Hiểu đúng

Niết-bàn có phải là hư vô không

Chữ Niết-bàn gợi đến sự “tắt”, và kinh hay mô tả nó bằng những chữ “không”. Vì vậy có người nghĩ mục tiêu của đạo Phật là biến mất. Kinh Pāli nói khác, và nói rất rõ.

Tóm lại: Niết-bàn không phải hư vô. Kinh nói: “Có cái không sinh, không thành, không bị tạo tác, không bị duyên tạo” (Ud 8.3), và định nghĩa Niết-bàn là sự đoạn tận tham, sân, si (SN 43.1, SN 38.1). Chữ “tắt” trong Niết-bàn là tắt lửa phiền não, không phải xóa một con người. Hỏi bậc A-la-hán sau khi chết đi đâu giống như hỏi ngọn lửa đã tắt đi về hướng nào (MN 72). Cho rằng bậc A-la-hán chết là bị hủy diệt là tà kiến (SN 22.85).

Vì sao có người nghĩ Niết-bàn là hư vô

Chữ Pāli nibbāna gắn với hình ảnh lửa tắt; chính Trung Bộ 72 dùng chữ nibbuto cho ngọn lửa đã tắt (MN 72, đoạn 19.12). Kinh Châu Báu cũng nói: “các bậc trí tắt đi như ngọn đèn này” (Snp 2.1, kệ 15). Nghe chữ “tắt”, người ta dễ nghĩ đến bóng tối, đến chỗ không còn gì. Kinh lại hay mô tả Niết-bàn bằng những chữ phủ định, nên có người hiểu lầm rằng mục tiêu của đạo Phật là tự hủy. Bài Niết-bàn là gì đã giới thiệu định nghĩa; bài này đi riêng vào hiểu lầm “hư vô”.

Kinh nói “có”

- Này các Tỷ-kheo, có sự không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, này các Tỷ-kheo, nếu không có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, thì ở đây không thể trình bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, nên có trình bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi.

Phật Tự Thuyết 8.3, đoạn 3.1–3.3

Phật Tự Thuyết 8.1 mô tả theo lối phủ định: “Này các Tỷ-kheo, có xứ ấy, nơi không có đất, không có nước, không có lửa, không có gió… không có đời này, không có đời sau, không có mặt trăng và mặt trời. Ở đó, Ta nói không có đến, không có đi, không có đứng lại, không có chết, không có tái sinh… Chính đó là sự chấm dứt khổ” (Ud 8.1, đoạn 3.1–3.4). Những chữ “không” ấy gạt đi mọi thứ thuộc thế gian có điều kiện, chứ không nói rằng chẳng có gì. Câu mở đầu là chữ “có” (atthi).

Niết-bàn chứng được ngay trong đời này

Tương Ưng Bộ 43.1 định nghĩa rất đơn giản: “Này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp vô vi? Sự đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si: đó gọi là pháp vô vi” (SN 43.1, đoạn 1.4–1.6). Khi du sĩ Jambukhādaka hỏi Ngài Xá-lợi-phất (Sāriputta) Niết-bàn là gì, Ngài cũng đáp đúng như vậy (SN 38.1, đoạn 2.1–2.4). Các bài kinh khác trong Tương Ưng Bộ 43 gọi điều ấy bằng nhiều tên: vô lậu, chân thật, bờ bên kia, an tịnh, bất tử, vi diệu, an lành, an ổn, sự đoạn tận ái, ly tham, thanh tịnh, giải thoát, hòn đảo (SN 43.14–43). Không ai gọi hư vô là bờ bên kia, là hòn đảo, là chỗ an ổn.

Pháp Cú tóm lại bằng một câu quen thuộc:

Không bệnh, lợi tối thượng,
Biết đủ, tiền tối thượng.
Thành tín đối với nhau,
Là bà con tối thượng,
Niết-bàn, lạc tối thượng.

Pháp Cú, kệ 204

Ngọn lửa tắt đi về hướng nào

Du sĩ Vacchagotta hỏi Đức Phật: vị Tỷ-kheo có tâm giải thoát như vậy thì tái sinh ở đâu? Đức Phật đáp: nói “tái sinh” không đúng, nói “không tái sinh” cũng không đúng, nói “vừa tái sinh vừa không” hay “không phải cả hai” đều không đúng (MN 72, đoạn 16.1–16.8). Vacchagotta bối rối. Đức Phật hỏi lại: nếu một ngọn lửa đang cháy trước mặt ông tắt đi, và có người hỏi ngọn lửa ấy đã đi về hướng nào, đông, nam, tây hay bắc, ông trả lời sao? Vacchagotta đáp: câu hỏi ấy không áp dụng được; lửa cháy nhờ cỏ và củi, khi cỏ củi hết mà không được thêm vào, lửa được gọi là đã tắt vì hết nhiên liệu (đoạn 19.1–19.18).

