Bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề và sự ra đời của Ni đoàn
Người phụ nữ đã nuôi Đức Phật từ thuở ấu thơ cũng là người mở cánh cửa xuất gia cho phụ nữ. Luật tạng kể lại câu chuyện ấy khá chi tiết, kể cả những đoạn người đọc hôm nay cần đọc chậm và đọc đủ.
Người mẹ thứ hai
Trung Bộ 142 ghi lời Tôn giả A-nan (Ānanda) thưa với Đức Phật: bà Mahāpajāpatī là dì của Thế Tôn, đã nuôi nấng, chăm sóc, cho Thế Tôn bú; khi mẹ ruột của Thế Tôn qua đời, chính bà cho Ngài bú bằng sữa của mình (MN 142, đoạn 3.3–3.4). Theo chú giải Tăng Chi Bộ, bà là em gái của hoàng hậu Māyā; khi hoàng hậu mất bảy ngày sau khi sinh Bồ-tát, vua Tịnh Phạn (Suddhodana) lập bà làm hoàng hậu, và bà giao con ruột của mình là Nanda cho các nhũ mẫu để tự tay nuôi Bồ-tát.
Cũng trong Trung Bộ 142, bà tự tay kéo sợi, dệt một đôi tấm vải dâng Đức Phật. Đức Phật nói: “Này Gotamī, hãy dâng cho Tăng chúng. Khi dâng cho Tăng chúng, cả Ta và Tăng chúng đều được tôn kính” (đoạn 2.1–2.6). Đây không phải lời từ chối, mà là một cách mở rộng tấm lòng của người mẹ ra cho cả cộng đồng.
Ba lần thưa thỉnh ở Ca-tỳ-la-vệ
Luật tạng, Tiểu Phẩm, chương Tỷ-kheo-ni, mở đầu: khi Đức Phật ở tu viện Cây Đa (Nigrodhārāma) gần Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu), bà đến thưa: “Bạch Thế Tôn, lành thay nếu phụ nữ được xuất gia trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết.” Đức Phật đáp: “Thôi, Gotamī, chớ ưa thích việc phụ nữ xuất gia.” Ba lần thưa, ba lần nhận cùng một câu trả lời; bà buồn khổ, nước mắt đầm đìa, đảnh lễ rồi ra về (Kd 20, đoạn 1.1.1–1.1.12; AN 8.51, đoạn 1.1–4.1). Theo chú giải, khi ấy vua Tịnh Phạn đã qua đời, và cùng đi với bà có nhiều phụ nữ Sakya có chồng đã theo Đức Phật xuất gia.
Đôi chân sưng trước cổng Tỳ-xá-ly
Khi Đức Phật đến Tỳ-xá-ly (Vesālī), ở giảng đường Trùng Các trong Đại Lâm, bà tự cạo tóc, đắp y vàng, cùng nhiều phụ nữ Sakya đi bộ theo. Bà đứng ngoài cổng, chân sưng, người phủ bụi, buồn khổ, nước mắt đầm đìa (Kd 20, đoạn 1.2.1–1.2.6). Tôn giả A-nan thấy, hỏi chuyện, rồi vào thưa với Đức Phật ba lần, đều chưa được chấp thuận. Tôn giả liền hỏi theo cách khác:
- “Bạch ngài, người nữ sau khi xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố, có khả năng chứng ngộ quả vị Nhập Lưu, hoặc quả vị Nhất Lai, hoặc quả vị Bất Lai, hoặc phẩm vị A-la-hán hay không?” - “Này Ānanda, người nữ sau khi xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố, có khả năng chứng ngộ quả vị Nhập Lưu, quả vị Nhất Lai, quả vị Bất Lai, luôn cả phẩm vị A-la-hán.”
