tâm thông, thiên nhĩ thông, thần thông, đã đoạn tận lậu hoặc, chứng sáu thắng trí và làm xong lời dạy của Đức Phật (Thig 11.1, kệ 3–5).

Kinh tạng giữ một cảnh cho thấy thần thông ấy dùng để làm gì. Tương Ưng Bộ 5.5 kể Ngài đứng dưới một cây sāla đang nở hoa. Ma vương muốn làm Ngài sợ hãi, rời khỏi định, nên nói: “Nàng đứng một mình dưới gốc cây, sắc đẹp không ai bằng; cô gái dại, nàng không sợ bọn côn đồ sao?” (đoạn 2.1–2.4). Ngài nhận ra đó là Ma và đáp:

Trăm ngàn người cám dỗ,
Có đến đây như Ông,
Mảy lông ta không động,
Ta không gì sợ hãi.
Ác ma, ta không sợ,
Ta đứng đây một mình,
Ta có thể biến mất,
Hay vào bụng các Ông.
Ta đứng giữa hàng mi,
Ông không thấy ta được.
Với tâm khéo khiếp phục,
Thần túc khéo tu trì,
Ta thoát mọi trói buộc,
Ta đâu có sợ Ông?
Này Hiền giả Ác ma!

Tương Ưng Bộ 5.5, đoạn 4.1–6.4

Ma vương biết mình đã bị nhận ra, buồn bã biến mất (đoạn 7.1). Điều đáng chú ý là chỗ dựa của Ngài: không phải sức mạnh bên ngoài mà là một cái tâm đã được làm chủ. Cuộc đối đáp này cũng có trong tập kệ mang tên Ngài ở Trưởng Lão Ni Kệ: lời Ma vương ở kệ 7, lời Ngài đáp ở kệ 8–10 (Thig 11.1). Hai kệ kết của tập ấy (kệ 11–12) trùng với lời Khê-ma đáp Ma vương (Thig 6.3, kệ 3–4).

Bài học cho người hôm nay

Một vị có sắc đẹp được cả kinh thành ca ngợi, một vị có sắc đẹp khiến vua chúa cầu hôn. Cả hai đều thấy rõ sắc đẹp không phải là chỗ nương tựa. Bạn thử nhớ lại lần gần nhất mình buồn vì một nếp nhăn mới, hay vui vì một lời khen về ngoại hình. Không có gì sai khi chăm sóc thân thể. Nhưng nếu niềm an ổn của mình đặt hết vào đó, thì như lời Khê-ma, đó là con nhện tự mắc vào lưới mình giăng.

Một gợi ý nhỏ

Lần tới khi đứng trước gương, hãy dừng lại ba hơi thở và tự nhắc: thân này đang thay đổi, như mọi thân khác. Rồi tự hỏi một câu theo tinh thần của Liên Hoa Sắc: hôm nay mình đã làm chủ tâm mình được bao nhiêu? Câu hỏi ấy đáng giá hơn mọi lời khen.

Viết bởi Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 1.236–237, phẩm Bậc Nhất, AN 1.235–247 trên SuttaCentral.
  2. Tăng Chi Bộ 4.176, Kinh Ước Nguyện, AN 4.176 trên SuttaCentral.
  3. Tương Ưng Bộ 44.1, Kinh Khemā, SN 44.1 trên SuttaCentral.
  4. Tương Ưng Bộ 5.5, Kinh Uppalavaṇṇā, SN 5.5 trên SuttaCentral.
  5. Trưởng Lão Ni Kệ 6.3, kệ của Trưởng lão Ni Khemā, Thig 6.3 trên SuttaCentral.
  6. Trưởng Lão Ni Kệ 11.1, kệ của Trưởng lão Ni Uppalavaṇṇā, Thig 11.1 trên SuttaCentral.
  7. Pháp Cú 347, Dhp 334–359 trên SuttaCentral.
  8. Chuyện hoàng hậu Khê-ma và hình ảnh thiếu nữ do Đức Phật hóa hiện già đi: theo chú giải Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), tích truyện kệ 347.
  9. Quê quán của Khê-ma, thân thế và đề mục lửa của Uppalavaṇṇā: theo chú giải Tăng Chi Bộ (Manorathapūraṇī).
  10. Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral; các bài thuộc Tiểu Bộ theo bản trên BuddhaSasana, budsas.org), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  11. Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.

Tích truyện của bài kệ

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói bài kệ, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), không phải lời kinh gốc.

Đọc nguyên văn bài kinh