Rồi Đức Phật nói: sắc, thọ, tưởng, hành, thức mà người ta có thể dùng để mô tả Như Lai đều đã được đoạn trừ tận gốc; Như Lai đã thoát khỏi sự đo lường bằng các uẩn ấy, “sâu thẳm, không thể đo lường, khó dò tới đáy, như biển lớn” (đoạn 20.1–20.20). Hình ảnh cuối cùng không phải một khoảng trống, mà là đại dương.

Tỷ-kheo Yamaka và đoạn kiến

Tương Ưng Bộ 22.85 kể Tỷ-kheo Yamaka cho rằng vị A-la-hán khi thân hoại thì bị đoạn diệt, tiêu mất, sau khi chết không còn nữa (SN 22.85, đoạn 1.3). Các vị Tỷ-kheo khác khuyên vị ấy đừng nói vậy, vì nói vậy là xuyên tạc Đức Thế Tôn (đoạn 4.1). Ngài Xá-lợi-phất đến hỏi Yamaka từng bước: sắc có phải là Như Lai không, Như Lai ở trong sắc hay ở ngoài sắc… và chỉ ra rằng ngay trong đời này Yamaka cũng không tìm được Như Lai như một thực thể; vậy nói “Như Lai chết là bị hủy diệt” có hợp lý không (đoạn 8.1–11.5)? Yamaka bỏ tà kiến ấy (đoạn 12.1–12.2) và trả lời lại: sắc là vô thường, cái gì vô thường là khổ, cái gì khổ thì đã diệt, đã lặn mất; thọ, tưởng, hành, thức cũng vậy (đoạn 13.7–13.15). Cái chấm dứt là khổ, không phải một “ai” bị xóa đi.

Một chút mát mẻ ngay bây giờ

Thử hình dung một người mang nỗi hờn giận với anh trai suốt mấy năm. Một hôm hai anh em ngồi lại, chị nói được lời xin lỗi, và thấy lòng nhẹ hẳn. Cơn nóng ấy tắt. Chị không mất đi chút nào; chị chỉ bớt khổ. Đó chưa phải Niết-bàn, nhưng chỉ đúng hướng đi: mỗi lần tham, sân, si tắt đi một phần, ta mát hơn, chứ không trống rỗng hơn. Kinh Lửa Cháy dạy rằng chính tham, sân, si là ngọn lửa đang đốt mọi giác quan (SN 35.28); dập tắt ngọn lửa ấy là được mát mẻ.

Một gợi ý nhỏ

Tối nay, trước khi ngủ, bạn thử nhớ lại một lúc trong ngày khi một cơn bực tức tự lắng xuống. Ghi nhận cảm giác mát nhẹ ấy, và tự nhủ: đây là hướng đi của con đường.

Viết bởi Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Tự Thuyết 8.1 và 8.3, Kinh về Niết-bàn (Nibbānapaṭisaṁyutta Sutta), Ud 8.1 trên SuttaCentral; Ud 8.3 trên SuttaCentral.
  2. Tương Ưng Bộ 43.1, Kinh Niệm Thân (Kāyagatāsati Sutta), SN 43.1 trên SuttaCentral; Tương Ưng Bộ 43.14–43, SN 43.14–43 trên SuttaCentral.
  3. Tương Ưng Bộ 38.1, Kinh Niết-bàn, SN 38.1 trên SuttaCentral.
  4. Trung Bộ 72, Kinh Vacchagotta về Lửa (Aggivacchagotta Sutta), MN 72 trên SuttaCentral.
  5. Tương Ưng Bộ 22.85, Kinh Yamaka, SN 22.85 trên SuttaCentral.
  6. Kinh Tập 2.1, Kinh Châu Báu, Snp 2.1 trên SuttaCentral; Pháp Cú, kệ 204, Dhp 197–208 trên SuttaCentral.
  7. Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral; các bài thuộc Tiểu Bộ theo bản trên BuddhaSasana, budsas.org), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  8. Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.

Tích truyện của bài kệ

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói bài kệ, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), không phải lời kinh gốc.

Đọc nguyên văn bài kinh