Luật tạng, Tiểu Phẩm, Kd 20, đoạn 1.3.15–1.3.16
Tôn giả nhắc thêm công ơn của bà, người dì đã nuôi nấng và cho Thế Tôn bú (đoạn 1.3.17–1.3.19). Về sau, trong lần kết tập thứ nhất, các vị trưởng lão cho rằng việc Tôn giả thưa thỉnh cho phụ nữ xuất gia là một lỗi tác ác. Tôn giả nói mình làm vậy vì bà là người dì đã nuôi dưỡng Đức Phật, tự mình không thấy đó là lỗi, nhưng vì lòng tin nơi chư trưởng lão nên xin sám hối (Kd 21, đoạn 1.10.20–1.10.22). Bài Ngài A-nan là ai kể thêm về tấm lòng ấy.
Tám kính pháp, đúng như văn bản
Đức Phật dạy: nếu bà Mahāpajāpatī nhận tám kính pháp (garudhamma), đó sẽ là lễ thọ đại giới của bà (đoạn 1.4.1–1.4.2). Tám điều ấy là:
- Tỷ-kheo-ni dù đã thọ đại giới trăm năm cũng phải đảnh lễ, đứng dậy, chắp tay, làm các việc cung kính đối với Tỷ-kheo vừa thọ đại giới trong ngày.
- Tỷ-kheo-ni không được an cư mùa mưa ở trú xứ không có Tỷ-kheo.
- Mỗi nửa tháng, Tỷ-kheo-ni cầu hai điều nơi Tăng Tỷ-kheo: hỏi ngày Bố-tát và đến nghe giáo giới.
- An cư xong, Tỷ-kheo-ni làm lễ Tự tứ trước cả hai Tăng về ba điều: điều được thấy, được nghe, hay bị nghi.
- Tỷ-kheo-ni phạm trọng tội phải hành pháp sám hối nửa tháng trước cả hai Tăng.
- Vị Thức-xoa-ma-na đã học sáu pháp trong hai năm thì cầu thọ đại giới trước cả hai Tăng.
- Tỷ-kheo-ni không được mắng nhiếc, chê bai Tỷ-kheo bằng bất cứ cách nào.
- Từ nay, Tỷ-kheo-ni không được mở lời khiển trách Tỷ-kheo; Tỷ-kheo được khiển trách Tỷ-kheo-ni.
Mỗi điều đều được nói là phải tôn trọng, kính trọng suốt đời, không được vượt qua (đoạn 1.4.3–1.4.20). Tôn giả A-nan báo lại, và bà đáp: “Như một thiếu nữ hay thiếu niên ưa trang sức, vừa gội đầu xong, nhận được một vòng hoa sen xanh, hoa lài hay hoa atimuttaka, liền đưa hai tay đón lấy và đặt lên đầu; cũng vậy, tôi xin nhận tám kính pháp này, suốt đời không vượt qua” (đoạn 1.5.22–1.5.23).
Sau khi bà nhận tám kính pháp, Luật tạng ghi lời Đức Phật nói với Tôn giả A-nan: nếu phụ nữ không được xuất gia thì phạm hạnh sẽ tồn tại lâu, Chánh pháp có thể tồn tại một nghìn năm; nay phụ nữ đã xuất gia, Chánh pháp sẽ chỉ tồn tại năm trăm năm. Văn bản nêu ba ví dụ: những nhà nhiều nữ ít nam dễ bị trộm cướp; ruộng lúa đang tốt gặp bệnh nấm trắng; ruộng mía đang tốt gặp bệnh thối đỏ. Rồi đến ví dụ cuối, cũng là cách chính văn bản giải thích tám kính pháp: như người đắp bờ quanh một hồ nước lớn từ trước, để nước khỏi tràn, Đức Phật đã chế tám kính pháp từ trước, như một sự phòng hộ, suốt đời không được vượt qua (đoạn 1.6.4–1.6.14). Người đọc hôm nay có thể thấy đoạn này khó, và các truyền thống cũng như các nhà nghiên cứu đã đọc nó theo nhiều cách. Ở đây chúng tôi chỉ ghi lại đúng điều văn bản nói, đúng khung văn bản tự đặt ra, và đặt cạnh những điều chính văn bản ấy khẳng định: phụ nữ có đủ khả năng chứng bốn quả Thánh (đoạn 1.3.16), và Ni đoàn ấy đã có những bậc A-la-hán mà Đức Phật nêu làm khuôn mẫu cho mọi Tỷ-kheo-ni (AN 4.176), như bài Khê-ma và Liên Hoa Sắc kể.
