Phật giáo là tôn giáo hay triết học
Có người gọi đạo Phật là tôn giáo, có người gọi là triết học, có người gọi là khoa học về tâm. Mỗi cách gọi thấy đúng một phần. Kinh Pāli cho ta một cách gọi khác, do chính Đức Phật dùng: một con đường.
Hai cái nhãn, một con đường
Có người nói đạo Phật là một tôn giáo, vì có chùa, có lễ, có người xuất gia. Có người nói đó là một triết học, vì không bắt ai tin vào đấng sáng tạo. Cả hai đều thấy đúng một phần. Nhưng trong kinh Pāli, Đức Phật không dùng chữ nào trong hai chữ ấy. Ngài gọi điều Ngài dạy là Pháp (Dhamma), và gọi cách thực hành là con đường, cụ thể là Bát chánh đạo.
Không phải lý luận để thỏa trí tò mò
Trung Bộ 63 kể Tôn giả Man-đồng-tử (Māluṅkyaputta) một hôm ngồi một mình và thấy bực bội: Đức Phật không chịu trả lời những câu hỏi lớn, như thế gian thường còn hay không thường còn, có biên giới hay không, linh hồn với thân là một hay khác, Như Lai sau khi chết còn hay không còn. Vị ấy định bụng: nếu Thế Tôn không trả lời, tôi sẽ hoàn tục (MN 63, đoạn 2.1–2.14). Đức Phật đáp bằng một ví dụ:
Này Malunkyaputta, ví như một người bị mũi tên bắn, mũi tên được tẩm thuốc độc rất dày. Bạn bè và bà con huyết thống của người ấy mời một vị y sĩ khoa mổ xẻ đến săn sóc. Nhưng người ấy lại nói: “Tôi sẽ không rút mũi tên này ra khi nào tôi chưa biết được người đã bắn tôi thuộc giòng hoàng tộc, hay Bà-la-môn, hay buôn bán, hay người làm công”.
Trung Bộ 63, đoạn 5.6–5.11 và 5.30
Rồi Ngài giải thích: những câu hỏi ấy không đem lại lợi ích, không thuộc căn bản của đời sống phạm hạnh, không đưa đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, giác ngộ, Niết-bàn. Điều Ngài đã nói là: đây là khổ, đây là nguồn gốc của khổ, đây là sự chấm dứt khổ, đây là con đường đưa đến chấm dứt khổ (đoạn 8.1–10.3). Tương Ưng Bộ 56.31 nói cùng ý ấy bằng nắm lá simsapā: điều Đức Phật biết nhiều như lá trong rừng, điều Ngài dạy chỉ như nắm lá trong tay, vì chỉ những điều ấy mới đưa đến giải thoát (SN 56.31, đoạn 1.8–2.2).
Không phải lòng tin mù quáng
Khi người Kālāma bối rối vì vị thầy nào đến làng cũng khen thuyết của mình, chê thuyết của người, Đức Phật không bảo họ hãy tin Ngài. Ngài nói:
Này các Kàlàmà, chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì lý luận suy diễn; chớ có tin vì diễn giải tương tự; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình. Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: “Các pháp này là bất thiện; Các pháp này là đáng chê; Các pháp này bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau”, thời này Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng! Các Ông nghĩ thế nào, này Kàlàmà!
Tăng Chi Bộ 3.65, đoạn 4.1–4.3
Ân đức của Pháp mà Phật tử tụng mỗi ngày có câu “đến để mà thấy” và “người trí tự mình chứng biết” (AN 6.10, đoạn 3.2). Đó là lời mời đến xem, đến thử, không phải lời đòi chấp nhận. Bài Sáu ân đức của Pháp giải thích kỹ từng chữ.
Nhưng vẫn có lòng tin và lễ bái
Nói vậy không có nghĩa đạo Phật chỉ là một phương pháp khô khan. Kinh nói rõ về lòng tin (saddhā). Tăng Chi Bộ 4.61 kể bốn điều giúp người tại gia đạt được những điều đáng ưa mà khó có ở đời, và điều đầu tiên là lòng tin: vị Thánh đệ tử tin vào sự giác ngộ của Như Lai (AN 4.61, đoạn 6.3 và 7.1–7.3). Người Phật tử quy y Phật, Pháp, Tăng (Tiểu Tụng 1), lạy Phật, tụng kinh, cúng dường chư Tăng.
Điều khác là đối tượng và tính chất của lòng tin ấy. Đó là lòng tin vào một bậc đã giác ngộ, không phải vào một đấng ban phước giáng họa (xem bài Đức Phật có phải là thần linh không). Và đó là lòng tin để bắt đầu bước đi, không phải để thay cho việc bước đi. Pháp Cú dạy: “Sạch hay nhơ là chuyện riêng mỗi người, không ai làm sạch thay người khác được” (Pháp Cú, kệ 165).
Chiếc bè để sang sông
Có lẽ hình ảnh rõ nhất là chiếc bè trong Kinh Ví Dụ Con Rắn. Một người gặp vùng nước lớn, bờ bên này đầy hiểm nguy, bờ bên kia an ổn, bèn kết bè mà sang. Sang rồi, người ấy không đội bè lên đầu đi tiếp, mà để bè lại. Đức Phật nói: “Ta đã giảng Pháp được ví như chiếc bè, để vượt qua chứ không phải để nắm giữ” (MN 22, đoạn 13.26). Chỉ bàn lý thuyết mà không chèo, hay chỉ giữ hình thức mà không chèo, thì bè vẫn nằm yên bên bờ. Kinh dạy: dùng bè để qua sông.
Thử hình dung hai người bạn ngồi cà phê, tranh luận hăng say xem đạo Phật thuộc loại nào. Tối ấy về nhà, một người vẫn nổi nóng với con như mọi khi. Người kia thử ngồi yên mười phút theo dõi hơi thở, và khi con làm vỡ cái ly, chị nhận ra cơn giận trước khi nó bật thành lời. Câu hỏi “tôn giáo hay triết học” chưa ngã ngũ, nhưng mũi tên đã được nhổ ra một chút.
Một gợi ý nhỏ
Lần tới khi có ai hỏi bạn đạo Phật là tôn giáo hay triết học, bạn có thể đáp: đó là một con đường. Rồi mời họ cùng thử một bước, chẳng hạn giữ trọn một giới trong một tuần, và tự mình xem kết quả.
Viết bởi Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Trung Bộ 63, Tiểu Kinh Māluṅkyaputta (Cūḷamālukya Sutta), MN 63 trên SuttaCentral.
- Tương Ưng Bộ 56.31, Kinh Rừng Simsapā, SN 56.31 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 3.65, Kinh Kālāma, AN 3.65 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 6.10, Kinh Mahānāma, AN 6.10 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 4.61, Kinh Việc Làm Xứng Đáng (Pattakamma Sutta), AN 4.61 trên SuttaCentral.
- Trung Bộ 22, Kinh Ví Dụ Con Rắn (Alagaddūpama Sutta), MN 22 trên SuttaCentral.
- Tiểu Tụng 1, Tam Quy, Khp 1 trên SuttaCentral; Pháp Cú, kệ 165, Dhp 157–166 trên SuttaCentral.
- Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.