Vị Tỷ-kheo-ni đầu tiên
Khi Đức Phật cho phép các Tỷ-kheo truyền đại giới cho các vị Ni, có vị nói với bà: chúng tôi đã thọ đại giới, còn bà thì chưa. Đức Phật xác nhận: bà Mahāpajāpatī đã thọ đại giới ngay khi nhận tám kính pháp (Kd 20, đoạn 2.1.1–2.2.15). Một lần, bà xin một lời dạy ngắn để sống độc cư tinh tấn. Đức Phật dạy:
- “Và này Gotamī, các Pháp nào mà bà có thể biết rằng các pháp này đưa đến tham ái mà không đưa đến sự xa lìa tham ái, đưa đến sự ràng buộc mà không đưa đến sự thoát khỏi ràng buộc, đưa đến sự tích lũy mà không đưa đến sự không tích lũy, đưa đến sự ham muốn nhiều mà không đưa đến sự ham muốn ít, đưa đến sự bực bội mà không đưa đến sự hoan hỷ, đưa đến sự tụ hội mà không đưa đến sự đơn độc, đưa đến sự biếng nhác mà không đưa đến sự khởi công tinh tấn, đưa đến sự khó nuôi dưỡng mà không đưa đến sự dễ nuôi dưỡng; này Gotamī, bà có thể xác định dứt khoát rằng: ‘Điều này không phải là Pháp, điều này không phải là Luật, điều này không phải là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư.’
Luật tạng, Tiểu Phẩm, Kd 20, đoạn 5.1.4–5.1.7
Tăng Chi Bộ ghi bà là bậc nhất về thâm niên trong hàng Tỷ-kheo-ni (AN 1.235). Trong Trưởng Lão Ni Kệ, bà nói: “Mọi khổ đã được hiểu rõ, ái là nhân đã khô cạn, con đường tám chi phần đã tu tập, sự diệt khổ đã được tôi chạm đến” (Thig 6.6, kệ 2). Và bà kết: “Thật vì lợi ích của nhiều người mà bà Māyā đã sinh ra Gotama” (kệ 6). Người mẹ nuôi nói lời tri ân người mẹ ruột.
Một gợi ý nhỏ
Có lẽ trong đời bạn cũng có một “người mẹ thứ hai”: một người dì, một cô giáo, một chị hàng xóm đã chăm sóc bạn. Tuần này, hãy gọi điện hay đến thăm người ấy. Và khi phải chọn giữa hai việc, bạn có thể dùng tám cặp tiêu chuẩn Đức Phật dạy bà Gotamī: việc nào đưa đến ít muốn, biết đủ, tinh tấn, nhẹ nhàng, thì đó là hướng đi đúng. Bài Đức Phật về Ca-tỳ-la-vệ kể thêm về gia đình của Ngài.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Luật tạng, Tiểu Phẩm, chương Tỷ-kheo-ni, Kd 20 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 8.51, Kinh Gotamī, AN 8.51 trên SuttaCentral.
- Trung Bộ 142, Kinh Phân Biệt Cúng Dường, MN 142 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 1.235, phẩm Bậc Nhất, AN 1.235–247 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 4.176, AN 4.176 trên SuttaCentral.
- Trưởng Lão Ni Kệ 6.6, kệ của Trưởng lão Ni Mahāpajāpatī Gotamī, Thig 6.6 trên SuttaCentral.
- Luật tạng, Tiểu Phẩm, chương Kết tập năm trăm vị, Kd 21 trên SuttaCentral.
- Thân thế của bà Mahāpajāpatī và bối cảnh lần xin xuất gia: theo chú giải Tăng Chi Bộ (Manorathapūraṇī).
- Các đoạn trích do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.
- Các đoạn Luật tạng trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của Tỳ khưu Indacanda (Tam Tạng Pāli - Việt, tamtangpaliviet.net), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.